GIỚI
THIỆU VÀ GIẢI THÍCH ĐỀ KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT
Thích
Thái Hòa
Niềm
Tin Và Sự Chuyển Hóa.
Niềm
tin là căn bản của thiện pháp, nên ở trong ba mươi bảy
phẩm trợ đạo của Đạo thánh đế, Tín căn và tín lực
là những pháp hành được nêu lên đầu tiên và chúng không
những chỉ quan trọng trong đời sống tín ngưỡng, đời sống
quan hệ xã hội, mà còn hết sức quan trọng trong đời sống
thực nghiệm tâm linh.
Nếu
một người sống không có niềm tin, người ấy không những
không biết tương lai của họ là gì, mà ngay cả trong đời
sống hiện tại sự quan hệ Tôn giáo, gia đình và xã hội
của họ cũng đều bị khuyết tật, và họ chẳng biết họ
hiện hữu để làm gì ngoài việc giành giựt miếng cơm, manh
áo và giành giựt một ít quyền lợi vụn vặt giữa xã hội
con người.
Không
có căn bản của đức tin, ta sẽ không liên kết được cuộc
sống của ta với mọi người, ta sẽ không liên kết được
giữa cái nầy với cái kia, giữa đời nầy với đời kia,
giữa thế giới nầy với thế giới kia, và ta sẽ không có
sinh lực của đời sống thánh thiện, và ta sẽ không thể
đi đến phương trời cao rộng của trí tuệ và hạnh nguyện
vô biên của tình yêu.
Luận
Đại Trí Độ nói: “Phật pháp mênh mông như biển cả, con
người có thể dùng niềm tin để đi vào.” Và Kinh Hoa Nghiêm
lại nhấn mạnh tầm quan trọng của niềm tin như sau: “Nếu
rời khỏi tín căn, tâm thấp kém, ưu tư và hối hận, công
hạnh không đầy đủ, thối mất sự tinh cần. Đối với
một ít thiện căn mà tâm đã sanh sự đình trú, đối với
một ít công đức mà đã tự cho là đủ, không thể thiện
xảo phát khởi hạnh nguyện của Bồ Tát,… (Hoa Nghiêm 60,
Đại Chính Tân Tu 9, tr 783c)”.
Nhưng,
niềm tin do đâu mà phát khởi? Niềm tin phát khởi do bốn
trường hợp.
1.
Do hiện kiến: Do nhìn thấy trực tiếp sự kiện mà phát khởi
niềm tin.
2.
Do chiêm nghiệm và suy nghiệm: Nghĩa là do dựa vào sự thực
của sự kiện này để chiêm nghiệm và suy nghiệm nhằm nhận
ra sự thực của sự kiện kia, từ đó mà niềm tin phát khởi.
3.
Do kinh nghiệm và thực nghiệm: Do kinh nghiệm từ cuộc sống
và từ sự thực nghiệm những lời dạy của Bậc Thánh mà
niềm tin phát khởi.
4.
Do dựa vào lời nói của Bậc Thánh: Có những vấn đề vượt
ra ngoài khả năng tư duy và sự quyết đoán của con người,
nên con người dựa vào lời nói của các Bậc Thánh để tin
tưởng và sống, do đó mà niềm tin phát khởi.
Như
vậy, niềm tin của một người đệ tử Phật dựa vào đâu
để phát khởi? Do nhìn thấy trực tiếp từ đời sống của
Đức Phật và trực tiếp nghe Ngài giáo hóa mà phát khởi
niềm tin đối với Phật Pháp Tăng và Thánh giới, như các
Thánh đệ tử hoặc như các Cư sĩ tại gia thời Phật; hoặc
do đọc tụng, học hỏi, chiêm nghiệm hay thực nghiệm lời
Phật dạy và hoặc do tin tưởng tuyệt đối vào lời dạy
của Đức Phật mà phát khởi niềm tin.
Ở
Kinh Kim Cang Bát Nhã, bản Hán dịch của Ngài Cưu Ma La Thập,
Đại Chính Tân Tu 8, tr 749ab, Đức Phật đã nói pháp thoại
cho Tôn giả Tu Bồ Đề và đã khẳng định sự liên hệ đến
đức tin như sau:
“Tôn
giả Tu Bồ Đề, bạch Đức Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn!
Có chúng sanh nào được nghe pháp thoại (Kim Cang Bát Nhã) như
thế nầy, mà sinh khởi đức tin đúng như thật không?
Đức
Phật dạy, đừng hỏi như thế, hỡi Tu Bồ Đề! Sau khi Như
Lai diệt độ, năm trăm năm sau, có những người tu tập phước
đức, trì giới, thì đối với pháp thoại Kim Cang Bát Nhã
nầy, tâm họ có khả năng sinh khởi đức tin và cho đó là
sự thực. Phải biết những người như vậy, thiện căn của
họ đã gieo trồng, không phải chỉ ở nơi một vị phật,
hai vị phật, ba, bốn, năm vị phật, mà thiện căn của họ
đã gieo trồng ở nơi vô lượng ngàn vạn Đức Phật.
Đối
với những người như vậy, khi nghe pháp thoại nầy, cho đến
chỉ trong một niệm sinh khởi niềm tin thanh tịnh, hỡi Tu
Bồ Đề! Như Lai thấy và biết rõ những người như vậy
đã đạt được vô lượng phước đức”.
Niềm
tin của người đệ tử Phật, hành trì theo truyền thống
của Kinh điển A Hàm và Nikàya là được thiết lập hoàn
toàn trên nền tảng của Tứ bất hoại tín hay còn gọi là
Tứ chứng tịnh. Ấy là tin Phật, tin Pháp, tin Tăng và tin
Thánh giới, đó là bốn niềm tin trong sáng, thuần tịnh và
không bị hủy hoại đối với người đệ tử Phật trong
bất cứ trường hợp nào. Với bốn niềm tin nầy, người
đệ tử Phật có thể đi vào dòng dõi của Bậc Thánh, sống
an vui trong từng giây phút hiện tại, do sự thấy pháp và
chứng nghiệm pháp đem lại. Nhưng, niềm tin của người đệ
tử Phật hành trì theo giáo nghĩa Đại Thừa không phải dừng
lại ở đó, mà họ còn tin tưởng họ và hết thảy chúng
sanh đều có khả năng thành phật qua sự phát khởi bồ đề
tâm, nuôi dưỡng và phát triển tâm ấy, bằng những hạnh
nguyện rộng lớn, qua sự thực hành Lục độ thường trực
trong đời sống hằng ngày, với sự có mặt của những chất
liệu vô ngã và vô trú một cách triệt để.
Niềm
tin ấy của người Phật tử Đại Thừa không bị giới hạn
bởi không gian, nên đối với bất cứ không gian nào cũng
có thể là không gian hành đạo của chính họ; niềm tin ấy
không bị giới hạn bởi sinh loại, nên bất cứ chủng loại
nào cũng đều là đối tượng để yêu thương, bảo hộ,
che chở và giúp họ thăng hoa; và niềm tin ấy không bị giới
hạn bởi thời gian, nên sự tu tập và hành đạo của họ
trong đời hiện tại, chỉ là sự tiếp diễn của bồ đề
tâm đã được phát khởi và gieo trồng trong quá khứ và sẽ
làm viên mãn hạnh nguyện, tựu thành quả vị giác ngộ hoàn
toàn trong tương lai, do đó bất cứ thời gian nào, cũng đều
là thời gian tu tập để đoạn trừ các lậu hoặc, tác thiện
và làm lợi ích cho hết thảy muôn loài của người đệ tử
Phật. Với niềm tin ấy, người đệ tử đã tự khẳng định
lấy chính mình rằng: “Họ đích thực là con của phật,
từ miệng phật sinh ra; từ chánh pháp hóa sanh và họ được
dự phần vào chánh pháp của Phật”. (Kim nhật nãi tri, chơn
thị phật tử, tùng phật khẩu sinh, tùng pháp hóa sinh, đắc
phật pháp phần. Phẩm Thí dụ, Kinh Pháp Hoa, Đại Chính Tân
Tu 9, tr 10c). Và họ tin tưởng rằng: “Họ đích thị là phật
tử, thọ và hành trì theo giới pháp của Phật, rồi họ sẽ
đi vào địa vị giác ngộ của chư Phật và sẽ đồng vị
với các Ngài”.(Phạm Võng Kinh, Đại Chính Tân Tu 24, tr 1004a).
Với niềm tin ấy, ta có thể đi vào niềm tin ở Kinh Kim Cang
Bát Nhã.
Niềm
tin từ sự lắng nghe:
Niềm
tin ở Kinh Kim Cang Bát Nhã, lại nhấn mạnh đến hai hạng
người là tu phước và trì giới, khi nghe Pháp thoại có nội
dung siêu việt mọi ý tưởng. Đối với người tu phước,
họ không phải chỉ mới phát bồ đề tâm làm thiện sự
một đời mà nhiều đời, họ không phải chỉ mới phát bồ
đề tâm phụng sự một Đức Phật mà đã trải qua ngàn muôn
ức Đức Phật và đối với người trì giới cũng vậy, họ
không những chỉ mới phát bồ đề tâm trì giới một đời
mà đã nhiều đời, họ không phải chỉ phát bồ đề tâm
để lãnh thọ giới pháp và thực hành giới pháp từ một
Đức Phật, mà đã trải qua từ vô lượng ngàn muôn ức Đức
Phật, họ đã từng nghe, và đọc tụng Kinh Kim Cang Bát Nhã
cũng như các Kinh điển Đại Thừa, nên dù đời nầy họ
có mặt trong thời kỳ Đức Phật Niết Bàn, sau năm trăm năm,
nhưng khi nghe Kinh Kim Cang Bát Nhã, họ vẫn có khả năng phát
khởi niềm tin thanh tịnh đúng như những gì mà Kinh trình
bày. Họ có khả năng tin tưởng đúng như thực về pháp chứng
của Đức Phật đã được trình bày ở trong Kinh nầy. Pháp
chứng ấy là Ngã Không và Pháp Không. Ngã không là pháp chứng
thường trực và tối thượng của các vị Thánh giả A La
Hán. Pháp không là pháp chứng thường trực của các vị Bồ
Tát Thượng Thừa.
Pháp
chứng ấy đối với hai hạng người tu phước và trì giới
kia, dù hiện tiền họ chưa chứng nghiệm, nhưng khi nghe pháp
thoại Kim Cang Bát Nhã, họ có khả năng tin tuởng một cách
chắc chắn rằng, họ sẽ chứng nghiệm pháp ấy trong tương
lai. Bởi vậy, Tôn giả Tu Bồ Đề đã bạch với Đức Thế
Tôn rằng: “Nếu lại có người nào được nghe Kinh Kim Cang
Bát Nhã nầy mà tâm tin tưởng thanh tịnh, sinh khởi tuệ giác
chân thực, thì phải biết rằng, người ấy thành đạt công
đức hiếm có số một.
Kính
bạch Thế Tôn, tuệ giác chân thực ấy không phải là tướng,
nên Như Lai nói là thực tướng.
Kính
bạch Thế Tôn, hôm nay con được nghe Kinh Kim Cang Bát Nhã như
thế nầy, tin tưởng, hiểu, tiếp nhận và hành trì không
phải là khó. Nhưng, nếu tương lai, năm trăm năm sau, nếu
có người nào được nghe Kinh nầy mà tin tưởng, hiểu, tiếp
nhận và hành trì, người ấy mới thật là người hiếm có
số một.
Tại
sao như vậy? Bởi vì người như vậy, thì không còn có ý
tưởng về ngã, nhân, chúng sanh và thọ giả. Và vì sao? Vì
cái ý tưởng về ngã, chính cái ấy không phải là ý tưởng;
những cái ý tưởng về con người, về chúng sanh, về thọ
giả, những cái ý tưởng ấy, chính không phải là những
ý tưởng.
Vì
sao? Vì siêu việt tất cả ý tưởng, nên gọi là Chư phật.
Đức
Phật dạy, nầy Tu Bồ Đề! Đúng như vậy, đúng như vậy,
nếu có người nào được nghe Kinh Kim Cang Bát Nhã nầy mà
không kinh ngạc, không sợ hãi, thì phải biết người ấy
là người hiếm có.
Hỡi
Tu Bồ Đề! Tại sao? Vì Như Lai nói Ba La Mật tối thượng
là không phải Ba La Mật tối thượng, nên mới gọi là Ba
La Mật tối thượng.” (Đại Chính Tân Tu 8, tr 750b).
Niềm
tin từ sự thuận hành:
Tin
mà chưa thuận hành theo niềm tin, là niềm tin chưa có nội
dung của sự thực nghiệm và chứng nghiệm, nên niềm tin ấy
chưa thể gọi là niềm tin vững chãi hay là niềm tin của
Kim Cang bất hoại.
Niềm
tin của Kim Cang bất hoại sinh khởi từ sự nghe, hiểu chánh
pháp và biến sự nghe hiểu ấy trở thành sự thực nghiệm
và chứng nghiệm trong cuộc sống hàng ngày. Như vậy, bảo
chứng cho niềm tin không còn là lý thuyết, luận thuyết hay
ngôn thuyết mà chính là sự thực nghiệm và chứng nghiệm
niềm tin ấy, ngay nơi cuộc sống con nguời.
Và
công đức do niềm tin thuận hành dẫn sinh là không thể nghĩ
bàn, không thể ước lượng, không có giới hạn đúng như
Đức Thế Tôn đã nói với Tôn Giả Tu Bồ Đề ở trong Kinh
Kim Cang Bát Nhã như sau:
“Hỡi
Tu Bồ Đề! Nếu có thiện nam hay thiện nữ nào, vào buổi
sáng đem thân mạng như số cát sông Hằng mà bố thí; buổi
trưa cũng đem thân mạng như số cát sông Hằng mà bố thí;
buổi chiều cũng lại đem thân mạng như số cát sông Hằng
mà bố thí, và sự bố thí thân mạng như vậy, trải qua cả
vô lượng trăm ngàn ức vạn kiếp, nhưng nếu có người nghe
Kinh Kim Cang Bát Nhã nầy, với tâm tin tưởng không trái nghịch,
thì phước đức của người nghe Kinh mà tâm tin tưởng ấy,
thắng vượt hẳn phước đức của người bố thí kia, huống
nữa là sao chép, thọ trì, đọc tụng, diễn giảng cho người
khác.
Hỡi
Tu Bồ Đề! Chủ yếu mà nói, công đức ở Kinh Kim Cang Bát
Nhã là vô biên, không thể nghĩ bàn, không thể đối chiếu,
ước lượng; Như Lai vì người phát khởi tâm Đại Thừa
mà nói, vì người phát khởi tâm Tối Thượng Thừa mà nói.
Nếu có người nào có khả năng tiếp nhận, ghi nhớ, tụng
đọc, vì mọi người mà giảng giải một cách rộng rãi,
thì Như Lai thấy và biết chắc chắn người ấy, đều đã
thành tựu công đức không thể đo lường, không thể đối
chiếu, không có giới hạn và không thể nghĩ bàn. Những người
như thế có thể gánh vác tuệ giác vô thượng của Như Lai”.
(Đại Chính Tân Tu 8, tr 750c).
Bố
thí, cúng dường và ngay cả trì giới, trải qua vô lượng
kiếp bằng niềm tin đơn thuần, thì hiệu quả rộng, sâu
và cao của niềm tin ấy, không thể so sánh với niềm tin được
gắn liền với tuệ giác hay gắn liền với Kim Cang Bát Nhã.
Bởi vì, Bát Nhã là tuệ giác, mà tuệ giác ấy vững chãi
và sắc bén như kim cang, nên khi niềm tin của một người
phát khởi được thu hút, nuôi dưỡng và đi theo hướng tuệ
giác hay được thiết lập trên nền tảng của tuệ giác nầy,
thì niềm tin ấy không còn là niềm tin mù quáng hay hữu hạn
mà là niềm tin của trí tuệ và vô hạn. Với niềm tin nầy
mà tiếp nhận, ghi nhớ, đọc tụng, sống và thuận hành theo
Kinh Kim Cang Bát Nhã mỗi ngày, thì hoa trái giác ngộ, hoa trái
giải thoát không phải là một ước mơ mà là một hiện thực,
một hiện thực được chuyển thành từ niềm tin.
Không
gian của niềm tin:
Không
gian của Kinh Kim Cang Bát Nhã là không gian không có không gian,
nên bất cứ không gian nào cũng có thể trở thành không gian
của Kim Cang Bát Nhã, nếu nơi đó có sự đọc tụng, diễn
giảng, sao chép hay tôn trí Kinh ấy, và không gian nào cũng
có thể thực hiện niềm tin Bát Nhã, bằng sự cung kính, lễ
bái,...
Bởi
vậy, Đức Phật đã dạy Tôn giả Tu Bồ Đề rằng: “Hỡi
Tu Bồ Đề, ở bất cứ nơi nào, nếu có bản Kinh Kim Cang
Bát Nhã nầy, thì ở nơi đó, tất cả chư thiên, loài người,
a tu la ở trong thế gian hãy đều nên cúng dường. Nên biết
chỗ ấy là bảo tháp, cần phải cung kính, lễ bái, đi nhiễu,
dùng các loại hoa hương mà tung rãi ở nơi không gian đó”.
(Đại Chính Tân Tu 8, tr 750c).
Tại
sao Đức Phật dạy, nơi nào có bản Kinh Kim Cang Bát Nhã là
nơi đó có bảo tháp? Nơi đó cần phải thể hiện niềm tin
bằng sự cung kính, lễ bái, đi nhiễu, tung rãi hoa và hương?
Tại bởi nội dung Kinh Kim Cang Bát Nhã chuyển tải pháp thân
của chư phật và thể tính chân thực của pháp giới. Pháp
thân và thể tính ấy có mặt cùng khắp mọi không gian, nên
đối với người có đức tin Kim Cang Bát Nhã, và giác ngộ
Kim Cang Bát Nhã, thì họ ngồi ở đâu, họ đứng ở đâu,
họ cư trú ở đâu, thì ở nơi những chỗ ấy đều là bảo
tháp, đều là thánh địa, đều là không gian Kim Cang Bát Nhã.
Và không gian ấy là không gian mà ta có thể cung kính, lễ
bái, đi nhiễu, tung rãi các thứ hoa hương mà cúng dường
ở nơi đó.Và pháp thân là thân cao tột trong các thân, pháp
tính là tính tối thượng trong các tính; thân ấy, tính ấy
là biểu thị cho bảo tháp, chứ không phải là bảo tháp theo
nghĩa kiến trúc vật lý. Và như vậy, nơi nào có sự thực
tập và chứng nghiệm Kim Cang Bát Nhã, thì nơi đó có sự
hiện khởi của bảo tháp và có sự thể hiện của người
có niềm tin đối với Kinh ấy.
Hiệu
năng của niềm tin:
Do
đọc tụng và hành trì Kinh Kim Cang Bát Nhã, ta có thể gặp
nhiều chướng duyên, như bị người khác phỉ báng, khinh thường,
nhưng không phải vì vậy mà ta không có phước đức. Trái
lại, nhờ niềm tin của ta đã được kiên định đối với
sự thọ trì đọc tụng Kinh nầy, nên niềm tin ấy có hiệu
năng tiêu diệt và chuyển hóa những ác nghiệp của ta từ
bao đời kiếp. Nghiệp báo ấy của ta, khiến ta đáng lẽ
trong tương lai, khi kết thúc sinh mệnh sẽ bị rơi vào địa
ngục nhận lấy khổ báo, nhưng nhờ niềm tin vào Kinh Kim Cang
Bát Nhã, và do thọ trì đọc tụng Kinh ấy, nên nghiệp nặng
chuyển thành nhẹ, quả báo nặng chuyển thành quả báo không
đáng kể, không những vậy mà còn có cơ hội sẽ thành tựu
đạo quả Vô Thượng Bồ Đề nữa, như trong Kinh, Đức Phật
nói với Tôn giả Tu Bồ Đề như sau:
“Lại
nữa, hỡi Tu Bồ Đề, nếu có bất cứ thiện nam hay thiện
nữ nào, thọ trì, đọc tụng Kinh Kim Cang Bát Nhã nầy mà
bị người khác khinh thường, hủy báng, thì phải biết tội
nghiệp của người ấy đời trước đáng lẽ phải sa đọa
vào ác đạo, nhưng nhờ do đời nầy bị người khác khinh
thường, hủy báng, nên tội nghiệp đời trước của vị
ấy tiêu diệt hết, khiến người ấy sẽ được tuệ giác
tối thượng”. (Đại Chính Tân Tu 8, tr 750c).
Việc
hủy báng người thọ trì, đọc tụng Kinh Kim Cang Bát Nhã
có hai hạng. Hạng người thứ nhất là hạng người đoạn
kiến, đối với hạng người nầy, không phải họ chỉ phỉ
báng nguời thọ trì đọc tụng Kinh Kim Cang Bát Nhã, mà thọ
trì, đọc tụng, bất cứ Kinh nào, họ cũng đều hủy báng.
Hạng thứ hai là hạng dị kiến, hạng không phải căn cơ,
đối với hạng người nầy thì Kinh Kim Cang Bát Nhã trình
bày giáo nghĩa không phù hợp sở kiến, sở học cũng như
căn cơ của họ, nên họ không những phỉ báng người thọ
trì, đọc tụng mà còn phỉ báng luôn cả Kinh.
Tuy
nhiên, dù có bị phỉ báng bằng bất cứ cách nào đi nữa,
thì chân lý được Đức Phật trình bày ở trong Kinh nầy
vẫn hiển nhiên như thị, và người thọ trì đọc tụng Kinh
nầy với niềm tin kiên định, bất hoại, thì không những
chuyển hóa được những nghiệp chủng tâm thức trong nhiều
đời của họ, từ nhiễm sang tịnh, từ những nhận thức
sai lầm về một bản ngã cố hữu, về con người, về chúng
sinh, về thọ mạng sang chánh trí và chánh giải thoát, mà
còn chuyển hóa được tất cả dư báo xấu trong quá khứ
cũng như hiện tại đều theo hướng Vô Thượng Bồ Đề.
Lục
Tổ Huệ Năng của Trung Hoa là một người không những có
thẩm quyền nghe và lãnh hội Kinh Kim Cang Bát Nhã, mà còn là
một người có thẩm quyền chứng ngộ chân lý được Đức
Phật trình bày từ Kinh ấy nữa, nên Ngài đã phát biểu hiệu
năng của niềm tin do sự thực hành Kinh Kim Cang Bát Nhã như
sau:
“Hỡi
Thiện tri thức! Muốn thâm nhập pháp giới và thiền định
tuệ giác, thì hãy nên tu tập Bát Nhã, bằng cách hành trì
đọc tụng Kinh Kim Cang Bát Nhã thì sẽ thấy được tự tánh.
Phải biết rằng, công đức của Kinh nầy là vô lượng, vô
biên. Trong Kinh nói hết sức rõ ràng, ở đây không thể trình
bày hết. Pháp môn nầy là Tối Thượng Thừa, vì các Bậc
đại trí mà nói; vì các Bậc thượng căn mà nói. Bậc tiểu
căn, tiểu trí, nếu nghe, tâm sanh bất tín”. (Pháp Bảo Đàn
Kinh, Đại Chính Tân Tu 48, tr 350c).
Như
vậy, đức tin phát khởi từ Kinh Kim Cang Bát Nhã là đức
tin của trí tuệ, đức tin ấy là đức tin có nội dung “Ngã
Pháp Nhị Không”, hay đức tin ấy là đức tin của “Thực
Tướng Vô Tướng”.
Bằng
đức tin nầy, ta sẽ tinh cần thực hành lục độ một cách
vô trú và vô tướng, chuyển hóa những vọng tưởng sai lầm
đối với tự thân, đối với con người, đối với chúng
sanh, đối với thọ mạng thành chánh trí và có khả năng
chuyển hóa Khổ đế thành Diệt đế, hay sinh tử thành Niết
Bàn, chứng nhập vô vi pháp thân, có khả năng sinh khởi tuệ
giác, biến tri một cách như thực đối với mọi sự hiện
hữu và không hiện hữu, rồi hưng khởi tình yêu vô biên,
sử dụng vô số phương tiện thiện xảo, dạo khắp mười
phương, rưới nước cam lồ, dập tắt mọi ưu não và khơi
mở tuệ giác cho hết thảy muôn loài.
T.T.H.