XUÂN
VẠN HẠNH
Hòa
thượng Thích Trí Thủ
Cứ
mổi lần Ðông qua, xuân đến, người ta lại viết về Xuân.
Tập quán thông lệ đó làm giảm giá trị phần nào của một
mùa Xuân, hiểu lầm phần nào tinh thần của một mùa Xuất
bất diệt.
Năm
nay Xuân đến giữa tiếng pháo chèn thêm tiếng súng, giữa
hân hoan gieo rắc tan thương oán thù và chia rẽ. Xuân trở
lại sau những chuỗi ngày buồn tủi dân tộc, của Phật giáo.
Một năm vừa qua, một trang sử đầy máu lệ vừa góp vào
quyển lịch sử dân tộc. Một năm vừa qua, trời Việt Nam
phủ đầu mây buồn hận, không biết năm nay có như năm trước,
năm trước nữa và những Xuân vị lai như thế nào.
Tuy
mỗi năm chứa đầy đau khổ, tuy mỗi ngày đều là những
đoạn ngắn của chuỗi đời bi đát, ý Xuân vẫn bất diệt.
Chính ý Xuân ấy là niềm tin tưởng, là một mối hy vọng
của toàn dân.
Ðể
đón mừng Xuân mới, chờ đợi một tia sáng trong chuỗi ngày
bi đát, không gì hơn đem những nét chính của những ngày
vừa qua để xem xét, để chiêm nghiệm.
Những
ngầy ấy bắt đầu từ miền Vạnh Hạnh, đến miền Liễu
Quán, xuống miền Quảng Ðức, rồi tràn lan tất cả.
Tại
sao những ngày đã bắt đầu, và những ngày ấy còn lại
với chúng ta cho đến ngày nào?
Ðạo
Phật đã dạy: Có hình tức có hoại, có thỉ lả có chung,
có động thì có tĩnhy, có khởi niện nên có diệt niệm.
Nếu đạo Phật chỉ là một giáo lý suông, thì đạo Phật
không bao giờ là một đối tượng để người ngoài nhìn
ngó. Nếu đạo Phật chỉ khép mình trong những ngôi chùa,
những tu viện, chỉ là một thứ tiêu khiển cho những kẻ
mệt mỏi với đời, đạo Phật không thể nào sóng gió. Nhưng
khốn nỗi; đạo Phật đã đến nước Việt Nam, đã thấm
nhuần vào miếng đất, mảnh gạch, lá cây ngọn cỏ, thấm
nhuần vào tâm trí người Việt Nam, nên đạo Phật không thể
nào là một đối tượng vô tri bất động, mà phải thở,
phải nói, phải trình bày, phải đi, phải đứng. Chính những
cái "phải" này đã làm cho không khí bớt chất dưỡng khí,
kẻ tà nịnh thấy trái tay, kẻ ru ngủ phải bực mình, kẻ
đứng yên phải khó chịu, kẻ muốn kéo con người xuống
vực thẳm phải tức giận, để rồi chém giết, để rồi
vu khống đổ thừa.
Ai
có biết cho rằng lòng đất mẹ chứa đầy nguồn an ủi,
Ai có biết cho rằng lòng đất mẹ làm nát mục những bộ
xương khô để nuôi sống cỏ cây xanh tốt, và lòng đất
mẹ vẫn là lòng đất mẹ không hơn không kém, không kéo cho
mình, không vị mình. Lòng đất mẹ chỉ muốn mỗi một cây
cỏ có chỗ đứng dưới mặt trời. Thế nhưng mà có những
cỏ cây lại ưa dùng quyền lấn áp và do đó đã làm cho những
loại cây phải khổ sở chật vật.
Mục
đích của những ngày bắt đầu từ miền Vạn Hạnh vì những
lý do sau đây:
1)
Sự hòa hợp của muôn loài cây cỏ trên lòng đất mẹ.
2)
Không chấp nhận sự lấn áp của những cây lau, cây sậy.
3)
Muốn lòng đất mẹ ngày càng thấm nhuần hoa mầu.
4)
Muốn cho những loài cây mọc từ đất mẹ biết đùm bọc
lẫn nhau trước sức mạnh của thiên tai, bão táp.
Nhưng
rồi bão táp đã đến, một thứ bạo táp nhân tạo, Lòng
mẹ không oán hờn, vì ý Xuân bất diệt. Nhưng lòng mẹ quặn
đau vì cây cỏ không biết thương yêu nhau, cây cỏ đã dùng
tha-lực để tiêu diệt lẫn nhau.
Miền
Vạn Hạnh rồi miền Liễu Quán, rồi miền Quảng Ðức, rồi
lan dần tất cả..., Hoa mầu phì nhiêu bị sức nắng gay gắt
tàn phá, gây nhiều chán nản, hững hờ.
Bây
giờ thì cây cỏ đã trụi, chỉ còn những da, những thân
cây gầy tự quằn quại trước sức nóng thiêu đốt của
mình tạo ra.
Thế
rồi mùa Xuân lại trở về! Không biết mùa Xuân có dư sức
bồi dưỡng cho những mầm non tự lòng đất mọc lên được
không?
Là
những người con Phật, thấm nhuần tinh thần của một đạo
giáo, lấy từ bi làm gốc, lấy trí tuệ làm kim chỉ nam, không
hận thù, nhưng không thể nào hùa theo ma chướng. Ma chướng
từ trong lòng người, ma chướng từ ngoài kéo đến. Ma chướng
bàng trướng, nhưng người con Phật vẫn dửng dưng chờ đợi
một mùa Xuân Vạn Hạnh.
Nhìn
đức Phật Di Lặc đương ngự trị trên toà sen. Nụ cười
hiền hòa, tòa sen thanh tịnh, đem lại hy vọng cho người Phật
tử, cho dân lành vô tội của nước Việt Nam đau khổ.
Quì
trước đức Di Lặc, chúng ta nguyện cầu cho mọi cây cỏ
được sống dưới ánh mặt trời, biết đùm bọc và thương
yêu lẫn nhau, đủ trí sáng suốt để khỏi tiêu diệt nhau,
để cùng dắt nhau đi trên con đường rộng rãi thênh thang,
đầy hoa lá.
Nguyện
cầu Tam Bảo duy trì ý Xuân bất diệt.
(Trích
tạp chí nghiên cứu phát huy văn hóa Phật giáo và dân tộc
- Vạn Hạnh số đặc biệt về Thành đạo và xuân, 1966)