GIỚI
LUẬT
I.
ĐỊNH NGHĨA GIỚI LUẬT
GIỚI:
Nguyên tiếng Phạn là thi la (sila). Tàu dịch là Giới, có nghĩa
là phòng bị, răn cấm, câu thúc. Đức Phật chế giới luật
để người học đạo phòng ngừa tội lỗi, răn cấm hành
động trái pháp, kìm hãm dục vọng, và câu thúc đời sống
tư hữu của mình, hầu mong tiến dần đến quả vị giác
ngộ.
Giới
có nghĩa là phòng phi chỉ ác. Giới điều là những phương
tiện giúp Phật tử sống thanh tịnh cao cả, bằng cách ngăn
ngừa đoạn trừ những tâm niệm xấu xa, những hành động
bạo ngược. Giới cũng gọi là biệt biệt giải thoát. Vì
không phạm một điều ác, tất phá tan một hình ngục; làm
được một điều thiện, tất có ảnh hưởng tốt đẹp cho
phong hóa. Giới cũng vậy, nếu giữ trọn một giới nào, tức
là giải thoát được quả báo đọa đày bởi nghiệp lực
của giới ấy mà chúng ta đã phạm, đồng thời cũng hưởng
được quả báo phước nghiệp của giới ấy, do chúng ta đã
thọ trì. Thí dụ: Người không ăn trộm, tức không có kết
quả tù đày lao ngục, đồng thời được người đời khen
ngợi tán thán v.v... Ấy gọi là giới.
LUẬT:
Tiếng Phạn là ưu ba la xoa (upalaksa), Tàu dịch là Luật: kỷ
luật, pháp luật, luật lệ, nghĩa là những khuôn khổ, pháp
tắc, điều luật thống nhất của Phật giáo Phật tử không
có quyền phủ nhận, phải triệt để tuân hành. Nên nhớ
pháp luật này, không ai có quyền thêm bớt, dù các hàng đại
bồ tát cũng vậy; duy chỉ có đức Phật mới có quyền sáng
chế thiết lập mà thôi. Cho nên người nào đã phạm những
kỷ luật ấy, nhất là chính mình đã một phen bạch kiết
ma thọ lãnh, tức là phạm luật; và người xử tội, cũng
phải triệt để y cứ trên khuôn mẫu pháp luật, do đức
Phật đã thân hành chế ra, mà xử đoán trọng khinh. Thí dụ:
người nào đã phạm vào những luật lệ chung của nước
nhà, tức là phạm tội, và người mang trách nhiệm xử đoán
tội nhân, cần phải căn cứ trên quốc pháp để chuẩn định
nặng nhẹ. Ấy gọi là luật.
Trong
đạo Phật, nhất về luật tạng, chúng ta thấy rất phiền
toái và phức tạp, bởi có vô số danh tướng và thể thức
riêng biệt nhau như danh, chủng, tánh, tướng, khai giá, trì,
phạm v.v... Cũng bởi vì sự sai khác ấy, cho nên đồng làm
một việc, có người thì phạm, mà có kẻ thì gọi là trì.
Cắt
nghĩa một cách tóm tắt cho dễ hiểu: Giới luật tức là
những qui củ, khuôn khổ, phép tắc do đức Phật thuận theo
lý tánh chân thật mà kiến lập, để chế ngự và đối trị
nghiệp duyên của chúng sanh. Cho nên Phật tử cần phải triệt
để tuân hành, nếu lơ đểnh hay trái phạm, tức là phá hủy
lời dạy vô thượng của đức Phật, và không hướng thuận
về pháp tánh chơn như, nghĩa là tự dìm mình xuống đáy sâu
tội lỗi.
II.
PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH GIỚI LUẬT
Với
phần định nghĩa trên, chúng ta đã khái quát tinh thần thuần
túy giới luật, nhưng cách áp dụng giới luật trên đời
sống thực tại bằng phương tiện nào, thì chúng ta chưa thấy,
cho nên đoạn này cần phải chỉ thị. Chúng sanh rất có nhiều
chủng loại, trình độ khả năng cũng như niên lạp rất sai
khác nhau, nên đức Phật kiến lập và truyền thọ giới luật
cũng có nhiều tầng bậc. Tuy nhiên, lượng có sai khác, nhưng
phẩm vẫn đồng nhất. Vì đồng nhất nên không ngoài bốn
câu kệ sau đây:
a/
Chư ác mạc tác tránh xa tất cả những hành động tàn ác
bạo ngược.
Giới
luật cũng như hàng rào ngăn ngừa những điều phi pháp và
đoạn trừ những cử chỉ bất lương. Cho nên một người
nào không hành động hại mình hại người, ở hiện tại
và tương lai, chính là người tuân hành giới luật. Đây là
đứng về phương diện chỉ trì, giới tự lợi của hàng
Tiểu thừa Thanh văn.
b/
Chúng thiện phụng hành triệt để thực hành tất cả những
điều thiện.
Muốn
hoàn thành tinh thần giới luật, không những chỉ chuyên trọng
đoạn ác mà cần phải làm điều thiện. Tránh ác đã là
một việc đáng quý nhưng làm thiện lại càng hi hữu hơn.
Vì đấy là cử chỉ xả kỷ vị tha, là những bước hướng
mạnh đến chân lý. Thọ trì giới luật tức là phụng sự
điều thiện; một người chú trọng và tôn thờ điều thiện,
tức là vâng giữ giới luật. Đây là đứng trên quan điểm
tác trì của hàng Đại thừa Bồ tát.
c/
Tự tịnh kỳ ý chỉ trì và tác trì thiên trọng về nơi thân
nghiệp, câu này mới thật căn cứ trên tác tư của ý nghiệp.
Nếu
thực hành đúng hai phương diện chỉ, tác mà ý nghiệp chưa
thanh tịnh, nghĩa là còn cấu đục bởi vô minh ích kỷ, tất
nhiên không phải thuần thiện. Trạng thái này có thể quan
sát trên hành động của kẻ đi câu thì sẽ thấy rõ. Cho
nên đánh giá một hành vi nào, muốn khỏi sai lầm, cần phải
xét đoán trên tâm niệm, nhất là kết quả của hành vi ấy,
và người nào ý niệm thuần lương, tức là thanh tịnh giới
thể.
d/
Thị chư Phật giáo.
Không
làm điều ác, phụng sự điều thiện, và ý niệm thuần khiết,
là lời dạy bất di bất dịch của mười phương ba đời
các đức Phật. Đây là một câu kết thúc, khuyến chúng sanh
phải triệt để thực hành theo tinh thần và ý nghĩa của
ba phương tiện trên. Nói một cách khác tức là đức Phật
sách tấn chúng ta phải tôn trọng và tuân hành giới luật.
III.
SỰ QUAN HỆ CỦA GIỚI LUẬT .
Giới
luật học là môn học trong ba tạng giáo điển của đức
Phật, cho nên giới luật là một vấn đề quan hệ, Phật
tử không thể nào bỏ qua.
Kinh
có câu: “Giới tức là hạnh của Phật“. Cho nên nếu người
nào không giữ giới mà mong giải thoát, thời cũng đồng như
người tìm sự thật trong mộng tưởng.
Sự
tu hành cũng như cuộc khởi đi của kẻ lữ khách, muốn đến
đích cần phải cụ bị lương thực, và tinh tấn tiến bước.
Thiếu cần mẫn và tư lương tức không thể phát hành và
đến đích. Và Tư lương của kẻ tu hành là Giới, Định,
Huệ.
GIỚI:
Như trên đã cắt nghĩa, giới là phòng phi chỉ ác, nghĩa là
năng lực ngăn ngừa điều trái và đoạn phục các hành động
bất thiện. Một người muốn thở không khí trong sạch giải
thoát, cần phải thận trong và tu trì giới pháp. Giới là
cơ sở duy nhất của Định và Huệ; thiếu giới, định, huệ
không thành; cũng như không có đất, dinh thự và lâu đài
phải sụp đổ. Định và huệ của phàm phu ngoại đạo, sở
dĩ chênh lệch và sai khác với định và huệ của Phật giáo
cũng do điểm này.
ĐỊNH:
Trừng tịnh tâm duyên, sản phẩm trung thành của giới. Do
giới chỉ trì nên thân, khẩu nghiệp không làm điều phi pháp,
đồng thời ý nghiệp được thanh tịnh, không còn tâm tư
xao xuyến khi nhập thiền định. Tự nhiên hành động của
thân, miệng, ý xứng hợp với luật nghi, gọi là định cộng
giới. Chúng ta nên nhớ, chỉ có định lực mới đủ khả
năng kềm hãm vọng tâm và làm cho chơn tâm hiển hiện, nhưng
lực sở dĩ thành tựu là do giới làm căn bản.
HUỆ:
Năng lực minh mẫn chiếu liễu của trí. Huệ là phản ảnh
của định. Có Định, Huệ mới phát sanh; ví như nước có
đứng trong mặt trăng mới tỏ hiện. Nhờ ánh sáng trí huệ
soi đường, sự tu hành khỏi lạc vào ma đạo. Cũng như muốn
đi trúng đích, kẻ bộ hành phải có nhãn quan tinh diệu. Nên
nhớ: có trì giới, tu định, huệ mới phát sanh. Tam thừa
thánh nhân do tu vô lậu thiền định mà phát sanh vô lậu trí
huệ, tương ứng với vô lậu luật nghi. Giới thể phòng phi
chỉ ác cùng với trí huệ cộng sanh thì gọi là đạo cộng
giới.
Giới
Định Huệ là cơ quan nguyên yếu của đạo Niết bàn An tịnh.
IV.
HIỆU LỰC VÀ ÍCH LỢI CỦA GIỚI LUẬT.
Chúng
ta đã nhận thấy phương pháp thực hành và sự quan hệ của
giới luật, nhưng chưa thấy sự hiệu lực và ích lợi của
giới luật.
Như
chiếc xe hỏa, nếu bánh xe không ăn khớp với lề đường
thời không thể chạy được và xe sẽ trúc đổ. Hiệu lực
của giới luật đối với sự tu hành cũng vậy. Nếu vượt
ngoài qui củ giới luật tất nhiên không thể tăng tấn trên
đường giải thoát, nếu không phải là tăng thượng duyên
của sự đọa lạc. Trì giới đã khó khăn, tất nhiên kết
quả cũng vĩ đại, nhưng không ngoài ba quan điểm sau đây:
a/
Đối với quá khứ: Một nhà bác học chuyên cần nghiên cứu
thí nghiệm, lẽ dĩ nhiên phát minh, sáng tạo được nhiều
nguyên lý và ứng dụng tinh xảo. Sự ngờ vực ngu dốt lúc
thiếu thời do đó mà tiêu tan. Cũng vậy, người tu trì giới
luật nhờ năng lực trì giới, có thể chuyển nghiệp bất
thiện ở quá khứ, và ảnh hưởng trực tiếp đến sự hưởng
thọ đầy đủ hiện tại.
b/
Đối với hiện tại: Quả báo hiện tại là phản ảnh trung
thành của nghiệp nhân quá khứ. Một khi chuyển được nghiệp
quá khứ, quả báo hiện tại phải thanh tịnh an lành. Lại
hiện tại đã tu trì giới luật, nghĩa là làm tất cả điều
thiện, diệt trừ điều ác, thời lòng được sảng khoái
vui tươi, và những nỗi niềm hồi hộp lo sợ không còn nữa.
Giải thoát triền phược, diệt tận dục vọng mê mờ là
phương châm cao đẹp của người trì giới. Không phạm hình
luật, lương tâm không ăn năn hối hận. Đấy chính là hiệu
quả của người thọ trì giới luật .
c/
Đối với vị lai: Nhà nghệ sĩ chuyên môn rèn luyện nghệ
thuật, người học trò siêng năng trau dồi học và hạnh,
tương lai phải rực rỡ, kết quả sẽ phải tốt đẹp. Người
trì giới thanh tịnh, nghĩa là chuyên trọng huân tập vô lậu
chủng tử, dĩ nhiên kết quả vị lai phải trong sáng ngát
hương. Đấy là định luật nhân quả, một sự thật tuyệt
đối, không ai có quyên phủ nhận.
Một
bằng chứng rõ ràng nữa, là nhờ có nền giới luật thiết
thực và rộng rãi, Phật giáo không bị hoen ố bởi sự chi
phối của thời gian, bao giờ cũng giữ màu sắc thuần túy
đạo Phật. Vì sống trong qui củ giới luật, bất cứ thời
đại nào, phương sở nào, dưới một hình thức nào Phật
tử cũng có thể nhịp nhàng, dung hòa và chung sống với nhau
như hòa hợp một bản đàn kỳ diệu. Bởi hiệu quả và ích
lợi như trên, cho nên Phật tử cần phải lãnh thọ và tu
trì giới luật.
V.
CÁCH TRUYỀN THỌ GIỚI LUẬT.
Vì
giới luật có quan hệ mật thiết với sự tu hành giải thoát
nên đức Phật sau khi thành đạo mười hai năm, đã kiến
lập và chế ra giới luật. Cho nên Phật tử, nghĩa là người
tiếp tục thi hành sứ mệnh vị tha, nhất là hạng xuất gia,
cần phải truyền thọ giới luật. Nhưng tuyền thọ bằng
cách nào?
Muốn
truyền giới cho người khác, tất nhiên mình phải thanh tịnh
đầy đủ giới đức, và ít nhất người truyền giới cần
phải hơn người được truyền một bậc, kể cả giới pháp
và đức hạnh. Thí dụ, bậc tỳ kheo mới có quyền trao năm
giới hay mười giới cho một hay nhiều người khác. Nếàu
không thì tất nhiên sự truyền giới không hợp pháp và giới
thể không thành tựu. Cũng vì điều này nên hàng tại gia
cư sĩ không được truyền thọ giới pháp cho ai.
Còn
người thọ giới trước tiên phải tinh thành sám hối, tẩy
trừ nghiệp chướng. Khi thân tâm đã rỗng không, sạch các
túc chướng phiền não, mới được thọ giới. Đây cũng như
muốn nhuộm áo, cần phải giặt sạch trước khi nhuộm. Cần
nhất phải hợp xứ, hợp thời, và đầy đủ mọi điều
kiện, giới thể mối được thành tựu. Phải trao thọ giới
pháp trước ngôi Tam bảo, vì thọ giới chính là vâng theo
lời dạy của ngôi Tam bảo và cũng để cầu khải hộ trì
của Tam bảo.
Chúng
ta lại cần phải biết rằng: thọ giới là một cử chỉ
tùy nguyện, do thân tâm chân thành phát ra chớ không phải
một sự miễn cưỡng ép buộc; cũng như người muôn qua sông,
cần phải vin vào dây nổi, đấy là một lẽ tự nhiên, chứ
không ai có quyền áp chế bắt buộc. Vậy nên sau khi thọ
giới, chúng ta cần phải triệt để tuân hành, dù có phương
hại đến tánh mạng cũng vậy. Vả lại giới luật chính
đức Phật y cứ nơi tự tâm thanh tịnh của chúng sanh mà
kiến lập. Thọ giới chính là vâng theo những đức tánh thuần
lương mỹ diệu của tự tâm, như thế có gì là ép buộc
miễn cưỡng? Cũng như muốn bảo tồn cơ thể tất nhiên đói
phải ăn, khát phải uống. Sự thọ trì giới luật cũng như
thế mà thôi.
Bởi
thế cho nên muốn khỏi thối đọa duy trì tự tâm,kiến lập
một cơ đồ giải thoát giác ngộ, Phật tử chúng ta cần
phải triệt để tuân hành giới luật. Vô thượng thay đức
Phật, người đã sáng lập giới luật; cao quý thay người
đã sưu tầm, kiết tập và truyền bá giới luật. Đáng thán
phục và đáng tôn trọng thay người đã phát nguyện vâng
giữ giới luật.
GIỚI
LUẬT (Bài 2)
I.
YẾU ĐIỂM GIỚI LUẬT
Bài
trước đã nói đại cương sự quan hệ của giới luật, ở
đây nói rõ thêm và phân biệt ranh giới giữa đại thừa
luật và tiểu thừa luật.
Giới
luật là một trong ba tạng giáo điển của Phật đà. Hai tạng
Kinh và Luận có xen sự nghị luận của các Bồ tát và các
đệ tử Phật v.v... Về luật thì nhất định chỉ có đức
Phật mới chế định mà thôi. Đức Phật căn cứ vào nhất
thế chủng trí, như sự thật mà thuyết minh giới luật cốt
xứng hợp hành vi của hàng đệ tử với thường trú chơn
tâm cứu cánh chơn thật của muôn loài vạn vật. Muốn thấy
sự thật của muôn loài vạn vật như Phật, phải nghiêm trì
giới luật; muốn đạt được chơn hạnh phúc hoàn toàn của
nhơn sinh, tức là cảnh giới Phật Đà, cũng phải nghiêm trì
giới luật. Đức Phật dạy: “Thọ Phật giới tức nhập
chư Phật vị”, “Giới luật là đại sư của các ngươi,
cũng như ta còn tại thế”“Giới luật còn là đạo ta còn”.
Người không nghiêm trì giới luật là người phản bội đức
Phật, đi ngược cảnh giới giải thoát là cảnh giới thường
trú chơn tâm, không thể thấy sự thật và hưởng hạnh phúc
chơn chính. Người thọ trì giới luật, không những không
phạm đến các điều ngăn cấm của Phật đã chế ra, mà
hành vi hàng ngày càng xứng hợp với oai nghi khuôn mẫu. Oai
nghi là những hành vi như đi đứng nằm ngồi v.v.... đúng
theo một khuôn mẫu, qui tắc đã định. Đại thừa hay tiểu
thừa luật đều y vào bốn yếu điểm sau:
1.
TÁC: Nghĩa là tạo tác. Những người chưa thọ trì giới
pháp, nay y theo pháp tắc oai nghi, làm lễ thọ giới. Nếu xét
lại từ trước đến giờ, ví lầm lạc đã tạo ra nhiều
điều phi pháp, cũng y theo qui tắc luật chế mà sám hối;
về sau nếu còn vô tình phạm đến các giới điều đã cấm,
thì cũng y theo phương pháp mà sám hối lại.
2.
CHỈ: Nhĩa là ngăn dứt. Đối với những hành vi bất
thiện như ngũ nghịch, thập ác ... quyết ngăn dứt mà không
làm. Một nghĩa nữa nếu giữ gìn giới luật tinh tấn thì
vô minh vọng tưởng sẽ ngăn dứt mà không phát sanh lại được
nữa.
3.
TRÌ: Có hai nghĩa: a) Trì xả, nghĩa là đối với những
điều ác, quyết bỏ hẳn, không bao giờ làm lại, dù có hại
đến tánh mạng. b) Trì thủ, nghĩa là đối với việc thiện
quyết giữ gìn làm theo không để bỏ qua, dù là một việc
thiện rất nhỏ.
4.
PHẠM: Nghĩa là những hành vi không hợp pháp, trái với
điều đã ngăn cấm; điều này mới là quan hệ. Người cầm
cân giới luật cần phải sáng suốt, thông hiểu tất cả
ngững tâm lý hành vi của hành giả. Căn cứ vào giới luật
Đại thừa hay Tiểu thừa mà ấn định có phạm luật hay
không. Lại còn phải căn cứ vào tâm niệm (nhất là tâm niệm)
vào thời gian và nghiệp cảnh ([1]) là thế nào mới có thể
định đoạt là phạm hay không phạm. Ví dụ về giới sát
sanh: Giết một con vật, đối với Thanh văn tiểu thừa là
phạm nhẹ, đối với Đại thừa bồ tát thì phạm giới nặng,
vì làm mất căn bản Từ bi tâm. Còn phải căn cứ vào tâm
niệm cố ý lầm lạc, khi khởi tâm giết hại mạnh hay yếu,
trong thời gian khởi tâm giết hại, đến khi với sau khi giết,
trong khoảng thời gian ấy, trực tiếp hay gián tiếp, hối
hận hay không hối hận, ác niệm tăng hay giảm, và nghiệp
cảnh giết hại có thích hợpvới lòng ưa muốn không. (Như
móng tâm muốn giết con bò mà khi giết lại giết lầm con
trâu v.v...). Từ khi móng tâm, trải qua thời gian đến nghiệp
cảnh kết quả, một tâm niệm không thay đổi là tội nặng
nhất. Nếu trong đó, móng tâm thì hăng hái hoặc vì một thiện
niệm đến khi làm và sau khi làm thì hối hận hoặc gián tiếp,
hoặc làm việc không kết quả như ý muốn, thiø phạm tội
nhẹ. Tùy theo những cảnh huống ấy mà định đoạt phạm
hay không phạm, tội lỗi nhẹ hay nặng. Tội lỗi nặng nhẹ
có chia làm ba loại thượng, trung và hạ. Về Đại thừa thì
chú trọng nhất về tâm niệm. Bốn điểm yếu trên này làm
khuôn khổ cho tất cả giới luật, dù Đại thừa hay Tiểu
thừa cũng vậy.
II.
NĂM THỪA LUẬT.
Giáo
pháp của Phật dạy có chia ra năm thừa sai biệt khác nhau,
giới luật cũng y theo đó mà có năm thừa.
Năm
thừa luật là Nhơn thừa luật, Thiên thừa luật, Thanh văn
thừa luật, Duyên giác thừa luật và Bồ tát thừa luật.
Nhơn thừa luật là năm giới của Ưu bà tắc, ưu bà di. Thiên
thừa luật là mười thiện giới. Hai hạng trên này gồm cả
tại gia và xuất gia (Bát quan trai giới cũng nhiếp ở trong
này). Thanh văn thừa luật và Duyên giác thừa luật chỉ đặc
biệt riêng cho hàng xuất gia, gồm có bốn chúng Sa di (con trai),
Sa di ni (con gái), có mười giới; Tỷ kheo(đàn ông) có hai
250 giới, Tỷ kheo ni (đàn bà) có 350 giới; có luật tăng đến
500 giới. Duyên giác thừa luật gồm ở trong Thanh văn chứ
không có luật riêng. Bồ tát thừa luật gồm cả tại gia
và xuất gia, phổ thông đều theo giới kinh Phạm võng, có
tất cả 58 giới, chia ra 10 giới nặng và 48 giới khinh.
Năm
thừa luật trên đây, tùy theo căn cơ trình độ, hoàn cảnh
mà lãnh thọ, trong đó chia ra có đại thừa và tiểu thừa
sai khác nhau. Như bốn thừa trước thuộc về tiểu thừa luật,
một thừa sau tức bồ tát thừa là thuộc về đại thừa
luật.
III.
NHẤT THỪA LUẬT.
Nhất
thừa luật, không phải ngoài năm thừa luật trước mà có,
tức là chỉ cho Đại thừa bồ tát. Đây cũng căn cứ vào
giới kinh Phạm võng, 10 điều trọng và 48 điều khinh làm
căn bản. Như người tùy theo hoàn cảnh, muốn làm khuôn mẫu
đạo đức về nhơn đạo, chỉ thọ trì năm giới tại gia,
nhưng thâm tâm muốn phát bồ đề tâm, hồi hướng về quả
vô thượng bồ đề, nên dù ở hoàn cảnh triền phược gia
đình, có thể thọ trì thêm giới bồ tát luật gọi là Ưu
bà tắc bồ tát hay Ưu bà di bồ tát. Còn hàng xuất gia, chí
khí trượng phu, trang nghiêm nhơn tướng làm khuôn mẫu cho
muôn loài, cũng thọ giới bồ tát là hàng sa di bồ tát, sa
di ni bồ tát, tỷ kheo bồ tát, tỷ kheo ni bồ tát v.v... Cho
nên năm thừa luật cũng không ngoài nhất thừa luật mà có,
mà cuối cùng năm thừa luật đều qui nạp vào nhất thừa
luật cả. Nhất thừa luật mới thật là mục tiêu cứu cánh
về giới luật. Và cũng chính bản ý của Phật hiện thân
ở thế gian này. Muốn chỉ định hành vi của Nhất thừa
bồ tát luật (tức Đại thừa luật) cần phải căn cứ vào
ba phương diện sau này:
a)
Phương diện tiêu cực nghĩa là nghiêm trì tất cả giới luật
oai nghi một cách rốt ráo thanh tịnh, tuyệt hẳn bao nhiêu
lỗi lầm nhỏ nhiệm không có thể phạm được.
b)
Phương diện tích cực nghĩa là thâu nhiếp tất cả những
điều thiện mỹ thế gian, xuất thế gian, hữu lậu vô lậu,
để áp dụng vào hành vi đạo đức của mình. Hai phương
diện trên này thiên trọng về tự lợi.
c)
Phương diện cứu cánh lợi tha. Đến phương diện thứ ba
này mới thật hoàn toàn cứu cánh của người thọ trì giới
pháp đại thừa. Nghĩa là một hành vi gì, không cần kể đến
có lợi hay có hại cho mình, miễn hành vi ấy có lợi cho quần
chúng, một cách thiết thực về hiện tại cũng như về tương
lai, thì chơn chính đại thừa Phật tử triệt để thi hành
ngay, không do dự lùi bước. Chỉ có người phát đại bồ
đề tâm, mới thọ trì nhất thừa luật. Người ấy mới
xứng với hai chữ Phật tử.
LỜI
PHẬT:
Thọ
giới Phật dạy là được dự vào hàng chư Phật.
Giới
luật còn là đạo ta còn.
Giới
luật là vị đạo sư của các ngươi,
cũng
như ta còn tại thế, không có sai khác.
VIÊN
ÂM SỐ 89 - 90 TRANG 14 NĂM 1950
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 12-2004
Down
Load " Word Document" (WinZip File 320 KB)
(Hạ tải đem về nhà để xem sau hay in ra giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân