TAM
QUY
I.
ĐỊNH NGHĨA QUY Y TAM BẢO
A.
QUI Y
1/
QUI nghĩa là trở về. Người đi tha phương cầu thực nay trở
về với cố hương, kẻ lạc đường trong đêm tối, nhờ
có ánh sáng của trăng sao, liền quay lại con đường chơn
chánh. Tự tâm chúng ta sẵn có giác tánh tức là Phật tánh,
nhưng từ lâu đời bị vọng trần ngăn che, nay nhờ có ánh
sáng của giáo lý khai ngộ; theo ngoại đạo, bạn dữ, thầy
tà, nay ta trở về với đạo lý chơn chánh, với thầy sáng
suốt, bạn thuần lương.
2/
Y nghĩa là nương tựa, y cứ theo, như cây trầu nương tựa
và y cứ theo cây cau để sống và phát triển. Từ trước
đến nay ta y theo vọng cảnh vọng trần, y theo tà giáo mà
hành động thành thử bị luân chuyển trong đau khổ, nay nhờ
được người chỉ đường sáng suốt, chúng ta quyết y cứ
trên tự tánh thanh tịnh, tâm nương tựa những bậc dẫn đường,
những giáo lý chân chánh để sống mà hành động.
Trong
chữ qui y chúng ta nhận thấy có ba ý chính:
1)
Đem cả thân mạng để qui hướng.
2)
Qui thuận theo giáo pháp chơn chánh.
3)
Thâu nhiếp sáu căn, không dong ruổi theo sáu trần mà tu tập,
phản vọng qui chơn, để trở về với nhất tâm thanh tịnh
sẵn có của mình.
B.
QUI Y TAM BẢO
Qui
y Tam bảo là qui y Phật, Pháp, Tăng. Phật, pháp, tăng là ba
ngôi quí báu nhất trên đời nên gọi là Tam bảo.
1/
QUI Y PHẬT là trở về nương tựa trên tự tánh thanh
tịnh tâm (Phật tánh) của ta. Tất cả chúng sanh đều có
tánh giác rõ biết cùng khắp (giác tánh), tánh ấy tức là
Phật tự tâm. Kinh có câu “nhứt thiết chúng sanh cụ hữu
Như lai trí huệ đức tướng”chính là nghĩa nầy. Ngặt vì
chúng ta đã lâu đời bị vô minh ngăn che, giác tánh không
được hiển lộ, nên phải mê muội lăn lộn trong vòng chúng
sanh. Người nào thể nhận được tự tâm ấy tức gọi là
Phật. Mười phương ba đời các đức Như lai là những vị
đã giác ngộ tự tâm, đều xứng đáng dể ta qui y. Gần với
chúng ta hơn là đức Phật Thích ca Mâu ni, Ngài đã xa mọi
sự quyến luyến của dục tình để đi tìm nguồn đạo cao
cả, Ngài đã chiến thắng mọi phiền não bên trong, cũng như
bao cảnh tráo trở giả dối bên ngoài để chứng đến địa
vị cứu cánh thanh tịnh. Chúng ta nhận thấy Ngài là một
vị toàn giác, đủ khả năng đem ta đến chỗ giải thoát,
nghĩa là chứng ngộ được tự tâm. Vì những lẽ trên nên
ta trở về nương tựa với Phật. Aáy gọi là Qui Y Phật.
2/
QUI Y PHÁP nghĩa là trở về nương tựa trên thật tánh
của muôn pháp. Thật tánh tức là chỉ cho tự tánh như như
bình đẳng của sự vật. Mặc dù hiện tượng giữa đời
này có sanh diệt còn mất, nhưng thật tánh ấy vẫn không
biến dịch. Mây, mù, hơi, nước, tuy khác nhau nhưng không ngoài
tánh ướt. Từ trước đến nay vì mê mờ nên chúng ta không
thể nhận được thực tánh ấy, mà cứ đắm say theo vọng
trần giả cảnh của tâm thức biến hiện, rồi do đó mà
tạo nghiệp thọ quả luân hồi sanh tử trong ba cõi. Nay ta
nguyện trở về với thật tánh tức là qui y pháp. Tuy thế,
nhưng muốn thể hội được thật tánh cũng không phải tìm
đâu xa mà vẫn căn cứ trên cảnh giả hữu để thể nhận
thật tánh mà thôi.
Khi
nào ngộ được tánh chơn thường của sự vật tức là được
ngộ Phật pháp. Với căn tánh ám độn như chúng ta, nếu không
có giáo pháp chỉ bày thì khó nhận được tánh chơn thường
ấy lắm, cho nên ta phải qui y pháp, nghĩa là trở về nương
tựa ba tạng giáo điển của đức Phật đã dạy mà tu học,
mong đoạn trừ mê chướng, chứng ngộ thật tướng bình đẳng
của các pháp và thề không còn qui y theo một phương pháp
nào khác nữa.
3/
QUI Y TĂNG nghĩa là trở về nương tựa với vị thầy
giác ngộ chính đáng. Như trên chúng ta đã biết, tự tâm
thanh tịnh sẵn đủ trong tất cả chúng sanh, chỉ vì mê không
nhận thấy đó thôi. Nay ta đã biết trong tâm sẵn đủ giác
tánh, chính giác tánh ấy là một bực thầy chơn chính của
chúng ta, đủ đạo lực khai ngộ trí huệ cho ta, đem ta đến
chỗ giải thoát, cho nên không chi hơn bằng qui y với vị thầy
tự tâm ấy. Kinh có câu “Một niệm cùng khắp mười pháp
giới”, như thế thì mười phương chúng tăng cũng chính trong
tâm niệm của chúng ta nên ta qui y với mười phương chúng
tăng tức là qui y tự tâm chúng ta đó vậy. Chữ tăng đây
là chỉ cho mười phương chúng tăng.
Nói
một cách hẹp hơn thì gần chúng ta đây cũng có Hiện tiền
tăng. Tức là những đoàn thể tăng già học hạnh kiêm toàn.
Phật pháp là một giáo điển siêu việt, nếu không nhờ các
vị tinh thông chỉ bày thì ta làm sao thấu hiểu. Nên ta qui
y Tăng bảo, nghĩa là trở về nương tựa những đoàn thể
tăng già chân chính, để học đòi giáo điển, tinh tấn tu
hành, nếu ta muốn thể nhận được tự tánh thanh tịnh của
ta.
II.
VÌ SAO CẦN PHẢI QUI Y.
Phật
dạy: ‘Bồ tát sợ nhơn, chúng sanh sợ quả’ Nghĩa là bồ
tát bao giờ cũng sợ hãi hành vi nhân địa không chơn chánh,
chớ không sợ quả vị hưởng thọ có hay không; trái lại
chúng sanh nước đến trôn mới nhảy, một khi đụng đầu
đau khổ mới than van, chứ không kể gì gây nhơn bất thiện.
Ở
đời chỉ có hạng người mê mờ ích kỷ sống không có ngày
mai mới “nhắm mắt đưa chân”; ngoài ra ai lại không muốn
có một cuộc đời an ủi có ý nghĩa. Muốn thế mà không
được, suy nguyên chính chỉ vì muốn ăn quả mà không muốn
trồng cây. Mà đời đau khổ là do nguyên nhân mê lầm, vì
mê lầm nên phát sanh hành vi sai lại rồi sẽ chịu quả đau
thương. Nay muốn khỏi đau khổ phải cải tạo hành vi, phải
nương nhờ chỗ qui chí chơn chánh; chỗ qui chí chơn chánh
là Phật, Pháp, Tăng vậy.
Hơn
nữa, chúng ta qui y Tam bảo là vì ta nhận thấy tuy trong tâm
ta sẵn có tự tánh Tam bảo, nhưng vì đã lâu đời bị vô
minh ngăn che, mãi mãi dong ruổi theo cảnh trần giả hữu, gây
nên vô lượng nghiệp nhân, luôn luôn quay cuồng trong vòng
sanh tử. Chúng ta không khác một người mù lòa quờ quạng
trong đêm tối, nếu không nhờ có ánh sáng đèn hay người
dắt dẫn thì làm sao thoát khỏi được. Đức Phật đối
với ta là một người cầm đưốc trong đêm tối, là một
vị lương y có lòng từ bi không cùng tận! Chỉ có lòng từ
bi tuyệt vời ấy mới có thể an ủi chúng ta trong lúc lệ
nóng đang chan hòa với dòng sông và mới có thể ấp ủ được
những tâm hồn khắc khoải vì đau thương ... Nhưng lòng thương
ấy không phải phát sanh với một tâm hồn tiêu cực bi quan,
mà duyên khởi bởi một tấm lòng từ bi vô hạn. Vì thế
nên Ngài lại đem những phương thức chính đáng, những đạo
lý siêu phàm để dạy vẽ chỉ bày, làm cho ta thoát khổ được
vui. Những phương pháp ấy chính là ngọn hải đăng của kẻ
thủy thủ lạc đường vậy. Còn Tăng đồ là những đoàn
thể làm gương mẫu xứng đáng cho ta noi theo. Các ngài không
phải làm trung gian giữa thực thể và cá nhân, mà chỉ có
bổn phận dạy vẽ và làm kiểu mẫu cho ta trên đường giải
thoát mà thôi. Nói tóm lại, vì Tam bảo đủ điều kiện khả
năng làm cho ta thoát mê thành ngộ, lìa khổ được vui nên
ta nhất tâm qui y cung kính.
III.
QUI Y PHẢI THẾ NÀO ?
Có
người vì không hiểu nghĩa của qui y nên tin tưởng rằng:
Tam bảo là đấng thiêng liêng, đủ uy lực ban phước gieo
họa cho người đời, vì thế nên họ đến chùa qui y cầu
để tránh các tai biến hoạn nạn có thể sẽ xảy đến cho
gia đình hoặc bản thân họ.
Quan
niệm này sở dĩ mà có là vì chưa hiểu rõ chính nghĩa của
chữ qui y. Qui y chính là phương tiện đưa ta đến quả vị
giải thoát và nhất là để thể nhận tự tâm của chúng
ta. Với những người lầm lạc ấy, sự qui y cũng không phải
hoàn toàn vô ích; một khi đã đến nhà chùa, dù trong một
thời gian rất ngắn, nhưng nhờ thấm nhuần được mùi đạo
cũng có thể hoán cải người độc ác trở nên thuần lương
và chính nhờ sự kết duyên với Tam bảo mà chủng tử thiện
pháp ấy được gieo vào trong bát thức tâm điền, cho nên
ở một đời sau, khi đủ duyên thì chủng tử ấy sẽ phát
hiện ra và gặp được Tam bảo, tinh tiến tu hành.
Nếu
chúng ta muốn sự qui y có nhiều kết quả lợi ích thiết
thực ở hiện tại cũng như về tương lai thì ngay bây giờ
đây trong khi trở về với nguồn đạo cao cả, chúng ta hãy
tìm những vị tăng già gồm cả tu và học, vì chỉ có tăng
già mới đủ sức đảm nhiệm sứ mệnh của đức Như Lai
là hoằng pháp lợi sanh; nhất là phải chọn lựa những vị
hợp với căn cơ trình độ của mình để học hỏi theo những
giáo pháp của Phật đã dạy. Nhưng không phải học suông
mả đủ. Qui y suông thì cũng chẳng lợi ích gì như đọc
sách mà không hiểu. Cho nên trong sự qui y, chúng ta hãy đem
tâm niệm chí thành, quyết thực hành theo những phương pháp
của Phật dạy, thề không bao giờ qui y theo một tôn giáo
hay đạo lý khác nữa. Như thế cũng chưa hoàn toàn, chúng
ta hãy đem một tâm niệm vị tha bình đẳng, làm cho người
khác cũng được lợi ích như mình, bằng cách khuyên bảo
chỉ bày cho họ phát khởi chánh tín, nghĩa là cung kính và
qui y Tam bảo. Bởi vậy khi chúng ta làm lễ qui y, chúng ta có
phát ba lời tâm nguyện lớn:
1.
Đệ tử qui y Phật, nguyện đời đời kiếp kiếp không qui
y thiên thần quỉ vật.
2.
Đệ tử qui y Pháp, nguyện đời đời kiếp kiếp không qui
y ngoại đạo tà giáo.
3.
Đệ tử qui y Tăng, nguyện đời đời kiếp kiếp không qui
y tổn hữu ác đảng.
Có
thế mới mong rằng sự qui y của chúng ta có nhiều kết quả
tốt đẹp cho mình và cho người, ở hiện tại cũng như về
tương lai, và sự qui y ấy mới tránh khỏi cái tệ chỉ nói
suông mà không thực hành vậy.
IV.
KẾT LUẬN
Phật
giáo với đạo lý Tam Qui có đủ diều kiện hoán cải tâm
hồn của loài người, giới thiệu một con đường mới mẻ
và đặt một lòng tin tưởng ở khả năng vô tận của loài
người.
Là
Phật tử, chúng ta cần phải chân chánh qui y Tam bảo, đem
những gì trong trẻo cao đẹp nhất của chính mình mà hướng
về Tam bảo, thể theo chánh nghĩa Tam Bảo làm chỗ y cứ cho
hành vi ý nghĩ của chính mình. Có vậy mới là chơn chánh
Phật tử, khỏi cô phụ lời dạy dỗ của đức Bổn Sư chúng
ta mà cũng khỏi cô phụ tánh linh của chúng ta vậy.
Thích
Trí Thủ
Viêm
Âm Số 84 Trang 18 Năm 1949
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 12-2004
Down
Load " Word Document" (WinZip File 320 KB)
(Hạ tải đem về nhà để xem sau hay in ra giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân