ĐƯỜNG
VỀ QUÊ HƯƠNG TỊNH ĐỘ
Thích
Vân Pháp
Trong
rất nhiều pháp môn tu tập theo giáo lý Phật giáo, thì mỗi
một pháp môn tu tập là mỗi một con đường đi về với
quê hương của chính mình, là mỗi một con đường đi về
với quê hương chư Phật. Và, Tịnh độ cũng là một trong
những con đường giúp ta sớm trở về với quê hương ấy.
Ý
NGHĨA TỊNH ĐỘ
Chúng
ta biết rằng, khi đức Phật Thích Ca giới thiệu cho chúng
sanh một thế giới Cực lạc ở phương Tây của đức Phật
A di đà và được ghi lại trong Tiểu bản kinh A di đà, đó
là một thế giới hoàn toàn vắng mặt khổ đau. Nhưng thế
giới Tịnh độ không phải chỉ riêng tịnh độ của đức
Phật A di đà, mà tịnh độ là từ chỉ chung cho các cõi khác
như, tịnh độ Diệu Hỷ hay Diệu Lạc ở đông Phương của
đức Phật A Súc hay là Bất động Phật, đức Phật không
bị lay chuyển bởi sóng gió cuộc đời hay bởi biển cả
sanh tử luân hồi; có một tịnh độ khác như tịnh độ Đâu
Suất của đức Di Lặc, tịnh độ của đức Phật Dược
Sư,.v.v....
Tịnh
độ, phạn ngữ gọi là Amàla ksïetra; trong đó A là không,
màlà là ô nhiễm, nên A + màla nghĩa là không ô nhiễm. Không
ô nhiễm là sạch (tịnh). Và thuật ngữ ksïetra dịch là 'sát'
(cõi, thế giới) hoặc 'độ'. Như thế, "độ", chức năng
của nó là danh từ, còn "tịnh" là tính từ.
Lại
nữa, phạn ngữ cũng có từ Sukhàvati để chỉ cho tịnh độ;
trong đó Sukha là lạc (an vui, happiness).
Vậy,
Tịnh độ nghĩa là cõi nước thanh tịnh hay thế giới không
ô nhiễm; nói cách khác thế giới không cáu bẩn, không nhiễm
từ thân thể đến tâm hồn và cõi nước. Thế giới ấy
trong sạch từ ngoại tại lẫn nội tại.
A di
đà phạn gọi là Amita, có nghĩa là vô lượng, tức là không
bị giới hạn bởi không gian hay thời gian. Sau thuật ngữ
Amita phạn văn có phụ thêm -abha, nghĩa là ánh sáng. Amita +
abha = amitàbha, tức là ánh sáng vô lượng (vô lượng quang).
Vì vậy, đức Phật A di đà liên quan đến mặt trời và ánh
sáng.
Lại
nữa, sau thuật ngữ Amita, có phụ thêm chữ -àyus, nghĩa là
sống, thọ mạng. Vì thế, Amita + àyus = Amitàyus; dịch là
mạng sống không giới hạn bởi không gian và thời gian (vô
lượng thọ[1]).
Vậy,
Amitàbha hay Amitàyus đều chỉ cho ngài A di đà với ánh sáng
vô lượng và thọ mạng vô cùng.
Do
đó, ý nghĩa "tịnh độ cực lạc" hay "A di đà" là ý nghĩa
diễn tả một cõi nước rất an vui, sung sướng với y báo
và chánh báo rất nghiêm lệ, nhằm đáp ứng nguyện vọng
của con người.
Nên,
việc sùng bái ánh lửa và xem là sự linh thiêng có thể mang
lại trường thọ và nhiều may mắn của Ba tư giáo hay Ấn
độ giáo là điều đã xảy ra. Hoặc như đạo Nho khuyên mọi
người sống với nội dung "tam cương ngũ thường" nhằm đưa
xã hội thăng hoa và ổn định; lại như Kyto giáo khuyên tín
đồ nên đặt niềm tin vào Thượng đế để được sống
lâu và yên ổn... cho đến Phật giáo khuyên mọi người niệm
Phật để đến với thế giới hoàn toàn bình an, không còn
bị khổ đau nữa, tất cả đều là hoài vọng muôn đời
của con người.
MỘT
SỐ KINH TIÊU BIỂU CỦA TỊNH ĐỘ TÔNG
hệ
thống kinh điển được đề cập đến của tông này gồm
bảy quyển[2], trong đó ba quyển được xem là các kinh căn
bản và phổ biến nhất, đó là: kinh vô lượng thọ, kinh
quán vô lượng thọ và kinh A di đà tiểu bản.
1.
KINH VÔ LƯỢNG THỌ[3]
Kinh
này được đức Phật Thích ca thuyết giảng và chúc luỵ
cho các vị Bồ tát, Duyên giác và các Thanh văn ở núi Kỳ
xà quật thành Vương xá.
Đại
ý kinh này được tóm tắt như sau:
- Do
cơ duyên xuất hiện các vị đại Bồ tát, các vị cổ Phật
tại núi Kỳ xà quật và sự thỉnh cầu của các vị trời
Đế thích, Phạm vương mà Ngài nói kinh Vô lượng thọ.
- Đức
Phật Thích Ca mâu ni nói về hạnh nguyện và công đức của
tỷ kheo Pháp Tạng, với 48 lời nguyện rộng lớn. Sự phát
nguyện của tỷ kheo Pháp Tạng đã làm chấn động khắp các
cõi nước. Nhờ năng lực phát nguyện ấy, trải qua vô số
kiếp thực hành hạnh Bồ tát và thành tựu địa vị Phật
đà, hiệu A di đà - giáo chủ cõi nước cực lạc ở phương
Tây.
- Mô
tả cảnh giới của đức Phật A di đà với những kiến trúc
nguy nga, lộng lẫy, trang nghiêm và thanh tú. Ở đó, người
ta thấy ánh sáng vi diệu vô lượng (quang minh vô lượng),
sống lâu vô tận, không sợ cái chết đến rình rập (thọ
mạng vô lượng). Thế giới ấy được tạo dựng bởi hạnh
nguyện của đức Phật A di đà với hương hoa thắng diệu,
các loại chim do ngài A di đà biến hiện ra để thuyết
pháp.
- Sau
cùng là con đường hướng đến đời sống tu tập để có
thể trở về với quê hương tịnh độ. Bằng tâm thanh tịnh,
vô nhiễm và lòng tín thành là những chất liệu để tiếp
cận với cảnh giới của đức Phật A di đà. Như trong quyển
hạ kinh nầy có đoạn:"các chúng sanh nghe danh hiệu tịnh độ
đều tín tâm hoan hỷ, cùng một ý nghĩ, hết còn thối chuyển,
nguyện được sanh ở nước ấy. Phát ba thứ tâm[4] thì sẽ
được vãng sanh."
Kinh
vô lượng thọ rất cần thiết cho những ai muốn tu tập theo
pháp môn tịnh độ. Vì nó được ví như như sợi dây thừng
dùng để lôi kéo những ai đang chìm dần xuống hang giếng
thâm sâu của bùn lầy sanh tử. Do đó, Đức Thế Tôn, khi
thuyết giảng kinh nầy, đã nói: "Đời tương lai kinh đạo
diệt hết, ta dùng lòng Từ bi thương xót, riêng lưu kinh nầy
trong khoảng 100 năm. Nếu chúng sanh nào gặp kinh nầy, tuỳ
ý sở nguyện, đều được cứu thoát."[5]
2.
KINH QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ
Kinh
Quán vô lượng thọ[6] là một trong ba kinh được đề cập
nhiều nhất của tịnh độ tông. Tuy nhiên, ở Trung Hoa, nó
là một bộ kinh gây ảnh hưởng lớn trong quần chúng về
tín ngưỡng Di đà.
Và
kinh này được dịch vào triều đại Lưu Tống, do Khương
Lương Da Sá dịch (Kalayacas).
Nhân
duyên thuyết giảng kinh nầy là Đức Phật nhân cơ hội bà
Vi Đề Hy (Vaidehi)[7] thỉnh cầu. Trước cảnh đời "bạc như
vôi" mà bà chứng kiến, cảnh con trai là thái tử A xà thế
(Ajtacatra) hành hạ cha đẻ và bỏ ông ấy vào ngục tù đói
lạnh, không ai thăm viếng, kể cả bà cũng bị nghiêm cấm,
nên bà đã rất thất vọng, mong nhờ đức Phật khai mở lối
thoát. Đức Thế Tôn đã rất xúc động trước tình cảnh
ấy của hoàng hậu Vaidehi, nên ngài đã dạy cho bà niệm Phật
A di đà để được vãng sanh về thế giới Cực lạc.
Và
Đức Phật dạy rằng: nếu ai muốn sanh về thế giới Cực
lạc của đức Phật A di đà thì phải thực hành ba việc
sau:
- Phải
làm lành bằng cách chu toàn bổn phận của người chồng,
người mẹ, người vợ, người dâu, tức phải biết hiếu
dưỡng.
- Làm
lành bằng cách thọ trì Tam quy, ngũ giới, bát quan trai giới,
thập thiện giới,...
- Làm
lành bằng cách thực tập Tứ diệu đế, cũng như trong các
buổi giảng pháp, đọc kinh điển đại thừa, khuyên người
tu hạnh tinh tiến.
Lại
nữa, kinh Quán vô lượng thọ, còn đưa ra 16 phương pháp quán
tưởng về mặt trời. quán tưởng nước, đất, cây cối,
toà sen, sắc tướng, .v.v...
Trong
16 phép quán nầy kết hợp với chín phẩm vãng sanh, gồm:
ba bậc thượng phẩm vãng sanh, ba bậc trung phẩm vãng sanh,
và ba bậc hạ phẩm vãng sanh.
Muốn
được vãng sanh về thượng phẩm thì chúng ta phải từ tâm,
không sát hại, nghiêm trì giới hạnh, tụng đọc các kinh
Phương đẳng đại thừa, tu hành Lục niệm[8], hồi hướng
phát nguyện vãng sanh Tịnh độ gọi là thượng phẩm thượng
sanh. Như không đọc các kinh Phương đẳng đại thừa mà hiểu
được "đệ nhất nghĩa đế", tin tưởng sâu sắc vào luật
nhân quả, không phỉ báng đại thừa gọi là thượng phẩm
trung sanh. Như nếu phát khởi đạo tâm vô thượng, tin nhân
quả không phỉ báng đại thừa, tức là thượng phẩm hạ
sinh. Ba bậc nầy thuộc về thượng phẩm vãng sanh.
Đối
với hạng người tu hành giữ giới cấm, không tạo tội ngũ
nghịch, không mắc phạm sai lầm, gọi là trung phẩm thượng
sanh. Nếu một ngày một đêm trì giới thanh tịnh (bát quan
trai giới), gọi là trung phẩm trung sanh. Còn nếu hạng người
chưa thọ giới, nhưng luôn luôn biết hiếu dưỡng cha mẹ,
thực hiện nhân từ trong thế gian, khi sắp lâm chung, nghe thấy
y báo, chánh báo trang nghiêm của đức Phật A di đà, phát
nguyện vãng sanh, gọi là trung phẩm hạ sanh. Đó là ba bậc
thuộc trung phẩm vãng sanh.
Còn
lại ba phẩm thuộc hạ sanh, là chỉ cho hạng người thiện
ác lẫn lộn. Nếu họ gây ác nghiệp, nhưng không bài báng
kinh điển đại thừa, hạng này được hạ phẩm thượng
sanh. Đối với hạng huỷ phạm giới luật, ăn trộm tài sản
của tăng, thuyết pháp bất tịnh như vì danh dự, lợi dưỡng,
địa vị mà thuyết pháp, gọi là hạng hạ phẩm hạ sanh.
Trên
đây là tóm tắt đại ý của kinh quán vô lượng thọ mà
đức Phật đã dạy nhân vụ việc của hoàng hậu Vi đề
hy.
3.
Kinh A di đà tiểu bản[9].
Kinh
này có tên là Phật thuyết A di đà kinh, 1 quyển, do Ngài Cưu
Ma La Thập đời Tần dịch sang Hán văn. Đây là kinh thuộc
thể loại "vô vấn tự thuyết", nghĩa là không có người
hỏi, mà đức Phật tự thấy hợp thời, hợp căn cơ mà nói.
Nội
dung kinh nầy, đức Phật gọi ngài Xá lợi Phất và đại
chúng mà giới thiệu, mô tả và ca ngợi cảnh giới thắng
diệu, nghiêm lệ của đức Phật giáo chủ A di đà ở phương
Tây. Kinh chép rằng, lúc bấy giờ đức Thế Tôn đang ở tại
tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn cây của Thái tử Kỳ đà,
với 1250 vị đệ tử của Ngài. Lúc ấy, đức Phật gọi
thấy Xá lợi Phất và bảo: "Từ đây đi qua phương Tây cách
khoảng mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới gọi là
Cực Lạc, trong cõi ấy có một vị Phật hiệu A di đà, hiện
đang thuyết pháp"[10].
Thế
giới mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni mô tả và ca ngợi ấy,
được tóm tắt như sau:
- Hàng
rào được bao bọc bởi bảy lớp lan can, bảy lớp lưới
giăng, bảy lớp hàng cây và đều làm bằng bốn thứ châu
báu, là vàng, bạc, lưu ly và pha lê.
- Hồ
ao được tạo nên bởi nước có tám công đức[11], ở đáy
hồ toàn bằng cát vàng.
- Đường
sá làm bằng bốn thứ châu báu, hai bên đường có vô số
lâu đài được tạo nên bởi bảy loại báu[12].
- Hoa
sen trong hồ lớn như các bánh xe, mỗi màu sắc đều phản
chiếu hào quang rự rỡ, như sen xanh chiếu hào quang xanh, sen
đỏ chiếu hào quang đỏ, .v.v....
- Thú
tiêu khiển: ở cõi nước đó có dàn nhạc từ không trung
vọng xuống, hoa Mạn đà la rãi xuống như mưa mỗi ngày sáu
lần. Nghe chim thuyết pháp bằng những thanh âm hoà nhã, giọng
hót của chúng mang chất liệu của các pháp môn: ngũ căn,
ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần. Giọng
hót của các loài chim do đức Phật A Di Đà hoá hiện ra, như
Hạc trắng, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già
và Cộng mạng... mỗi khi cất lên đều khiến cho mọi người
trong nước ấy nhớ ngay đến Phật, Pháp và Tăng.
- Cách
trang trí: Hai bên đường, trên những gốc đỉnh của những
toà lâu đài có treo các chuông rung (chuông gió) để mỗi khi
có gió nhẹ xao động, các hàng cây, các màn lưới châu báu
thì thanh âm vi diệu vang lên như trăm ngàn nhạc khí được
hoà tấu, và khiến người dân khi nghe đều nhớ đến Tam
bảo.
- Sinh
hoạt: Cứ mỗi buổi sáng, dân chúng lấy lẵng hoa để hứng
các bông hoa mầu nhiệm từ hư không rụng xuống, sau đó họ
đem các lẵng hoa ấy đem đi cúng dường các vị Phật ở
các phương khác, trưa về lại bổn quốc, thọ thực rồi
kinh hành.
- Thiện
tri thức và bạn lữ: Ngoài đức Phật A di đà là thầy, là
giáo chủ, dân chúng còn có các bậc thiện tri thức đều
là bạn và luôn luôn dìu dắt để cùng thực tập pháp môn
niệm Phật.
Vì
thế, đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã khuyên chúng sanh hãy phát
tâm niệm Phật trong vòng một đến bảy ngày, đến khi nào
"Nhất tâm bất loạn" thì sẽ được sanh về nước Cực lạc
của đức Phật A Di Đà.
Và
sau cùng là lời khen ngợi của chư Phật mười phương đối
với đức Phật Thích Ca; vì đây là pháp môn rất khó tin
mà Ngài Thích Ca đã nói được điều đó để mọi người
cùng tin tưởng và thực tập. Ngài dạy: "Quý vị hãy tin vào
lời tôi đang nói mà cũng là lời của chư Phật đang nói".
Trên
đây là sự trình bày tóm lược về ba Kinh căn bản của tông
phái tịnh độ.
TỊNH
ĐỘ: THẾ GIỚI BẢN NGUYỆN
Mọi
người, khi đề cập đến tư tưởng Bản nguyện, đều cho
rằng đó là phạm trù thuộc Phật giáo đại thừa, còn tiểu
thừa thì không chấp nhận tư tưởng này.
Tư
tưởng của nguyên thủy Phật giáo hay Tiểu thừa Phật giáo
rất chú trọng và đề cao sự giải thoát chính mình ngay trong
kiếp này và A La Hán vị là quả chứng cao nhất. Đồng thời
quan điểm của tiểu thừa giáo lấy việc Tự lực là chính
còn Tha lực là phạm trù nằm ngoài khả năng thực chứng.
Xét
kỹ thì sự manh nha tư tưởng Bản nguyện phát sinh từ thời
Phật còn tại thế, và diễn tả trong các kinh điển thuộc
hệ A hàm và Nikaya. Nhưng, đến thời kỳ Phật Giáo Đại
thừa xuất hiện thì tư tưởng này mới thật sự hình thành
và phát triển. Chẳng hạn, trong tiểu phầm Bát Nhã có Lục
nguyện (Lục Ba La Mật), mười tám nguyện trong kinh A Sơ Phật,
24 nguyện trong kinh Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác, 30
nguyện của Đại Phẩm Bát Nhã, 36 nguyện của kinh Vô Lượng
Thọ.
Tư
tưởng Bản nguyện lấy Bồ đề tâm, Bồ đề nguyện và
Bồ đề hạnh làm chủ yếu; nghĩa là đem tâm trong sáng (Tuệ
tâm), tâm thanh tịnh vô nhiễm (Thanh tịnh tâm) mà tu tập hóa
độ chúng sanh; đem tâm rộng lớn (Đại tâm), tâm chân thật
(Chân tâm), tâm bao dung hỷ xả (từ bi tâm) mà cứu độ mọi
loài, tâm như thế gọi là Bồ đề tâm. Dùng tâm Bồ đề
ấy, phát khởi thệ nguyện rộng lớn, vị tha, trong sáng để
cứu giúp chúng sinh, gọi là Bồ đề nguyện. Giúp chúng sinh
thực hành các thiện pháp, rồi kiến thiết thế giới Tịnh
độ cho chúng sinh quy về gọi là Bồ đề hạnh. Do đó, thế
giới Bản nguyện là thế giới được thiết lập trên căn
bản của Nguyện lực. Hay nói cách khác, thế giới ấy được
thiết lập trên Bồ đề tâm, Bồ đề nguyện và Bồ đề
hạnh. Và lẽ đương nhiên, thế giới Tịnh Độ của Đức
Phật A Di Đà là thế giới Bản nguyện, bởi thế giới ấy
được thiết lập trên căn bản 48 lời nguyện của Phật
A di đà khi còn là Bồ Tát Pháp Tạng.
Thế
giới Bản nguyện là thế giới vượt thoát mọi ý niệm nhị
nguyên, sự hiện hữu của thế giới ấy không phải là sự
hiện hữu đối đãi của cái khổ và cái vui. Vì thế, trong
kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ hay kinh Quán Vô Lượng Thọ
v.v.... đều diễn tả thế giới ấy rất nghiêm tịnh, tráng
lệ, không có dấu tích của khổ đau, không có bóng dáng của
thù hận, không có con đường thấp kém, sa đọa như địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh: “Này Xá Lợi Phất, đất nước
ấy vì sao tên là Cực Lạc? Bởi vì dân chúng trong nước
ấy không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc,
cho nên cõi ấy được gọi là Cực lạc”[13] (Kinh A Di Đà).
Nơi ấy có các vị Phật thường thuyết pháp, có hoa thơm
rơi xuống sực nức mùi hương, có chim báu do Phật A Di Đà
biến hóa ra để thuyết pháp vi diệu, có nhạc đàn từ hư
không vọng xuống, có ao hồ bằng bảy báu với những hoa
sen đủ màu tỏa chiếu hào quang, có lâu đài bằng bảy báu,
có đường sá bằng phẳng, có cây báu bên đường v.v.. Tất
cả đều được xây dựng trên năng lực thệ nguyện của
đức Phật A Di Đà. Bởi thế, thế giới Bản nguyện chính
là con đường hành đạo của Bồ Tát. Bồ Tát hành đạo
như dòng nước chảy không sợ sự ngăn ngại của sự vật,
đối tượng, của hàng trúc kín vây quanh, như áng mây nhẹ
trôi, dẫu non cao chặn đứng. "Trúc kín đâu ngăn dòng nước
chảy, Núi cao đâu ngại áng mây bay"[14.
Vì
thế, dầu địa ngục có khủng khiếp và ghê tởm bao nhiêu
đi nữa thì bước chân của ngài Địa Tạng không thoái bộ
để vào đó cứu quần mê; Ta bà có ô trược đến đâu thì
Ngài Anan cũng nguyện vào trước[15], chúng sinh đau khổ bao
nhiêu đi nữa thì Ngài Quán Thế Âm cũng nguyện ngồi lắng
nghe mà hóa độ để đưa họ về với thế giới không khổ,
không đau, không sanh, không tử, không cô đơn buồn chán và
thất vọng.
Lại
nữa, thế giới Bản nguyện cũng là thế giới của Đạo
đức và Văn hóa. Tại sao? Vì thế giới đó không có con người
thấp kém mà chỉ có các bậc thượng thiện nhân. Hễ nơi
nào có các bậc thượng thiện nhân là nơi đó có Đạo đức,
có Văn hóa; còn hễ nơi nào có những kẻ thấp kém, ích kỷ
hẹp hòi là nơi đó không có Đạo đức, không có Văn hóa.
Nơi mà có những kẻ thấp kém tầm thường, ích kỷ có mặt
là nơi ấy đánh mất chủ quyền, nơi mà đời sống hết
sức bẩn thỉu, nên thế giới của họ cũng nhơ nhớp ô uế
với đầy khổ đau, phiền não và dục vọng... Trái lại,
những nơi nào có các bậc thượng thiện nhơn cư ngụ, các
vị Bồ tát và Chư Phật an trú thi nơi đó hoàn toàn có tự
do, và thật cao thương; môi trường sống của họ cũng hết
sức nghiêm tịnh, sạch đẹp, thơm tho và tráng lệ. Điều
này được diễn tả trong các kinh nói về Tịnh độ tông,
đặc biệt là kinh A Di Đà, kinh Vô lượng thọ v.v....
Tóm
lại, thế giới Bản nguyện là thế giới của nguyện lực
được thiết lập trên căn bản Bồ đề tâm, Bồ đề nguyện
và Bồ đề hạnh để kiến thiết và xây dựng một thế
giới, cõi nước có Văn Hóa và Đạo Đức. Bởi ở đó người
ta làm đúng với sự thật, nói đúng với sự thật, và suy
nghĩ đúng với sự thật. Và đó chính là điểm hấp dẫn
thu hút sự tìm tòi và khám phá của con người.
TỊNH
ĐỘ: CON ĐƯỜNG CHUYỂN HÓA TỰ TÂM
Sự
tìm tòi, khám phá của con người chính là sự khám phá và
chuyển hóa tâm thức. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: “Tâm như họa
sư năng họa nhất thiết hình tượng”[16], nghĩa là tâm ta
như người nghệ sĩ có thể vẽ ra vô vàn cảnh vật, hiện
tượng đẹp, xấu khác nhau. Tâm chúng ta có thể tạo ra Thiên
đường, có thể xây nên Địa ngục. Vì thế, sự hiện hữu
của tâm thức chính là sự hiện hữu của hai mặt trái ngược
nhau trong tâm thức con người; sự thấp kém và cao thượng.
Nếu
tư tưởng của chúng ta vẩn đục, ích kỷ thì đời sống
của chúng ta trở nên nhỏ nhen, thấp kém. Trái lại, nếu
tư tưởng chúng ta rộng lớn, bao dung và hỷ xả thì đời
sống của chúng ta sẽ trở nên cao đẹp, thanh thoát. Và cảnh
vật hiện hữu xung quanh chúng ta là sự hiện hữu rất nhiệm
mầu, như:“Hoa vô tâm, nước không lưu cánh, Tâm vô niệm,
mây chẳng vương tơ”. Khi tâm hồn đã thanh thoát, trong sáng
thì cảnh vật trở nên chan hòa, đầy sức sống dâng trào,
và đang trôi chảy trong cùng bản thể vô niệm, vô tâm. Thế
nên, chuyển hóa tự tâm là con đường gột sạch tư tưởng
thấp kém để mở ra con đường cao thượng.
Cũng
vậy, tu tập Tịnh độ cốt lấy niệm Phật làm đầu, và
niệm Phật chính là gột sạch tư tưởng vẩn đục kia. Mỗi
câu niệm Phật là một tư tưởng xấu lắng xuống, một niệm
trong sạch dấy lên; nhiều câu niệm Phật thì nhiều tư tưởng
xấu được đoạn trừ. Và niệm Phật đến cực điểm của
“nhất tâm bất loạn” thì ô nhiễm không còn. Lúc đó tâm
ta và Phật không khác và cánh cửa của thế giới Bản
nguyện sẽ mở rộng. Nhưng tại sao con người vẫn mãi khổ
đau và tuyệt vọng ? Bởi vì con người tạo tác ra nhiều
tư tưởng xấu, mãi rong ruổi kiếm tìm một đối tượng
hư huyễn mà cho là thật:
“Thà
một phút huy hoàng rồi chợt tắt
Còn
hơn buồn le lói suốt trăm năm” (Thơ Xuân Diệu)
Hay
lời cầu xin của kẻ tuyệt vọng được diễn tả trong hai
câu thơ của Huy Cận:
"Sầu
đã chín xin người thôi hãy hái
Nhận
tôi đi dầu đi ngục thiên đàng
(Nói
với thượng đế - Lửa Thiêng - Huy Cận)
Nỗi
băn khoăn về cuộc sống toàn mỹ luôn là những ước vọng
của hàng triệu người mà thi sĩ là lớp người mạnh dạn
nói lên điều đó. Một lớp người sống "chớp giật”,
tức là vội vã nắm chặt phút huy hoàng, dầu nó chỉ xảy
ra trong tích tắc, bởi sau phút giây ấy là những tháng ngày
khổ đau miên viễn. Và một lớp người khác phó mặc cho
đời, phó mặc cho sự hoành hành của khổ đau và phó thác
cho sự định đoạt của Thượng đế; và tất cả đều đang
đau khổ. Nhưng viễn tưởng về một thế giới xa vời không
có lý tưởng không phải là cách sống của Phật giáo. Phật
Giáo không chấp nhận cách sống như thế; trái lại Phật
Giáo đưa ra cách sống tỉnh thức, khi nào con người biết
chuyển hóa thân tâm, chuyển khổ đau thành hạnh phúc, chuyển
thất vọng thành nghị lực. Bởi vì, hạnh phúc và khổ đau
không phải là thực thể ngoài ta, nó tồn tại trong tâm thức
chúng ta[17]. Sự có mặt của hạnh phúc và khổ đau giống
như bàn tay có úp có ngữa. Cái khổ đau ẩn tàng trong cái
hạnh phúc, chẳng khác nào trong rác có hoa. Do đó, người
biết tu tập chuyển hóa là người biết vun vén đống rác
kia thành những chất liệu tạo nên hoa thơm, sắc thắm. Cũng
như khổ đau và tuyệt vọng, biết cách ôm ấp và chuyển
hóa thì nó sẽ trở nên hạnh phúc và bình an, lúc đó tâm
ta bừng sáng, một sự đổi thay kỳ diệu của sự sống,
đẩy lùi tất cả những tiếc nuối, tuyệt vọng và khổ
đau. Nói như Albert Camus "... Rồi một ngày kia tâm hồn bừng
sáng, và đặt câu hỏi, kể từ đó bắt đầu một cuộc
sống mới, chôn vùi cái bóng tối tiếc nuối rã rời và đầy
ngơ ngác”. Vì vậy, thanh lọc tư tưởng, chuyển hóa khổ
đau, là những gì mà tất cả mọi người cần làm để xây
dựng hạnh phúc và để tiếp cận với thế giới Cực Lạc
của Đức Phật A Di Đà.
TỊNH
ĐỘ: PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM
Khoa
học ra đời thế kỷ 19, đã chứng minh, phân tích rất nhiều
vấn đề có liên quan đến nhân quan sinh và vũ trụ quan. Nhưng
khoa học vẫn băn khoăn trước vấn đề tâm linh, chứng ngộ,
mà đặc biệt là con đường tâm linh chứng ngộ của Phật
giáo. Điều này đã được các nhà khoa học, văn hào, triết
gia,... nổi tiếng thừa nhận; chẳng hạn như thi sĩ và ký
giả nổi tiếng người Anh, Edwin Arnold (1832-1904)[18], Egerton
C. Baptist; nhà vật lý học lừng danh được trao tặng giải
Nobel về Vật lý năm 1921, người Mỹ, gốc Đức, Albert Einstein
(1879 - 1955); Khoa học gia Charles Eliot; hay như Bertrand Russell
(1872-1970), nhà toán học, triết học, và là nhà cách mạng
Anh, được tặng giải Nobel văn chương năm 1950; hoặc xa hơn
như Blaise Pascal (1623-1662) đã từng đoạt danh hiệu là nhà
thần đồng toán học, và là nhà vật lý, triết gia người
Pháp, ông là sáng chế ra máy tính, và rất nhiều các danh
sĩ khác trên thế giới đều rất hâm mộ và ca ngợi triết
thuyết và tâm linh Phật giáo[19] . Đặc biệt, ông Albert Einstein
nói như sau: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với
các nhu cầu của khoa học hiện đại thì nó là Phật giáo.
Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập
nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo
không cần từ bỏ quan điểm của mình để theo khoa học,
vì Phật giáo bao gồm cả khoa học cũng như vượt hẳn khoa
học. Phật giáo là cái cầu nối giữa tôn giáo và tư tưởng
khoa học. Mà những điều đó khích động con người khám
phá những khả năng tiềm ẩn ngay trong mỗi con người và
môi trường xung quanh nó. Phật giáo siêu việt thời gian và
mãi mãi có giá trị”[20]. Đúng như thế, "Phật giáo sẽ
trường tồn như mặt trời và mặt trăng và loài người hiện
hữu trên mặt đất; do đó, Phật giáo là tôn giáo của con
người, của nhân loại, cũng như của tất cả"[21]. Có thể
nói rằng, sự xuất hiện của khoa học hiện đại chẳng
qua chỉ là sự “trùng tuyên” và minh chứng lời dạy và
sự thực chứng của giáo lý đạo Phật.
Tâm
linh là con đường mà tất cả mọi giai tầng đều hướng
đến để tìm hiểu khám phá và thực chứng nó. Nhưng muốn
khám phá và thực chứng đời sống ấy, trước hết chúng
ta phải có Đức tin. Trong kinh Phật dạy rằng: "Tín vi đạo
nguyên, công đức mẫu,..." và Kinh Hoa Nghiêm cũng nhấn mạnh
rằng " Nếu rời khỏi tín căn, tâm thấp kém, ưu tư và hối
hận, công hạnh không đầy đủ, thối mất sự tinh cần.
Đối với thiện căn mà tâm đã sanh sự đình trụ, đối
với một ít công đức tự cho là đã đủ, không thể thiện
xảo phát khởi hạnh nguyện". Lại nữa, trong 37 phẩm trợ
đạo, thì yếu tố "tín căn" và "tín lực" là hai yếu tố
đứng đầu Ngũ căn và Ngũ lực. Chính đó là những yếu
tố làm phát triển thiện căn, dẫn dắt con người vào Đạo
và thực hành Chánh đạo.
Hay
nói như Luận Đại Trí Độ Luận "Phật pháp mênh mông như
biển cả, con người có thể dùng niềm tin để đi vào".
Niềm
tin do đâu mà phát khởi? - Niềm tin phát khởi do bốn trường
hợp.
a.
do Hiện kiến: Niềm tin phát khởi là do nhìn thẳng vào hiện
thực - nghĩa là nhìn thấy sanh, lão, bệnh, tử, ... là những
sự khổ. Đó là những sự khổ hiển nhiên mà mọi người
ai cũng thấy và cũng biết. Do thấy và biết như vậy, nên
phát khởi niềm tin rằng "khổ đế" là một sự thật hiển
nhiên của con người và của tất cả chúng sanh.
b.
do Chiêm nghiệm và loại suy: nghĩa là dựa vào một sự
kiện, một kết qủa thực tế, để suy nghiệm nguyên nhân.
Chẳng hạn, dựa trên khổ đế để suy nghiệm nguyên nhân
của khổ là "tập đế" và tin tưởng rằng"tập đế" là
nguyên nhân của mọi khổ đau.
c.
do Kinh nghiệm và thực hành: Niềm tin phát sinh là do kinh nghiệm
của cuộc sống và do sự thực hành. Chẳng hạn, do thực
hành "Đạo đế" là con đường thoát khổ, con đường dẫn
đến sự hạnh phúc và an lạc.
d.
do dựa vào lời nói của bậc Thánh: Chẳng hạn, Đức Phật
nói "diệt đế" là cảnh giới hạnh phúc an lạc tối
thượng, do lời nói ấy của Đức Phật làm phát sinh niềm
tin cho những đệ tử của Ngài. Và những đệ tử của Ngài
tin tưởng tu tập để đạt được cảnh giới hạnh phúc
ấy[22].
Tin[23]
không có nghĩa là chấp nhận một quy luật khắc nghiệt nào
hay một sự ban thưởng, trừng phạt nào của một đấng tạo
thế, thần linh.
Tin
như thế là mê tín, là cuồng tín, là si tín. Trái lại, nếu
đức tin được soi sáng bởi Trí tuệ (chánh kiến) thì Đức
tin đó gọi là Chánh tín.
Tin
ở sự nỗ lực chuyển hóa thân tâm của mình và tin ở sự
chuyên tâm niệm Phật của mình để thể nhập thế giới
Tịnh độ, gọi là tự tín. Tin vào trí tuệ của Phật là
siêu việt, vượt qua tất cả mọi định kiến và sự giải
thoát của Ngài là sự giải thoát khổ đau sanh tử, và nguyện
lực của Ngài là con thuyền đưa chúng sanh về tịnh độ,
gọi là tha tín. Vì thế, muốn về tịnh độ thì phải niệm
Phật. Niệm Phật theo tịnh độ tông, nói chung gồm có bốn
cách:
- Trì
danh niệm Phật: Nghĩa là hành giả nắm lấy danh hiệu Đức
Phật A Di Đà mà niệm. Trì danh niệm Phật, không có nghĩa
là niệm Phật bằng miệng mà phải niệm Phật bằng tâm.
Chúng ta phải nắm lấy danh hiệu đó bằng trái tim của chúng
ta, và qua danh hiệu đó chúng ta thấy Phật có mặt trong tâm
ta. Cho nên nói: "khi niệm danh hiệu Phật, lòng mình có sự
rung động. Giống như mình gọi tên của người thương mình
vậy. Nghe tên người thương, mình cảm thấy rung động, nó
làm cho mình khỏe, nó làm cho mình có hy vọng. Niệm Bụt cũng
phải như vậy. Niệm Bụt không phải chỉ là gọi tên một
cách trống rỗng, mà phải làm cho lòng mình tràn đầy sự
tín kính"[23].
- Quán
tượng niệm Phật: Nghĩa là nương vào hình tượng của Đức
Phật A Di Đà mà niệm lên danh hiệu của Ngài. Qua hình tượng
với tướng hảo trang nghiêm thanh tịnh đó, hành giả có thể
nhớ đến công hạnh và thệ nguyện độ sanh rộng lớn của
Ngài mà niệm đến Ngài. Niệm cho đến khi nào "Nhất tâm
bất loạn" thì sẽ được thấy được chư Phật và chư vị
Bồ tát.
- Quán
tưởng niệm Phật: Bằng trì danh niệm Phật hoặc quán tượng
niệm Phật, hành giả có thể đạt tới trạng thái niệm
Phật không còn loạn động. Ở đây, hành giả niệm Phật
bằng sự quán tưởng, nghĩa là hành giả nhớ đến Phật
với thân sắc vàng, hào quang trắng bạch của Ngài ADi Đà,
hoặc quán tưởng cảnh giới Cực lạc với đủ thứ nghiêm
lệ mà niệm Phật. Niệm Phật bằng sự quán tưởng cũng
sẽ giúp hành giả đạt tới niệm Phật tam muội.
- Thật
tướng niệm Phật: Qua quá trình hành giả thực tập ngày
đêm các phương pháp niệm Phật ở trên, đến giai đoạn
này, khả năng niệm Phật của hành giả đã thuần thục,
nghĩa là hành giả niệm Phật đến giai đoạn niệm mà không
niệm, không niệm mà niệm. Trong mọi động thái của hành
giả luôn luôn thể hiện chất liệu niệm Phật; bấy giờ
danh hiệu Phật không nằm ngoài tâm của hành giả mà nó như
là máu, là tim, là phổi,...v.v...luôn có mặt trong chính cơ
thể của hành giả. Phật với Tâm là một.
Nói
gọn, Niệm Phật cần phải biết danh hiệu Phật, hình tượng,
tướng hảo Phật, quán tưởng Phật, cho đến giai đoạn niệm
Phật tự trong tâm. Niệm Phật như thế gọi là niệm Phật
có nội dung, gọi là niệm Phật nhất tâm. Cho nên, dầu chưa
thác sanh về Tịnh độ, nhưng đường về Tịnh độ đã thật
sự có lối.
Ngày
xưa, Ngài Đại Thế Chí Bồ Tát nhờ niệm Phật mà đắc
viên thông; trong chương "Đắc Đại Thế Chí niệm Phật Viên
Thông", có ghi rằng: "Tôi nhờ pháp môn niệm Phật mà đắc
viên thông, nếu người nào y theo pháp môn này tu hành thì
cũng đắc viên thông". Chính vì thế, khi nhắc đến Bồ tát
Đại Thế Chí, chúng ta nhớ rằng: "Ức Phật, niệm Phật,
hiện tại đương lai quyết định thành Phật" (nhớ Phật,
niệm Phật, hiện tại và tương lai, chắc chắn thành Phật).
Nếu
niệm Phật mà không có nội dung, không có sự nhất tâm thì
dễ trở thành niệm Phật trống rỗng và mang chất liệu mê
tín. Vậy, niệm Phật như thế nào để nó không trở nên
là một sự cầu nguyện mang tính mê tín mà nó biến thành
đời sống thực nghiệm?
Không
phủ định cho rằng, Tôn giáo luôn đi kèm với sự cầu nguyện,
Phật giáo không chấp nhận lối cầu nguyện của quần chúng.
Nhưng, Phật giáo phủ định cách cầu nguyện vô lý không
dựa đến Chánh kiến. Một lối cầu nguyện vô lý là một
sự cầu nguyện không có tính thuyết phục, không có chất
liệu của sự sống. Nếu có chăng, Phật giáo chấp nhận
sự cầu nguyện thì sẽ khuyên rằng: “Nếu anh, chị cầu
nguyện trước Đức Phật, hay Đức Chúa Jesus... thì anh, chị
phải gột rửa những tư tưởng thấp kém, sửa đổi tất
cả những tật xấu như tham lam, sân giận, trách móc, kỳ
thị và bạo động trong tâm đi thì sự cầu nguyện ấy sẽ
trở nên có hiệu quả và rất sống động”. Cho nên, niệm
Phật là trở về với cõi sáng của tâm thức, “Niệm Phật
chính là niệm chân lý, Niệm chân lý tức là niệm tâm. Niệm
tâm tức là niệm Phật. Kỉnh Phật tức là kỉnh tâm, khinh
Phật tức là khinh tâm mình. Khinh tâm bỏ tâm mà tìm hạnh
phúc, tìm chân lý thì không bao giờ có hạnh phúc”[24]. Niệm
Phật là niệm chân lý mà con người là hiện thân của chân
lý. Con người cũng đầy đủ vạn năng và liên quan mật thiết
với vũ trụ. Nho giáo cho rằng: “Nhân thân tiểu thiên địa”.
Thân người là bầu trời con, do đó tất cả mọi ý nghĩa,
lời nói, mọi cử chỉ và mọi động tác đều ảnh hưởng
đến thế giới quan, và tác động đến toàn thể vũ trụ.
Nên, sự hiện thân của Đức Phật, Bồ Tát, Thánh Hiền cho
đến cỏ cây hoa lá, chim hót, dòng suối chảy hay bước chân
thiền hành lướt nhẹ qua bãi cỏ xanh rờn...đều là hiện
thân của Chân lý. Bởi chân lý không tách rời sự sống thực
tại. Vì thế, niệm Phật là cơ hội tiếp xúc với chân lý,
là để sống chân thật với những gì có mặt và hiện hữu.
Do đó, phương pháp niệm Phật là con đường thực nghiệm
để khám phá ra những bí ẩn trong lòng thực tại sự sống
để thấy được rằng: Quê hương vẫn là đây, Trăng vẫn
mảnh trăng này. (Vô vi - Thơ Viên Minh). (còn tiếp)
1
Kinh Vô lượng thọ quyển thượng: "Vô lượng thọ Phật uy
thần quang minh tối tôn đệ nhất". Đối với Mật giáo là
vị Tây phương Tôn trong ngũ Phật - Đông Phương, A Súc Phật;
Nam phương Bảo Tướng Phật; Tây phương Di Đà Phật; Bắc
phương Thành Tựu Phật và Trung Ương, Tỳ Lô Phật.
2
bảy kinh thuộc tịnh độ tông gồm: 1. kinh A di đà (1 q); 2.
kinh vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác (4q, do Chi Câu Lâu
Sấm, đời Hậu Hán dịch); 3. kinh đại a di đà (2 q); 4. kinh
vô lượng thọ (2q); 5. kinh quán vô lượng thọ (1q); 6. kinh
xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thọ (1q), và 7. kinh cổ âm
thanh tâm đà la ni (1q).
3
Vô lượng thọ kinh 無 量 夀 経 (Sukhàvativyhasùtra), do Khang
Tăng Khải đời Tào Nguỵ dịch. Kinh này trước sau có 12 bản
dịch, trong đó còn 5 bản và 7 bản bị mất. Các nhà chú
thuật kinh này, gồm: 1. vô lượng thọ kinh nghĩa sớ, 1quyển,
do Cát Tạng đời Tuỳ soạn; 2. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ,
2 quyển, do Tuệ Viễn dời Tuỳ soạn; 3. Vô lượng thọ kinh
ký, 2quyển, quyển thượng hư nát, quyển hạ thất lạc, do
Đường Huyền Nhất biên tập; 4. vô lượng thọ kinh liễu
nghĩa thuật văn tán, 3 quyển, do Cảnh Hưng đời Đường soạn;
5. Vô lượng thọ kinh tông yếu, 1 quyển, do Nguyên Hiểu ở
Tân La soạn; 6. Vô lượng thọ kinh khởi tín luận, 3 quyển,
Bành Thanh soạn thuật; 7. Vô lượng thọ kinh hội dịch,
1 quyển, do Nguyên Hội đời Nguỵ dịch. (xem Từ điển Phật
học Hán việt, Phân Viện nghiên cứu Phật học, nhà xuất
bản khoa học xã hội, 1992, tr.1526-1527)
4
Tam tâm 三 心, theo kinh Quán Vô lượng thọ, gồm: 1. Chí thành
tâm 志 誠 心(tâm chí thành, lòng tha thiết) , 2. Thâm tâm 深
心 (tâm sâu xa, lòng sâu chặt hướng về) 3. Hồi hướng phát
nguyện tâm 回 向 發 願 心(lòng phát nguyện quay về). Dùng
ba tâm nầy mà tu tập pháp môn tịnh độ chắc chắn sẽ vãng
sanh về Cực lạc.
Ngoài
ra, để hiểu thêm thuật ngữ "Tam tâm",chúng ta có các cách
giải thích về nó như sau: 1. Căn bản tâm 根 本 心 (chỉ
tâm vương, tức a lại da, chứa đựng mọi chủng tử thiện
ác, sản sinh ra các pháp nhiễm tịnh; 2. Y bản tâm 依本 心(tâm
dựa vào mạt na thức, tức là thức thứ bảy trong tám thức;
tâm này là gốc căn bản của nhiễm pháp; 3. Khởi sự tâm
起 事 心(tâm chấp trước vào ngoại cảnh lục thức, như
nhãn, nhĩ, ... mà khởi lên các nghiệp.
Theo
Đại thừa khởi tín luận quyển hạ, có ba loại tâm
sau: 1. Chân tâm 眞 心 (無 有 分 別 故, nghĩa là tâm không
phân biệt); 2. Phương tiện tâm 方 便 心 (任 運
利 他 故, thông minh trong việc cứu giúp mọi người) 3. Nghiệp
thức tâm 業 識 心 (微 細 起 滅 故, tâm sinh khởi và huỷ
diệt rất vi tế)
Theo
Tống kính lục, q89 .III, trong nguyện 18 của kinh vô lượng
thọ có nói:"chí tâm, tín nhạo, muốn sanh ở nước ta", ba
điều đó cũng được gọi là tam tâm.
Tam
tâm, theo ngài Đạo Xước (Dôshaku, khoảng 645) dựa theo Tịnh
Độ Luận Chú, như sau: 1.Thuần tâm 純 心 (tâm chín muồi,
tâm thuần tín), 2. Nhất tâm 一 心 (tâm thuần nhất, tâm định
tĩnh), 3. Tương tục tâm 相 續 心(tín tâm tương tục không
bị pha tạp các niệm xấu).
Trong
từng giai đoạn của một trong mười địa của Bồ tát, như
Hoan hỷ đại, cho đến Pháp vân địa, cũng được gọi là
tam tâm; gồm: 1. Nhập tâm 入 心(tâm mới đi vào trong địa
vị đó), 2. Trú tâm 住 心 (tâm đã an trú trong địa vị đó);
và 3. Xuất tâm 出 心 (tâm sắp ra khỏi địa vị đó, để
tiếp tục Nhập, trú xuất ở địa vị sau).
5
當 來 之 世 經 道 滅盡 我 以 慈 悲 哀 憫, 特 留 此 經
只 住 百 歳,其 有 眾 生 值 斯 經 者, 隨 意 所 願 皆
可 得 渡。Đương lai chi thế kinh đạo diệt tận, ngã dĩ
từ bi ai mẫn, đặc lưu thử kinh chỉ trụ bá tuế, kỳ hữu
chúng sanh trị tư kinh giả, tuỳ ý sở nguyện giai khả đắc
độ - trích từ Vô lượng thọ kinh.
6
Quán vô lượng thọ kinh 观 無 量 夀 経 là tên tắt
của "Phật thuyết quán vô lượng thọ Phật kinh", 1quyển,
do ngài Cương Lương Da Sá đời Tống dịch; sách chú sớ của
các nhà về kinh nầy như sau: 1. Quán vô lượng thọ kinh sớ,
1quyển, do Trí Giải đại sư đời Tuỳ thuyết; 2. Quán vô
lượng thọ kinh sớ, 2 quyển, do Tuệ Viễn đời Tuỳ soạn;
3. Quán vô lượng thọ kinh sớ, 1quyển, do Cát Tạng đời
Tuỳ soạn; 4. Quán vô lượng thọ kinh sớ, 4 quyển, do Thiện
Đạo đời Đường tập ký; 5. Thích quán vô lượng thọ kinh
ký, 1 quyển, do Pháp Thông, đời Đường soạn; 6. Quán vô
lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao, 6 quyển, do Trí Lễ
đời Tống thuật; 7.Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ, 3quyển,
do Nguyên Chiếu đời Tống thuật; 8. Quán kinh phù tâm luận,
1 quyển, do Giới Độ đời Tống thuật; 9. Quán vô lượng
thọ Phật kinh ước luận, 1 quyển, do Bành Tế Thanh thuật.
7
Vi đề hy 韋 提 希(vaidehi) dịch là Tư duy, Thắng diệu thân,
là hoàng hậu của Vua Tần bà sa la nước ma kiệt đà, là
mẹ của Vua A xà thế.
8
Lục niệm六 念: gồm: 1.Niệm Phật, 2.Niệm Pháp, 3.Niệm Tăng,
4.Niệm giới, 5.Niệm Thí và 6.Niệm Thiên; xem Kinh Biệt Dịch
Tạp A Hàm, q9, Kinh Niết bàn q 18, Luận Trí độ q 22, Đại
Thừa Nghĩa Chương, q12.
Để
hiểu thêm về Lục Niệm theo giới bổn, hành sự sao quyển
thượng, gồm:1. Niệm tri nhật nguyệt (nhớ biết ngày tháng
thọ giới), 2. Niệm tri thực xứ (nhớ biết chỗ ăn uống,
nhớ rõ nơi thỉnh thọ thực, đừng để quên mà làm buồn
lòng người thỉnh mời),3. Niệm thọ giới thời hạ lạp
(nhớ tuổi hạ từ sau ngày thọ giới), 4. Tri y bát hữu vô
đẳng (nhớ biết y, bát, ..v..v...của mình có hay không, biết
mấy y thì đủ lượng, bát thế nào là ứng lượng khí),
5. Niệm đồng biệt xứ ( nhớ chỗ ở chung và riêng), và
6. Niệm khang luy (nhớ là mình khoẻ hay yếu, nếu không bệnh
thì biết là không bệnh để kham việc hành đạo, nếu có
bệnh thì phải kịp thời chữa trị).
9
Kinh A di đà 阿 彌 陀 経 đã được các nhà chú giải rộng
ra như sau: 1. A di đà kinh nghĩa ký, 1 quyển, do Trí Khải đời
Tuỳ trình bày, Quán Đỉnh ghi chép; 2. A di đà kinh nghĩa thuật,
thông tán sớ, 3 quyển, do Khuy Cơ đời Đường soạn; 3. A
di đà kinh sớ, 1 quyển, do Trí Viễn đời Tống thuật; 4.
A di đà kinh nghĩa sớ văn trí ký, 3 quyển, do Nguyên Hiểu
đời Tống thuật, Giới Độ ghi; 5. A di đà kinh cú giải,
1 quyển, do Tính Trừng đời Nguyên cú giải; 6. A di đà kinh
lược giải, 1 quyển, do Đại Hữu đời Minh kể; 7. A
di đà sớ sao, 4 quyển, do Châu Hoằng đời Minh thuật, 8. A
di đà sớ sao sự nghĩa, 1 quyển, A di đà sớ sao vấn biện,
1 quyển, A di đà sớ sao diễn nghĩa, 4 quyển, do Cổ Đức
Pháp sư đời Minh diễn nghĩa, Tái Thuận định bản; 9. Tịnh
độ dĩ thuyết, 1 quyển, do Đại Huệ đời Minh giải thích;
10. A di đà kinh yếu quyết, 1 quyển, do Trí Húc giải; 11. A
di đà kinh thiệt tướng, 1 quyển, do Tịnh Đĩnh soạn;12. A
di đà trực giải chính hành, 1 quyển, do Liễu Căn chú; 13.
A di đà kinh lược chú, 1 quyển, do Tục Pháp lục chú; 14.
A di đà kinh lược giải viên trung sao, 2 quyển, do Đại Hựu
đời Minh thuật, Truyền Đăng sao lục; 15. A di đà kinh trích
yếu dị giải, 1 quyển, do Chân Trung thuật; 16. A di đà
kinh ước luận, 1 quyển, do Bành Thế Thanh thuật; 17. A di đà
kinh yếu giải tiện mông sao, 3 quyển, do Trí Húc đời Minh
yếu giải, Đạt Mặc Tạo sao lục, Đạt Lâm tham đính; 18.
A di đà kinh sớ sao hiệt, 1quyển, do Chu Hoằng đời Minh sao
sớ, Từ Hoà Đình hiệt nghĩa.
10
Kinh A Di đà tiểu bản, Hán văn: 従 是 西 方 過 十 万 億
佛 度, 有 世 界 名 曰極 樂 其 度 有 佛 效 阿 彌 陀 今
現 在 説 法。"Tùng thị tây phương quá thập vạn ức Phật
độ, hữu thế giới danh viết Cực lạc, kỳ độ hữu Phật
hiệu A di đà kim hiện tại thuyết pháp"
11
Bát công đức thủy 八 功 德 水, gồm :1. Trừng tịnh 澄
淨 (lóng trong); 2. Thanh lương 清 梁 (mát mẽ); 3. Cam mỹ 甘
美 (ngon ngọt); 4. Khinh nhuyễn 輕 軟 (nhẹ mềm); 5. Nhuận
trạch 潤 澤 (nhuần láng); 6. An hoà 安 和 (bình an và dung
hợp); 7. Trừ cơ khát 除 饑 渴 (trừ đói khát) ; và 8. Trưởng
dưỡng chư căn 長 養 諸 根 ( nuôi lớn các căn lành).
12
Thất bảo 七 寶 gồm: 1. Vàng, 2. Bạc, 3. Lưu ly, 4. Pha
lê, 5. Xà cừ, 6. Xích châu (chuỗi ngọc) và, 7. Mã não
13
Hán văn, trích từ Kinh A Di Đà tiểu bản: 舍 利 拂, 彼 度
何 故 名 爲 極 樂 ? 其 國 眾 生 無 有 眾 苦 但
受 諸 樂 故 名 極樂 Xá lợi Phất, bỉ độ hà cố danh vi
Cực lạc? kỳ quốc chúng sanh vô hữu chúng khổ đản thọ
chư lạc, cố danh Cực lạc.
14
Hán văn: 密 竹 不 防 流 水 過。 山 高 無 礙 白 雲 飛 “Mật
trúc bất phòng lưu thủy quá/Sơn cao vô ngại bạch vân phi”
(Thong dong Lục)
15
五濁 悪 世 誓 先 入, 如 一 眾 生 未 成 佛, 終 不 於
此 取 泥 環 Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập/ như nhất
chúng sanh vị thành Phật/chung bất ư thử thủ nê hoàn
(đời ác với năm thứ vẫn đục, (tôi) nguyện vào đầu
tiên, như có chúng sanh nào chưa thành Phật, không bao giờ
(tôi) giữ lấy Niết bàn Phật).
16
Đoạn khác trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật cũng day: " Nhược
nhơn dục liễu tri, Tam thế nhất thế Phật, Ưng quán pháp
giới tánh, Nhất thiết duy Tâm tạo - Nếu người nào muốn
thấy và hiểu được tất cả các Đức Phật trong ba đời
quá khứ, hiện tại và tương lai, thì người ấy nên quán
chiếu rằng: trong bản chất của pháp giới, tất cả đều
do tâm tạo ra.
17
Trong khi nhìn nhận rằng, trạng thái tinh thần là yếu tố
chủ đạo của chúng ta có thể đạt được hạnh phúc, dĩ
nhiên chúng ta không thể phủ nhận rằng, những nhu cầu vật
chất cơ bản, tất yếu của chúng ta về thức ăn, áo quần,
nơi ở cần phải được thoả mãn, nhưng một khi những nhu
cầu này đã được thỏa mãn thì vấn đề hết sức rõ ràng:
chúng ta sẽ từ chối nó và đi tìm một cái khác cao hơn,
chúng ta cần có một tâm hồn, tâm hồn này là yếu tố cơ
bản mà chúng ta cần có để đạt được hạnh phúc hoàn
toàn.... Đức Dalai Lama nói: "vì vậy, tôi nghĩ rằng, việc
trao dồi, phát huy những trạng thái tinh thần tích cực như
lòng thương tử tế và lòng từ bi sẽ giúp chúng ta đạt
được hạnh phúc cũng như có được tinh thần khoẻ mạnh
hơn." (xem thêm HH Dalai Lama & Howard C. Cutler, Thuật sống
trong Hạnh phúc, nxb Trẻ, 2004, tr. 43 & 44)
18
Trong cuốn The Light of Asia on Life and Teaching of Buddha, E. Arnold
nói rằng: "I have often said and I shall say again and again, that between
Buddhism and moderm science there exists a close intellectual bond"(Tôi
đã từng nói và sẽ lặp đi lặp lại mãi, rằng giữa Phật
giáo và khoa học hiện đại có sự gắn bó trí thức chặt
chẽ)
19
xem thêm, Ven. Dr.K.Sri.Dammananda, Buddhism in the eyes of intellectuals.
20
Nguyên văn Anh ngữ: "If there is any religion that would cope with
modern to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism needs
no surender its views to science, because it embraces science as well as
goes beyond science. Buddhism is the bridge between riligions and scientific
thoughts, that stimulates man to discover the latent potentialities within
himself and his environnement Buddhism is timeless - xem, Đối thoại
với Giáo Hoàng - Gioan Phao Lô II, Giao Điểm xb,1995, tr. 314
21
Dammananada, Buddhism in the eyes of intellectuals, sđd, bản dịch
Thích Tâm Quang, tp.Hồ chí Minh tr.64: "Buddism will last as long
as the sun and moon last and the human race exists upon the earth, for
it is the religion of man, of humanity as a whole" - Bandaranaike, Cựu
thủ tướng Sri Lanka,
22
xem Bikkhu Thích Thái Hoà -Niềm tin bất hoại đối với Đức
Phật - nội lưu, 1990, tr.15 & 16
23
Mã Minh, đại thừa khởi Tín luận, hạ, T32n1667, tr590a19: "信
有 四 種: 一 信 根 本, 謂 樂 念 眞 如 法 故。二 信 佛
具 足 無 邊 功 德, 謂 常 樂 頂 禮 恭 敬 供 養, 聽 聞
正 法 如 法 修 行, 回 向 一 切 智 故。三 信 法 有 大
利 益, 謂 常 樂 修 行 諸 波 羅 密 故。四 信 正 行 僧,
謂 常 供 養 諸 菩薩 眾正 修 自 利 利 他 行 故" (Tín hữu
tứ chủng: Nhất, căn bản tín, vị nhạo niệm chơn như pháp
cố; Nhị, tín Phật cụ túc vô biên công đức, vị thường
nhạo đảnh lễ cung kính cúng dường, thính văn chánh pháp
như pháp tu hành, hồi hướng nhất thiết trí cố; Tam, tín
pháp hữu đại lợi ích, vị thường nhạo tu hành chư ba la
mật cố; Tứ, tín chánh hạnh Tăng, vị thường cúng dường
chư Bồ tát chúng, chánh tu tự lợi lợi tha cố- Tín
có bốn loại: Một là lòng tin căn bản, tức là ưa thích
pháp Chân như; Hai là tin Phật có đầy đủ vô biên công đức,
tức là thường thích đảnh lễ, cung kính cúng dường, khéo
nghe chánh Pháp, như pháp tu tập, hồi hướng về Nhất
thiết trí; Ba là Tin vào Pháp có lợi ích lớn, tức là thường
ưa tu tập các hạnh ba la mật; Bốn là Tin vào Tăng có phẩm
hạnh, tức là thường cúng dường các vị Bồ tát, chánh
tu các hạnh lợi mình lợi người)
-
Luận Câu Xá, quyển 4, nói rằng: "Tín là khiến lòng trong
lặng"
-
Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 2:"Đối với Tam bảo giữ tịnh
tâm, không nghi ngờ thì gọi là Tín".
23
Nhất Hạnh, Thiết lập Tịnh độ, kinh A Di Đà thiền giải,
nxb Lá Bối, tr.79
24
xem Viên Giác - Quan hệ tư tưởng , tr. 33
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 12-2004
Down
Load " Word Document" (WinZip File 320 KB)
(Hạ tải đem về nhà để xem sau hay in ra giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số
Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số
Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số
Đặc Biệt Vu Lan 2002, 2003
Số
409 Tháng 9 năm 2004 Vu Lan Báo Hiếu
Số
Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số
Đặc Biệt Mừng Xuân