TẢN MẠN
VỀ MẸ
Hư
Thân Huỳnh trung Chánh
Vào
mỗi mùa Vu Lan, tôi thường viết những truyện ngắn tưởng
tượng về những bà mẹ, còn nhắc về người mẹ thật của
tôi, tôi chỉ viết một lần trong tùy bút “Tản mạn về
Cần Thơ”, để ghi lại quãng thờøi ấu thơ hạnh phúc nhất
đời, một năm học duy nhất mà tôi được sống ấm êm trong
vòng tay của mẹ.
Tôi
mất cha khi vừa tròm trèm sáu tuổi. Thuở đó, tình hình an
ninh kém cõi, thương ông bà ngoại tôi sống đơn chiếc, mẹ
tôi dẫn con cô gái út về quê nhà tại Cao Lãnh chăm sóc ông
bà. Phần hai đứa con trai, bà gởi mỗi đứa một nơi - thường
là các bà dì - để “ăn nhờ ở đậu” đi học. Tôi quen
thui thủi sống môït mình từ lúc mới tập tễnh học lớp
một, mỗi năm chỉ gặp mẹ tối đa hai lần, còn anh em có
khi hằng mấy năm trời vẫn chưa thấy mặt nhau, nhưng càng
xa nhau thì chúng tôi càng thương mẹ, thương anh thương em.
Sau
năm 1975, anh em chúng tôi đùm bọc dắt dìu nhau, đưa mẹ đi
vượt biên. Em gái tôi đã lập gia đình tại Thụy Sĩ
từ lâu, còn hai anh em tôi, tuy đồng định cư tại Hoa Kỳ,
nhưng mỗi đứa lập nghiệp một phương, phương Đông và
Tây cách nhau hàng ngàn dậm khiến cho bà mẹ, sống với đứa
nầy thì nhớ đứa kia, đi qua lại hụt cả hơí!
Mẹ
tôi năm nay đã ngoài 88 tuổi, những năm gần đây chân bà
đã yếu, phải lần vách hay nương gậy mà đi, nhưng may mắn
bà vẫn có thể lo việc vệ sinh và tắm rửa một mình. Được
như vậy, là nhờ anh tôi rất cẩn thận chăm lo sức khỏe,
cả nhà giữ một chế độ ăn uống kiêng cữ đặc biệt
với những thức ăn toàn loại phẩm chất dinh dưỡng khỏe
mạnh, ngoài ra, anh cũng cho bà giữ thời khóa vận động chân
tay nghiêm nhặt. Chương trình vận động tay chân của bà mỗi
ngày 3 lần, mỗi lần gồm có 3 mục : a. tập bốn động tác
khí công cải tiến nhẹ, mỗi động tác 10 lần, b. đi bộ
(lần vách đi) 10 vòng, c. lái xe (nương theo loại khung có hai
bánh xe đẩy đi) 10 vòng. Mẹ tôi vốn dễ dãi và bền bĩ
chịu đựng, nên dù bà mệt mỏi chán ngán vận động lắm,
nhưng vẫn chiều ý con cái gắng sức mà tập, bà chỉ lầm
thầm thở than : “Hồi nhỏ mình tập nó đi, bây giờ nó
bắt mình tập đi, đúng là bị quả báo!” Lòng dạ tôi mềm
yếu, mỗi khi được ủy thác trông chừng bà vận động,
theo dõi bà chừng nửa chương trình thì đã thấy chân tay
bà lết bết, hơi thở phì phò, mặt mày buồn hiu, tôi thương
quá, lánh đi nơi khác để cho bà tùy ý muốn làm sao thì làm.
Tôi biết mình yếu ớt như vậy là hơi phụ lòng anh tôi,
nhưng quả thật tôi không thể cố gắng nỗi. Mẹ tôi mà
sống với tôi, chắc chắn là tôi sẽ không nỡ ép bà vận
động, và như vậy có lẽ bà đã ngồi liệt một chỗ từ
lâu rồi.
Mấy
năm nay, chân yếu không còn đủ sức đi lại chia xẻ thời
gian với các con, mẹ tôi thường trực sống với anh tôi,
và hằng năm tôi đến thăm bà đôi lần, mỗi lần lưu lại
một hoặc hai tháng cho anh tôi thoải mái đi nghỉ hè, và tôi
cũng thoải mái có được những giờ phút riêng tư “hủ
hỉ” với mẹ. Ông anh tôi tính “siêu cẩn thận”, lần
nào cũng vậy anh dặn dò nhắc tới nhắc lui hàng trăm lần
thời dụng biểu và những điều cần thiết cho việc săn
sóc mẹ, tuy vậy anh vẫn chưa hài lòng, nên trước khi đi
anh còn trao cho chiếc cẩm nang, để mở ra xem xét lại từng
mục kẻo quên.
May
mắn là về phương diện thực đơn thì tôi không bị ràng
buộc quá đáng. Lần nào, bà xã tôi cũng ưu ái chuẩn bị
cho tôi một va li thức ăn đặc biệt, gồm toàn những món
ăn có thể thiếu tiêu chuẩn bổ dưỡng, nhưng rất hợp khẩu
vị của bà : tôm kho tàu, cá kèo kho, mắm chưng... Những món
ăn nầy gợi cho mẹ tôi nhớ lại hình ảnh quê hương xa xưa,
nhất là khoảng thời gian trẻ trung khi mới về nhà chồng.
Lần nào cũng vậy, mẹ tôi, mắt sáng ngời gắp con cá kèo,
giẻ miếng tôm đỏ au hay vít miếng mắm vào chén cơm,
rồi cười cười nhắc nhở : “Ở Cổ Chiên mình, cá kèo
đầy dẫy ở ven sông, người ta chê cá kèo, lòng tong, lục
chốt không ăn, nhưng bây giờ, thì nó là món ăn hiếm có
con há!...”, “Mắm lóc, nội con làm cả lu ăn suốt
năm chẳng hết”, “Ừ!Tôm càng ở Cổ Chiên mình nhiều
lắm! thằng Xê nhảy xuống sông lặn một hơi, trồi lên hai
tay cầm hai con. Còn vào mùa dở chà thì tôm càng nhiều quá
ăn không xuể, mình phải phơi khô, phải kho tàu như vầy nè
để ăn được nhiều ngày...”
Lúc
sau nầy, mẹ tôi lẩm cẩm quên trước quên sau, chỉ có khoảng
thời gian ấu thời và thời gian mới lập gia đình theo chồng
về Cổ Chiên là còn nhớ rất rõ. Tôi biết bà thích chuyện
xa xưa, nên mỗi khi bà nhắc nhở đến Cổ Chiên tôi thường
nói đùa : “Đằng đó, ởù Cổ Chiên có cá sấu không...?”
Đây là câu đầu tiên mà mẹ tôi ấp úng hỏi “trổng”
cha tôi trong ngày lễ “coi mắt” khoảng 70 năm về trước,
tới giờ nầy mà khi nghe nhắc lại bà vẫn còn sung sướng
vừa thẹn thùng như một thiếu nữ đang xuân. Bà cười hì
hì : “Ai biết gì đâu, nghe xứ Cổ Chiên lạ hoắc, tưởng
chỗ cọp beo, cásấu gì ở chớ!”.
Năm
xưa, nội tôi được người mai mối hướng dẫn đến nhà
ngoại tôi để xin kết nghĩa xuôi gia. Sau khi bàn luận và
cân nhắc tuổi tác các con gái gia chủ, nội bỗng ngỏ ý
chọn mẹ tôi làm dâu, mặc dù trước đó người mai mối
không hề đề cập gì về mẹ tôi cả. Mẹ tôi đang lúi húi
phụ giúp người nhà chuẩn bị bếp núc đãi khách, bỗng
bị bà ngoại ra lệnh cấp tốc chỉnh trang lại y phục, bưng
nước trà mời khách. Mẹ tôi ơ hờ theo lệnh ngoại. Mẹ
vừa trở xuống bếp chừng 10 phút, thì cha mẹ hai bên đã
long trọng tác thành đôi lứa. Khi ngoại thông báo cho mẹ
quyết định nầy, mẹ tôi chưng hửng chẳng biết người
chồng tương lai của mình mặt mũi ra sao nữa, nhưng phận
làm con “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó!” mẹ tôi đâu
dám hó hé gì. Sau đó, ngoại mới sắp xếp cho “hai đứa
nhỏ” được trò chuyện riêng. Mẹ ngồi trước mặt cha
tôi, thẹn thùng, sợ sệt, bối rối ngổn ngang, cúi gầm mặt
chẳng dám ngẩng nhìn, ba hỏi câu nào thì trả lời “trổng
trổng” câu đó. Sau cùng, bậm gan lắm bà mới hỏi câu đầu
tiên mà tôi lập lại để ghẹo bà ở trên.
Quê
ngoại tôi tại Hòa An, Cao Lãnh thuộc vùng nước ngọt, xóm
làng gần gũi, vườn cây trái xanh um, còn quê nội tôi là
một cù lao nhỏ, nằm ở vàm sông Cổ Chiên, tuy thuộc quận
châu thành tỉnh Trà Vinh, nhưng vị trí sát biển nên nước
lợ mặn quanh năm cây ăn trái hiếm hoi, xóm làng thưa thớt.
Ngoại tôi tin tưởng ông mai, một nhà giáo đứng đắn trong
vùng nên không dò xét kỹ, cứ đinh ninh Cổ Chiên thuộc quận
châu thành phải là chốn thị tứ, chừng đưa con gái về
nhà chồng, thấy cảnh hoang vắng đìu hiu, toàn là ruộng lúa
chen lẫn với rừng dừa nước, ngoại xót thương con gái đã
khóc ròng, trong khi mẹ tôi lại tỏ vẻ bình thản. Có thể
là bà đã phải gắng gượng đè nén tiếng nức nở để
tránh gây khổ đau thêm cho Ông Bà ngoại chăng?
Khi
tôi nghe mẹ kể đến chuyện nầy, tôi thường ghẹo bà :
“Má vừa gặp ba đã thương tức khắc, thương quá xá cỡ
rồi! ba sống ở đâu thì quyết chí theo ở đó, hùm beo cá
sấu còn chẳng sợ huống gì rừng lá! phải không má?”.
Mẹ tôi dễ tánh nên tôi mới dám “cà rỡn” với bà, tuy
là lời nói giỡn nhưng nó lại phản ảnh khá chính xác mối
tình yêu tha thiết thâm trọng hy hữu của bà dành cho chồng.
Có lần bà chị họ tôi nghe tôi nói câu nầy, cười hề hề
theo kiểu “biết rồi! khổ lắm! nói mãi!” rồi lên tiếng
: “Còn phải nói gì nữa. Nếu mợ không thương cậu sâu
đậm, thì làm sao chịu nỗi cảnh trung trinh góa bụa thờ
chồng được?”. Thật ra, chuyện mà tôi muốn nói ở đây
là tình yêu của mẹ tôi trải qua những năm tháng dài mù
mịt - cha chết khi mẹ mới 29 tuổi, tính ra đã 60 năm
rồi -, mà vẫn còn sâu đậm tha thiết như thời trẻ trung
mới là hy hữu, mới là đặc biệt. Cho nên, dù tuổi đã
kề cận 90, quên trước quên sau, mà khi nhắc đến thời gian
chung sống với chồng tại Cổ Chiên thì bà có thể thuật
linh hoạt hàng trăm thứ chuyện, từ sinh hoạt linh tinh giỗ
Tết cúng kiến, chuyện làm dâu, em chồng, cho đến chuyện
bà con lối xóm, ông câu, ông nói liệu, chuyện lúa thóc, tôm
cua..., chẳng chuyện nào bà quên cả. Mà hể câu chuyện nào
liên quan đến chồng, thì giọng nói của bà lúc đó tức
thời biến đổi thành tha thiết trang trọng, tình nghĩa tràn
đầy. Mấy ngày qua, mỗi khi tôi rót nước cam cho bà, bà đều
tươi cười nói “Ở Cổ Chiên mình làm gì có cam, ba con phải
mua cam tận chợ Trà Vinh để vắt nước đó!”. Đây là mẩu
chuyện mới nghe lần đầu, nhưng tôi ơ hờ chẳng để ý.
Chừng nghe liên tiếp vài mươi lần, tôi quan sát kỹ thái
độ vui tươi của bà khi nói ra câu đó thì mới hiểu ra.
Ở lứa tuổi mẹ tôi, vợ chồng thương yêu chiều chuộng
nhau là việc phải dấu kín, do đó, bà chẳng hề nhắc nhở
chuyện nầy với ai. Và bây giờ, đợi đến hơn 60 mươi năm
sau bà mới dám thổ lộ cho tôi nghe, mà niềm hạnh phúc được
chồng cưng “mua cam tận chợ Trà Vinh về vắt nước” vẫn
còn miên man trong lòng. (Tôi nghĩ một bà vợ dẫu được ông
chồng đổi cả sự nghiệp để mua hột xoàn dâng tặng, chưa
chắc đã hạnh phúc bằng mẹ tôi được ly nước cam ngày
xưa của ba tôi đâu!)
Mẹ
tôi hay quên, nhưng đầu óc vẫn còn sáng suốt, bà thường
nhìn cái già nua lọm khọm của mình với nụ cười hóm hỉnh.
Bà tự chọc quê sức khỏe yếu ớt mình là “không nghe lời”,
là “sanh tật”, nên thường cười hề hà than : “Cái
tay bữa nay không chịu nghe lời má...” hoặc : “Độ
rày, má già nên hay sanh tật quá!”
Mẹ
tôi quả thật có rất nhiều tật, mà đối với tôi thì tật
nào cũng đáng quý và dễ thương vô cùng. Tật lâu đời và
lớn nhất của bà là tật tận tụy hi sinh cho mọi người
mà chẳng hề kể lể thở than. Sau năm 1945, vùng quê Cao Lãnh
kém an ninh, hoa lợi lúa ruộng suy giảm, khả năng thuê mướn
người giúp đỡ khó khăn, trong khi ông bà ngoại lại già
yếu, bệnh hoạn liên miên. Mẹ tôi có bảy chị em gái,
nhưng chẳng ai có điều kiện và thiện chí để về quê chăm
sóc cha mẹ già, nên bà đành hi sinh lãnh nhiệm vụ nầy ròng
rã hàng mười mấy năm trời mà chẳng hề được chị em
nào gánh vác cho một tháng. Trong thời điểm nầy, phải kể
đến những lúc cực kỳ gian khổ, khi bà ngoại bị nằm liệt
hơn 3 năm, ông ngoại cũng không xê dịch trong 6 tháng, mẹ
tôi ngày đêm túi bụi lo cơm nước, lo đút từng miếng cơm,
từng ngụm nước, nài nĩ từng viên thuốc, lo việc tiêu tiểu,
tắm rửa, lại phải bù đầu chăm sóc nhà cửa ruộng vườn,
chắt mót từng nải chuối, buồng cau... để có thêm hoa lợi.
Mẹ tôi cực khổ dường ấy, nhưng luôn luôn cắn răng chịu
đựng, chẳng một lời thở than, cũng chẳng hề dựa vào
công lao của mình để suy bì, hay trách cứ nặng nhẹ chị
em nào cả. Thuở nhỏ, tôi rất ấm ức “tật” nầy, nên
càm ràm : “Má cực khổ phải nói ra cho mấy dì biết, nếu
không, ai cũng tưởng má sung sướng lắm!”, mẹ tôi cười
hỉ xả rồi thôi. Mẹ bền bĩ phụng dưỡng ngoại, cho đến
khi ông bà lần lượt từ trần, thì mới lặng lẽ về Saigon
chung sống với các con, để lại nhà cửa ruộng vườn của
ngoại cho bà chị gánh vác.
Với
anh em chúng tôi cũng vậy, bà trọn đời xả thân tận tụy
phục vụ, thương yêu chăm sóc, mà cũng chẳng bao giờ kể
lể công ơn hay thở than mỏi mệt. Đến khi lũ cháu ra đời,
tánh bà cũng chẳng khác, khi có cơ hội thì bà tức thời
thương yêu chí thiết, chiều chuộng hết mình, chăm sóc nâng
niu từng li từng tí. Các con tôi một mực thương quí nội
và thường nhắc lại những ngày sống chung được nội thăm
dò nhu cầu từng đứa để lăng xăng phục vụ, hay cặm cụi
làm đủ loại bánh, gọt sẵn đủ loại trái cây để nài
nĩ, dụ dỗ chúng ăn. Thời còn ở Việt Nam, em gái tôi xuất
ngoại giao hai con gái bé bỏng cho ngoại nuôi giữ mấy năm
trời, bà sẵn sàng dang tay đùm bọc, tâng tiu như bảo vật.
Đến khi anh tôi vượt biên còn kẹt lại đứa con gái mới
lên 4 tuổi, cũng yên tâm phú thác cho bà nhận lãnh. Cháu bé
bất ngờ bị đau sốt xuất huyết nặng phải đưa vào bệnh
viện Triều Châu cứu cấp. Thời đó, thuốc Tây khan hiếm,
bác sĩ ngụy chỉ còn mấy móng, dịch sốt xuất huyết hoành
hành dữ dội khiến tỷ lệ trẻ em tử vong rất cao, vì vậy
bệnh viện Triều Châu đông nghẹt bệnh nhân, cháu bé còn
có chỗ nằm, mẹ tôi phải ngồi chầm chập canh chừng cháu
không phải một hai giờ mà là suốt bốn ngày đêm. Lúc đó,
hàng ngày tôi phải đi học tập thật chuyên cần, sáu giờ
chiều mới có thể đến thay thế cho bà đôi giờ để bà
tắm rửa tạm nghỉ ngơi lấy sức mà thôi. Sau khi mạng sống
của cháu được cứu vãn thì mẹ tôi cũng gần hụt hơi.
Tôi biết nếu mẹ tôi lơ là một chút thì mạng sống của
cháu khó an toàn. Thời gian sau, tôi đưa mẹ và cháu đi vượt
biên thành công, mẹ tôi bàn giao cháu cho anh tôi với nụ cười,
và tánh nào tật ấy, bà không hề kể lể những nỗi nhọc
nhằn của mình. Anh có nghe cháu đau thì bất quá nghĩ rằng
đó là chỉ chuyện ấm đầu, sổ mũi, uống một viên aspirine
là xong, chớ đâu tưởng tượng hoàn cảnh thập tử nhất
sanh của cháu ngày đó.
Giờ
đây, tuổi ngày càng cao thì mẹ tôi – theo nguyên văn từ
ngữ bà xử dụng – lại càng sanh tật nhiều thứ lắm. Tật
hay quên, tật chân tay yếu ớt, tật mắt kém đọc viết,
khó khăn... Vì sợ bà sanh tật thình lình, nên anh em chúng
tôi thay phiên nhau trông chừng bà ngày đêm, nhất là lúc bà
tắm, sợ bà sanh tật té nên túc trực ở ngoài nghe ngóng.
Bà tắm xong, chúng tôi xấy tóc, gỡ đầu cho bà, kẻo bà
sanh tật cảm lạnh thì nguy. Một hôm sau khi gỡ tóc cho mẹ,
sẵn thấy có đôi vớ, tôi mang cho bà. Tôi bỗng ngẩn người,
khi nhìn thấy móng chân của bà dài ngoằn, có móng như bấu
vào thịt. Thì ra, tuy bà còn có thể tự cắt móng tay, nhưng
bà đã “sanh tật” không thể cúi xuống để cắt móng chân
được. Tôi săn sóc mẹ mà không để ý điều nầy, nên vừa
xót xa vừa xấu hỗ, lên tiếng hỏi bà : “Sao má không bảo
tụi con cắt móng chân cho má”. Bà cười hồn nhiên : “Mấy
người giàu sang, ăn không ngồi rồi, để móng tay móng chân
năm nầy tháng nọ, mà có sao đâu?”
Mấy
hôm trước, tôi túc trực bên ngoài khi bà tắm, nhưng chờ
khá lâu vẫn không nghe xối nước. Việc tắm rửa của bà
kéo dài là chuyện rất bình thường vì lẽ nội cái việc
lụm khụm cỗi đồ ra và bận đồ vào cũng tốn rất nhiều
sức lực và thời giờ rồi. Tôi lên tiếng hỏi dọ vài lần
thì bà trả lời bình thường, mà tiếng nước vẫn im bặt
một cách lạ lùng. Hơn hai giờ sau, bà mới mở cửa bước
ra, mặt hơi giận, lầm bầm : “Bữa nay, sao cái chân sanh
tật cụt ngủn hà! bước vào bồn tắm hoài không được,
nên đâu có tắm!”. Bồn tắm cao, tôi biết mẹ phải khó
khăn mới dở chân lên vừa đủ để bước vào, nhưng vẫn
làm lơ cho bà có cơ hội cố gắng vận động tối đa. Tôi
an ủi : “Chuyện đó dễ mà, để ngày mai con sắp xếp lại,
rồi má sẽ bước vào bồn tắm dễ ợt hà!”. Lâu lắm rồi
tôi mới thấy mẹ tôi lộ vẻ buồn, bà than : “Sao má sống
lâu quá vậy? Má đâu muốn sống dai như vậy, con ạ!”. Tôi
an ủi mẹ theo tinh thần đạo Chúa của bà : “Mình đâu có
thể mong muốn chuyện gì được má! Chúa bảo sống đến
đâu thì mình sống đến đó thôi, phải không má?”. “Ưà!”.
Tuy bà “ừa”, nhưng nhận thấy bà vẫn chưa vui, tôi giả
giọng con nít lên tiếng : “Má nó chết, thì ai nuôi nó! hu
hu!”, nhờ vậy mẹ tôi cười tươi lên. (Nguyên thuở mẹ
còn ấu thơ, chừng năm sáu tuổi, một hôm bà chứng kiến
bầy chó vật con gà mẹ chết. Bà khóc hoài, vỗ mãi không
nín và cứ thắc mắc hỏi ngoại : “Má nó chết thì ai nuôi
nó!”. Ngoại bực mình quá nói : “Má nó chết thì mầy nuôi
nó!”. Vậy mà mẹ tôi đồng ý, nín khóc, rồi mỗi ngày
đứng ra “chít chiu”săn sóc đám gà con cho đến khi chúng
lớn thành gà giò. Chuyện nầy là một trong những chuyện
hiếm hoi tại Cao Lãnh mà mẹ tôi kể lại. Một hôm mẹ tôi
và dì Năm – một bà 88, một bà 90 tuổi – được con cháu
sắp xếp cho điện thoại thăm nhau, hai bà nói chuyện nào
cũng trớt qướt, nhưng vừa nhắc đến vụ “Mẹ nó chết,
ai nuôi nó”, hai bà rộn ràng tranh kể lại cho nhau nghe và
đồng hớn hở vui cười.)
Ngày
hôm sau, tôi nhấc cái ghế đặt sát bồn tắm, bà ngồi trên
ghế dở chân bỏ qua bồn, rồi đứng dậy tắm dễ dàng,
nên mẹ tôi rất hài lòng. Tật “chân cụt” lần nầy thì
giải quyết được, nhưng chắc chắn bà còn sanh tật
dài dài, và đó là điều khiến cho tôi lo lắng triền miên.
Hồi tôi đang học lớp năm, có lần tôi bị nổi dời trên
háng, mẹ tôi bảo tôi cỡi quần ra để bà xức thuốc. Tôi
mắc cỡ còn vùng vằng thì bà nạt đùa : “Tao là má mầy,
tao sanh mầy ra mà mắc cỡ nỗi gì”. Hôm qua, tôi đã nhắc
lại chuyện nầy cho mẹ tôi nghe, để chuẩn bị, có ngày
nào đó, tôi phải săn sóc mẹ, mà mẹ mắc cỡ thì tôi sẽ
lập lại tương tợ như vầy : “Con là con của má! từ bụng
má chui ra, mà má mắc cỡ nỗi gì!”
Mấy
năm trước, tôi có viết truyện ngắn tựa đề “Lấy chồng
xa xứ”, theo đó, người con gái sau khi hiểu được công
ơn cha mẹ như trời như biển sức mình không thể báo đền
chữ hiếu, bèn cất tiếng thở than qua điệu ru em :
Cha
mẹ ơi! sanh con là gái
Biết
chừng nào trả ngãi mẹ cha
Chừng
nào cho cá hóa rồng
Đền
ơn cha mẹ, ẫm bồng thuở xưa.
Thật
ra, tôi đã viết bài nầy cho chính tôi, và đây là tiếng
than của tôi khi nghĩ đến sự hiếu dưỡng nan giải của
mình đối với mẹ. Bạn đọc có thể chế diễu tôi : “Cha
nầy, đàn ông mà mượn giọng đàn bà tâm sự thì yếu quá!
tệ quá!”. Các anh các chị biết không? tôi nghĩ rằng vì
tôi là đàn ông nên sự tình mới trở nên tồi tệ. Giả
dụ tôi là đàn bà, thì tôi có thể chăm sóc mẹ chu đáo
những chuyện thân mật : tắm rửa, thay quần áo... thì tốt
đẹp cho mẹ con tôi biết là bao nhiêu.
Mùa
Vu Lan 2004
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 10-2004
Down
Load " Word Document" (WinZip File 361 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân