HẠN CHẾ
SANH ĐẺ,
các
tôn giáo và khoa học ở Pháp
Nguyên
Minh Lê Hữu Phương
Từ
mấy nghìn năm nay, đối với người phụ nữ, việc sanh con
là nguồn vui vô tận nếu đứa con được chờ đợi, nhưng
cũng có thể là một cô chiếc tuyệt vọng nếu đứa con không
được mong muốn. Tiến bộ lớn của thế kỷ thứ XX nầy
là khoa học đã đem đến cho phụ nữ và cho vợ chồng phương
tiện để có thể chọn lựa số con mình muốn và lúc sanh
đẻ thuận tiện để đem lại hạnh phúc trong gia đình. Quyền
cơ bản được làm cha mẹ có trách nhiệm đó, đã được
ghi trong các nghị quyết và các thỏa thuận siêu quốc gia,
như trong tuyên ngôn của Hội đồng Âu-châu (tháng 11-1975 và
tháng 3-1978) hay trong nghị viện Âu-châu (30-03-81, 12-03-90).
Phương
tiện được chọn lựa lúc có con và số con, dự định là
sự Ngừa thai và sự ngưng thai theo ý muốn. Ngừa thai và ngưng
thai theo ý muốn. là điều kiện quan trọng trong việc giải
phóng phụ nữ mà cũng là một sự kiện xã hội trên thế
giới.
Hai
phương tiện nầy được hợp pháp trong một số lớn các
nước. Hạn chế sanh đẻ "hiện đại" còn gặp rất nhiều
khó khăn với những thành kiến cổ truyền, với những phong
tục tập quán khác nhau và nhất là với những tôn giáo, trong
đó đạo Thiên Chúa đã và đang chống đối một cách tuyệt
đối; các tôn giáo khác có thái độ ít cứng rắn hơn. Đạo
Phật được các nước phương Tây coi là đạo bao dung và
nhân đạo nhất.
Hành
nghề y ở Pháp từ lâu, có cảm tình với sự đấu tranh quyền
phụ nữ và việc hợp pháp hóa của hạn chế sanh đẻ, mà
cũng là một Phật tử tôn trọng tất cả các tôn giáo chân
chính khác, tôi xin phép trình bày sau đây vài sự kiện của
quá trình hạn chế sanh đẻ ở Pháp và thái độ của những
tôn giáo trước việc hạn chế sanh đẻ nầy.
I
Ngừa thai
Trọng
tâm của hạn chế sanh đẻ là ngừa thai chứ không phải phá
thai.
Về
Ngừa thai, ở các nước phương Tây, người ta thường dùng
túi bọc cho đàn ông, thuốc uống ngừa thai và vòng xoắn
cho đàn bà. Thuốc uống ngừa thai làm ra năm 1950 và áp dụng
vào khoảng 56-57. Vòng xoắn được tìm ra năm 1928 và áp dụng
ở Nhật, Israel, Mỹ năm 1950. Ngoài ra túi bọc còn là phương
tiện ngừa các bệnh truyền nhiễm do giao hợp nam nữ đem
lại nhất là bệnh Sida. Những chất diệt tinh tại chỗ dường
như không còn dùng nữa. Làm tuyệt sinh sản bằng thủ thuật
cắt vòi tử cung thuộc vào những trường hợp đặc biệt.
Thủ thuật cắt ống dẫn tinh trùng chỉ còn dùng ở vài nước
đang tiến. Hiện giờ, vaxcin ngừa thai đang được nghiên cứu.
Nên nói thêm là những thuốc viên uống để ngừa thai ngày
nay được dùng dễ dàng vì điều lượng ít hơn lúc trước
từ 5 đến 7 lần.
Trước
khi luật Neuwirth ra đời (1967), ngừa thai vẫn còn bị trừng
phạt nặng nề ở Pháp. Luật năm 1920 kết án bị tù từ
1 đến 6 tháng và bị phạt từ 36.000 đến 1.800.000 FF, những
ai có liên quan gì với tuyên truyền việc chống thụ thai..."
Lúc
ấy, ở Pháp có lối 850.000 phá thai lén lút mỗi năm nghĩa
là mỗi khi một đứa bé sanh ra thì có một đứa bé chết
vì phá thai lén lút. Đó là một sự kiện xã hội xảy ra
ở các gia đình nghèo, đông con, phá thai trong điều kiện
thiếu vệ sinh; cho nên vào những năm 50, tỷ lệ tử vong của
người mẹ có đến vài chục ngàn người và số người đàn
bà không có con được sau khi phá thai cũng có đến vài chục
ngàn người (Janine Mossuz-Lavau - Les lois de l'amour - Documents Payot
1991). Tôi đã chứng kiến, vào năm 1959, chỉ riêng ở nhà
sản khoa của nhà thương Lariboisière, 3 người đàn bà trẻ
chết trong một tháng vì phá thai lén lút, 2 người bị nhiễm
khuẩn huyết (septicémie), 1 người bị chảy máu. Trong lúc
đó, những gia đình có phương tiện, đi phá thai ở các bệnh
viện Thụy-sĩ hoặc Anh.
Cũng
như theo lời Phật dạy trong kinh Niệm Xứ (Trung bộ kinh),
muốn hiểu rõ thế nào là thân không trong sạch, các tỳ kheo
có thể ra nghĩa địa nhìn "thi thể bị quăng bỏ, một ngày,
hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại,
nát thối ra. Tỳ kheo quán thân ấy là như vậy...". Ai muốn
hiểu rõ tình trạng đau khổ của những người mẹ hay những
đứa trẻ chết vì phá thai vào thời kỳ 50-60, hãy vào nhà
xác của các nhà thương hay các bệnh viện chuyên về khoa
sản mà nhìn xem thi thể.
Phong
trào "Sanh đẻ có kế hoạch trong gia đình" (Planning familial)
do bà Lagrove Weill Hallé hướng dẫn bắt đầu hoạt động
bán công khai từ năm 1950. Trong lúc đó, ở các nước Âu tây,
các trung tâm hạn chế sanh đẻ (birth control) đã hoạt động
công khai từ lâu: ở Hòa Lan từ 1882, ở Danemark từ 1905, ở
Mỹ từ 1916, ở Anh từ 1921... Bà Lagrova Weill Hallé kiên quyết
và nhiệt tình đấu tranh kêu gọi các giới y học, khoa học
và những ai quan tâm đến việc giữ gìn sức khỏe của phụ
nữ, việc sanh đẻ bảo đảm trong gia đình... phải đòi bãi
bỏ luật 1920.
Trong
suốt mười mấy năm, Phong trào sanh đẻ có kế hoạch trong
gia đình dần dần được nhiều phong trào khác hưởng ứng:
1953, nhóm Littré của bác sĩ Simon hợp cùng với các bác sĩ
franc-ma篮s bỉ, thụy sĩ, hòa lan nhằm mục đích thông tin
và tuyên truyền phương pháp ngừa thai nhập vào phong trào
Sanh đẻ có kế hoạch của bà Weill Hallé; vài năm sau, có
thêm phong trào đòi quyền phụ nữ. Sau cùng, là một số lớn
các nhân vật và đông đảo quần chúng, càng ngày càng tham
gia ủng hộ càng đông, có tiếng vang đến một số báo chí.
Trước
tình thế sôi nổi như vậy, các nhà chính trị không thể
không có phản ứng: dưới sự thúc ép của các đảng chính
trị phía tả trước, rồi đến một phần của các đảng
phía hữu sau, năm 1967, luật Neuwirh được Quốc Hội chấp
nhận: bãi bỏ luật 1920 và cho phép chống thụ thai bằng thuốc
viên, vòng để tránh thụ thai hoặc hormone cấy dưới da.
Dù
ngừa thai được hợp pháp, Phá Thai vẫn không được hợp
pháp. Tuy vậy, Phong trào sanh đẻ có kế hoạch trong gia đình
và nhiều phong trào đòi quyền phụ nữ coi đó là một thắng
lợi lớn cho người phụ nữ Pháp, từ nay có quyền tự do
lựa chọn lúc có con. Người phụ nữ làm chủ được việc
sanh đẻ theo ý muốn của mình, là làm chủ được thân của
mình. Ngoài bổn phận làm mẹ, người phụ nữ còn có khả
năng lao động và làm nhiều việc khác có ích cho xã hội.
Người ta bắt đầu nhìn người phụ nữ với cái nhìn khác;
cái nhân phẩm của họ phải được tôn trọng. Phụ nữ không
còn là cái máy đẻ con và cái máy làm việc nội trợ nữa.
II.
Tôn Giáo và việc ngừa thai
Trở
ngại lớn nhất của sự tranh đấu và áp dụng ngừa thai
ở Pháp là Đạo Thiên Chúa và phong tục do thái-cơ đốc.
Luật Neuwirth cho phép ngừa thai được tuyên bố cuối năm
1967 thì ngày 29-7-68, thông cáo của Đức Giáo Hoàng (Humanae
Vitae) xác nhận lại một lần nữa sự chống đối của đạo
Thiên Chúa về những phương pháp ngừa thai "hiện đại" (thuốc
uống ngừa thai và vòng tránh thụ thai).
Mãi
đến ngày nay, thái độ ấy cũng vẫn không thay đổi.
Trong
kinh Cựu Ước (Ancien testament), sự không con bị coi như là
sự trừng phạt của Đức Chúa Trời; còn có con nhiều, là
phép lành của Đức Chúa Trời ban cho (Evangelium vitae-Jean Paul
II). Dùng phương pháp ngừa thai sẽ đi ngược hướng với
Kinh Cựu ước.
Cũng
trong Evangelium vitae trang 55, Đức Giáo hoàng Jean Paul II nói
thêm: "lúc khởi nguyên, sự hiện hữu của con người nằm
trong dự định của Đức Chúa Trời và được thánh hóa (consacré),
trước khi được hình thành trong bụng mẹ". Ngoài ra, từ
lúc thụ tinh, trứng có một sự sống riêng biệt, không phải
của cha hay của mẹ mà là của Thượng đế ban cho. Người
mẹ chỉ là người nhận sự sống đó.
Ngược
lại, đối với Giáo sư René Frydman, người đã tạo ra Amandine,
đứa bé gái sanh ra đầu tiên ở Pháp (1982) theo phương pháp
"sanh sản trong ống nghiệm và chuyển phôi vào tử cung" (Gs
Frydman cũng là thành viên Ban tư vấn Đạo đức quốc gia (84-88):
Dự định của cha mẹ muốn có con là thiêng liêng: "Nếu cái
phôi được cha mẹ mong muốn, thì nó là thiêng liêng, vô giá,
phải vận dụng những gì có thể được để nó tiếp tục
sự sống của nó. Còn nếu nó không nằm trong dự định đó,
nếu không ai muốn chấp nhận mang nó, chúng tôi cũng kính
trọng nó với danh nghĩa của những gì nó có thể trở thành,
nhưng không phải là sự tôn trọng ngây ngô và vô điều kiện.
Sự tôn trọng hợp lý có thể nhất trí với ý kiến về
nghiên cứu khoa học... (Dieu, la médecine et l'embryon-Edt. Odile
Jacob 1996. Trang 198). Xin nhắc lại, về sinh học, gọi phôi
là trứng mang trong bụng mẹ, từ lúc thụ tinh đến tuần
thứ 12; sau tuần thứ 12, các bộ phận đã được hình thành,
thì gọi là thai.
Lý
do chính của đạo Thiên chúa chống ngừa thai là: theo đạo
Thiên chúa, mục đích của giao hợp giữa vợ chồng là để
sanh sản. Giao hợp và sanh sản không thể tách rời nhau được.
Dùng những phương pháp nào giao hợp để không có thai hoặc
có thai mà không có giao hợp như sanh đẻ trong ống nghiệm
và chuyển phôi vào tử cung là không hợp pháp với đạo Thiên
Chúa.
Còn
về việc thích thú tự nhiên của sự giao hợp, phải chờ
đến năm 1951, Đức Giáo Hoàng PIE XII mới nhìn nhận rằng
vợ chồng có quyền hưởng thụ sự thích thú ở trước đó,
đối với đạo Thiên chúa, giao hợp chỉ là một bổn phận
thôi. Nhưng dần dần, việc hạn chế sanh đẻ cũng làm cho
hoàng y giáo chủ suy nghĩ. Trước kia, người trong đạo Thiên
chúa không được quyền bàn tới việc hạn chế sanh đẻ.
Vào thập niên 30, Đức giáo hoàng cho phép vợ chồng có thể
giao hợp trong giai đoạn không sinh sản của người vợ trong
mỗi tháng và cho phép vợ chồng có quyền giao hợp tự do
trong trường hợp hoặc người chồng, hoặc người vợ không
sinh sản được. Và sau cùng, cho phép dùng phương pháp Ogino
là phương pháp nói trên để hạn chế số con trong gia đình.
Đạo
Thiên chúa cấm triệt để dùng những phương pháp khác dù
rằng túi bọc không làm tổn hại cho ai mà còn là phương
tiện chống bệnh Sida có công hiệu. Điều nên nhấn mạnh
là có sự chênh lệch lớn giữa Quyền y giáo chủ cứng rắn
của Vatican và một số lớn tín đồ Thiên chúa trong việc
áp dụng ngừa thai. Có thể nói rằng giáo lý của một đạo
mà tín đồ không theo, là giáo lý trống rỗng. Giả sử Đức
Chúa Jésus sống ở thời đại nầy, tôi tin rằng Ngài sẽ
cho phép tín đồ ngừa thai.
Đối
với các tôn giáo khác, như đạo Tin lành, đạo Do thái, đạo
Hồi, phong trào đấu tranh tự do ngừa thai không gặp khó khăn
gì trong thực tế.
Vào
thập niên 60, Đạo Phật chưa được phát triển nhiều ở
Pháp. Theo kinh sách và theo giáo lý của đạo Phật là đạo
từ bi, diệt khổ, không lý do gì mà không chấp nhận ngừa
thai. "Ngừa thai không bạo lực" còn được đức Dalai-Lama
chủ trương trong việc hạn chế sanh đẻ phòng giảm nạn
tăng gia dân số trên thế giới.
III.
Phá Thai
Vài
năm sau luật cho phép ngừa thai ra đời, số người phá thai
lén lút vẫn còn cao, việc truyền thông tin tức ngừa thai
chưa được phổ biến rộng ra nhiều trong quần chúng, nhất
là ở các cấp dân nghèo, ở tỉnh nhỏ và ở nông thôn. Đạo
Thiên chúa tiếp tục chống đối mãnh liệt: các giám mục
ở Pháp nhắc đi, nhắc lại nhiều lần: "đời sống của
con người không thuộc về kẻ khác, không thuộc về cha mẹ
dù rằng cha mẹ sanh ra, không thuộc về quốc gia, cũng không
thuộc về con người của mình mà thuộc về Đức Chúa Trời."
Mặt khác, thực tế cho biết rằng thành kiến và phong tục
Cơ Đốc vẫn còn in sâu trong một số lớn người Pháp, nhất
là những người có tuổi.
Luật
1920 chống phá thai vẫn còn áp dụng và trừng phạt nặng
nề, phải tù từ 6 tháng đến 3 năm và tiền phạt từ 100
F đến 300 F (cũ) những ai tuyên truyền phá thai bằng lời
nói, giấy in, sách vở... ở những nơi công cộng... và điều
khoản 317 của đạo luật 1939 còn phạt nặng thêm: những
người thuộc ngành y sẽ bị cấm hành nghề ít nhất là 5
năm hoặc suốt đời... những người tái phạm sẽ bị tù
từ 5 đến 10 năm và bị phạt từ 5.000 F đến 20.000 F (cũ).
Năm 1955, một số điều khoản khác lại còn khắt khe hơn
nữa, nhưng ngược lại, cũng vào năm 1955, luật 11-05 cho phép
Phá Thai Điều Trị, nếu có thai hại đến tính mạng của
người mẹ.
Vài
năm đầu, sau khi được phép tự do ngừa thai, phương tiện
ngừa thai hiện đại không thu hút được đông đảo phụ
nữ. 1970: 6-7% dùng thuốc ngừa thai -1971: 12-13% -1975: 24-25%.
Phải chờ dến năm 88, tỷ số phụ nữ từ 18 tới 49 tuổi
dùng thuốc ngừa thai và vòng xoắn lên đến 49% và vài năm
sau đến 2/3.
Hai
thập niên 60-70 là hai thập niên lịch sử tạo ra nhiều điều
kiện thuận tiện cho Phong Trào Đòi Quyền Phá Thai. Hai điều
kiện thuận tiện nhất là: tình hình xã hội của nước Pháp
lúc bấy giờ và phong trào đòi nữ quyền. Tình hình nước
Pháp thay đổi một cách bất ngờ. Những thành phần trẻ,
không những ở Pháp mà ở cả thế giới, chán chê chiến
tranh trên thế giới, nhất là ở Việt Nam, chán chê đời
sống đơn điệu, quan lại khó thở, vùng lên năm 1968 bẻ
gãy các cơ cấu và tư tưởng của xã hội cũ rích, đòi quyền
tự do nhiều hơn. Một trong những tự do đó, là tự do giới
tánh, tự do luyến ái với khẩu hiệu mà nhiều người ở
thế hệ ấy còn nhớ: "Hãy luyến ái. Không chiến tranh" (Faites
l'amour et non la guerre). Phong trào đòi nữ quyền ra đời mùa
hè 70, phát triển mạnh mẽ. Về mặt sinh sản, phụ nữ đòi
quyền tự do làm chủ lấy thân mình, nghĩa là, trước tiên,
quyền tự do phá thai. Phong trào nầy ủng hộ tích cực Phong
trào sanh sản có kế hoạch trong gia đình.
Có
3 sự kiện thúc đẩy Quốc hội phải lấy quyết định về
việc phá thai.
Sự
kiện thứ nhất: tháng 05-71, báo Le Nouvel Observateur đăng
lên bản tuyên ngôn của 343 phụ nữ tự nhận mình có phá
thai: "Một triệu người đàn bà phá thai trong một năm ở
Pháp. Vì bắt buộc, nên họ phải phá thai lén lút trong điều
kiện nguy hiểm, thay vì được phá thai dễ dàng, dưới sự
bảo đảm của y học. Không ai nói đến cả triệu người
đàn bà ấy. Tôi tuyên bố rằng tôi là một trong những người
phụ nữ ấy. Tôi tuyên bố rằng tôi có phá thai. Cũng như
chúng tôi đã đòi quyền tự do sử dụng những phương pháp
ngừa thai, chúng tôi đòi quyền tự do phá thai." Trong số người
ký tên, có nhiều nhân vật nổi tiếng như Simone de Beauvoir,
Margueritte Duras, Lolleh Bellon, Catherine Deneuve, Gisèle Halimi, Fran篩se
Sagan... Tuyên ngôn đó là một quả bom, gây ra cảm tình tốt
trong quần chúng về sự giải phóng hoàn toàn ngừa thai và
phá thai. Những người ký tên trên bản tuyên ngôn chờ đợi
bị kêu ra tòa vì đã phạm pháp; nhưng rốt cuộc rồi tòa
không nhúc nhích.
Sự
kiện thứ nhì: không bao lâu sau bản tuyên ngôn của 343
người phụ nữ, 252 bác sĩ ra bản tuyên ngôn nói lên lập
trường của họ trong việc phá thai. "Lĩnh vực chuyên môn
của chúng tôi không cho phép chúng tôi đề cập đến vấn
đề đạo đức hay hệ thống tư tưởng trong việc phá thai.
Xác nhận rằng phá thai là một trọng tội hay không trọng
tội thuộc quyền tự do cá nhân. Ở Pháp, theo ước tính thông
thường, có 850.000 vụ phá thai trong một năm. Phá thai trong
điều kiện được bảo đảm hay không là tùy thuộc có tiền
hay không có tiền, mặc dù phá thai là chuyện bất hợp pháp.
Dù muốn dù không, phá thai là một quyền như những phụ nữ
đã tuyên bố và là một sự kiện xảy ra mỗi ngày. Trong
kinh nghiệm hành nghề hằng ngày, chúng tôi không thể nào
không biết đến." Hai tháng sau, có thêm một số bác sĩ khác
ký tên vào bản tuyên ngôn đó: tổng cộng có 560 chữ ký
và có tiếng dội vang lên báo chí.
Sự
kiện thứ ba là "vụ kiện Bobigny": một cô bé 16 tuổi
bị đưa ra tòa vì đã phá thai. Người tình nhân của cô tố
cáo. Cô được tòa xử thả lỏng. Ngày hôm sau, nhiều báo
chí bình luận về việc thả lỏng nầy và nhận thấy rằng,
đây không phải là lần đầu tiên mà luật cấm kỵ phá thai
không được áp dụng. Có luật mà không áp dụng thì luật
đó là luật ma.
Hôm
sau, đến lượt người mẹ của cô, người phá thai và hai
người bạn của người mẹ của cô làm trung gian giới thiệu
cô cho người phá thai. Luật sư Gisèle Halimi đưa ra tòa một
số người làm chứng trong đó có một số nhân vật như Michel
Rocard, đại biểu quốc hội, giáo sư Paul Milliez, giáo sư Jacques
Monod (giải thưởng Nobel về y học), Simone de Beauvoir, giáo
sư Francis Jacob (giải thưởng Nobel về y học)... Jacques Monod
cho ý kiến của ông: "quyền lựa chọn cho sư sống, trước
hết thuộc về người đang sống nghĩa là người mẹ...
Cuối
cùng, tòa tha hai người làm "trung gian", phạt người mẹ 500
F treo, người phá thai một năm tù treo. Tất cả các người
làm chứng đều đồng ý rằng: chỉ có người phụ nữ mới
có quyền chọn lựa có con hay không; người bác sĩ hay một
thể chế nào đi nữa cũng không có quyền thay thế người
phụ nữ để lấy quyết định về việc đó.
Dưới
sức mạnh của đông đảo quần chúng, của nhiều phong trào
đòi quyền phụ nữ, nói chung của thế hệ những thập niên
60-70, ngày 13-11-74, Bà Veil, bộ trưởng bộ y tế, đưa ra Quốc
hội, dự án luật nhằm cho quyền phá thai. Ngày 15-01-75, dự
án được thông qua, thông thường gọi là luật Veil. Luật
nầy cho phép người phụ nữ có thai có quyền hỏi một bác
sĩ ngưng thai với hai điều kiện sau đây:
1.
người phụ nữ phải ở trong tình thế cô chiếc tuyệt vọng
(situation de détresse).
2.
Phải ngừng thai trước cuối tuần thứ mười sau khi thụ
tinh (ở Hòa-Lan cho phép ngưng thai trước cuối tuần thứ 20;
ở Anh trước cuối tuần thứ 23). Qua tuần thứ 11, ngưng thai
cố ý sẽ không hợp pháp. Trong trường hợp Ngưng thai điều
trị vì sự có thai và sanh đẻ có hại đến tánh mạng của
người mẹ hay vì cái thai có bệnh hiểm nghèo, thời gian ngưng
thai không có hạn định. Ngoài ra, người bác sĩ có quyền
từ chối phá thai, nhưng phải cho người mẹ biết sớm.
Tuy
việc ngưng thai cố ý được áp dụng ở Pháp trên 20 năm
nay nhưng dư luận vẫn còn phân tán trong quần chúng và giữa
các đại biểu quốc hội. Từ 1975 đến giờ, số phá thai
cố ý không tăng lên: giữa 150.000 - 160.000 một năm. Điều
đáng chú ý là, ngày nay, tử vong của người mẹ không còn
nữa. Khả năng sanh sản ở Pháp (cũng như ở các nước của
cộng đồng kinh tế Âu châu) được giảm xuống: một người
đàn bà, trung bình có 1 đứa con rưỡi (không đủ để thay
thế một thế hệ. Trong lúc đó ở Phi châu, miền nam sa mạc
Sahara, một người đàn bà có trung bình 6 đứa con).
Muốn
đạt được kết quả như vậy phải có nhiều yếu tố hội
lại: tuyên truyền và thông tin hạn chế sanh đẻ ở một
quy mô rộng lớn. Giáo dục hạn chế sanh đẻ cho vị thành
niên trong cả nước. Mức học hỏi và mức sống trong nước
phải được nâng cao ở một tối thiểu nào đó.
IV.
Tôn Giáo và ngưng thai cố ý
Ngừa
thai là một chuyện. "Ngưng thai cố ý" là chuyện khác, phức
tạp hơn, khó khăn hơn vì nó dính líu với vấn đề Đạo
đức và tôn giáo. Trọng tâm của vấn đề là: phôi là một
vật, một con người (individu), một nhân thể (personnalité)
hay một tiềm tàng nhân thể (một nhân thể trở thành, une
personne potentielle)? Từ lúc nào phôi có sự sống? (Trong kinh
của các đạo thần khải, từ animation thường được dùng
để chỉ sự sống hoặc linh hồn; linh hồn trong đạo Thiên
chúa và trong các đạo thần khải khác là bất biến, bất
diệt). Phôi có linh hồn trước lúc thụ thai, ngay từ lúc
thụ thai hay sau lúc thụ thai?
Nếu
phôi là con người, thì phá phôi là giết người. Cho nên phải
định nghĩa quy chế của phôi. Ủy ban tư vấn quốc gia đạo
đức Pháp định nghĩa phôi là tiềm tàng con người (con người
trở thành). Định nhĩa nầy không thỏa mãn ai cả. Cũng như
các nhà triết học và y học, đạo Thiên chúa biết rằng
không thế nào xác định được phôi là người hay không.
Trong
lịch sử của đạo Thiên chúa, quy chế của phôi thay đổi
nhiều lần: trong kinh Cựu ước, đời sống của đứa bé
chưa sanh được coi như tương đương với đời sống một
người trưởng thành vì cả hai đều là do Đức chúa trời
ban cho.
Sau
đó, Nhà thờ chia ra làm hai luồng tư tưởng: một luồng tin
rằng phôi có linh hồn - là người - một thời gian sau khi
trứng thụ tinh: Tertullien (thế kỷ thứ II sau Công nguyên),
Jérome và Augustin (thế kỷ thứ IV-V). Luồng tư tưởng khác
xác dịnh rằng phôi có linh hồn ngay từ lúc trứng thụ tinh:
Clément d'Alexandrie, (thế kỷ thứ II sau CN), Grégoire de Nysse
(thế kỷ thứ IV sau CN). Còn theo Thánh Thomas d'Aquin (thế kỷ
tứ XIII sau CN), thì Phôi có linh hồn một thời gian sau khi
thụ tinh: 40 ngày trong trường hợp con trai, 80 ngày trong trường
hợp con gái. - thời Trung đại (moyen Âge), tùy theo trường
hợp thai có hồn hay không có hồn mà người đàn bà phá thai
bị hình phạt nặng hay nhẹ: "Người dàn bà phá thai bị phạt
tù 3 năm rưỡi nếu phá sau lúc thụ tinh, 7 năm nếu thai được
hình thành và 14 năm nếu thai có hồn."
1854,
Đức giáo hoàng PIE IX tuyên ngôn về sự thụ thai "trong trắng"
của Dức Mẹ Sainte Marie (thụ thai không có giao hợp, đức
Mẹ không có tội gốc - péché originel) bào chữa chính đề:
thai có linh hồn ngay từ lúc thụ thai.
Hiện
giờ, theo luật giáo hội Thiên chúa thông qua năm 1917 và theo
bài giảng thần học của Đức giáo hoàng, Nhà thờ tuyên
bố: "thai có quyền sống từ lúc thụ tinh, phá thai là phạm
tội giết trẻ con mới đẻ vì thai là một con người hay
ít nữa là một con người trở thành. Người đàn bà bị
phá thai hay người phá thai sẽ bị trục xuất ra khỏi đạo."
Không
thể thảo luận hay tranh luận với những người đại diện
nhà thờ về vấn đề phá thai; người theo đạo Thiên chúa
phải coi Đức giáo hoàng không bao giờ sai lầm, về đức
tin cũng như về đạo đức. Đó là một giáo điều. Nhưng
cũng xin nhắc lại là một số Đức giáo hoàng trước Đức
giáo hoàng Jean Paul II phạm phải bốn sai lầm lớn: sai lầm
thứ nhất là vụ lên án nhà bác học Galilée (1564-1642)
trước tòa án dị giáo, bắt Galilée phải từ chối việc
xác nhận trái đất và những hành tinh khác xoay xung quanh mặt
trời và trái đất tự xoay một vòng trong một ngày. Phải
chờ đến năm 1992, ĐGH Jean Paul II mới phục hồi danh
dự cho Galilée. Sai lầm thứ nhì là Nhà thờ chống đối
Học thuyết tiến hóa các loài của Darwin (1859). Gần đây,
ĐGH Jean Paul II nhìn nhận học thuyết nầy có giá trị. Sự
kiện thứ ba là Nhà thờ chống đối sự chủng đậu (vaccination)
ở thế kỷ rồi. Sự kiện thứ tư là nhà thờ chống
nhân quyền trong 150 năm, trước khi tranh đấu cho nhân quyền.
Ngoài ra, đạo Thiên chúa triệt để cấm phá thai, dù rằng
ở tình trạng bị hãm hiếp hay loạn luân (inceste).
Đạo
Thiên Chúa Chính Thống (Eglise orthodoxe) không có thông cáo chánh
thức. Tu sĩ thần học Jean Breck cho một định đề (postulat)
về nhân loại học: con người là thiêng liêng và sự sống
có từ lúc thụ thai. Đạo Thiên chúa chính thống cấm
phá thai. Nhưng thông cảm trong những trường hợp tuyệt vọng,
khốn khổ vì nhân từ. Trong những trường hợp ngoại lệ
đó, người đàn bà nên hỏi ý kiến của một giám mục.
Đạo
Do Thái và Đạo Hồi (Islam) có nhiều điểm giống nhau, không
có tập trung của một cơ quan tối cao như quyền y giáo chủ
của đạo Thiên chúa. Một giáo trưởng (rabbin) của đạo
Do thái hay một Trung tâm tư tưởng như Đại học của Hồi
giáo sunnite Al Azhar có quyền hạn khá lớn. Đạo Do thái và
đạo Hồi có một tổ chức có tánh cách "cộng đồng" hơn.
Theo
hai đạo nầy, sự sống của phôi xuất hiện ra một thời
gian sau khi thụ tinh: 40 ngày theo sưu tập Talmud của đạo
Do thái - 40 ngày hay 120 tùy theo kinh sách của đạo Hồi. Sau
thời gian ấy, sự sống hiển nhiên có tính cách thiêng liêng.
Đối với đạo Hồi, sự sống bắt đầu từ lúc "nụ thai"
(bouton embryonnaire) được thấy - nghĩa là theo nhà thông thái
Iran Avicenne (thế kỷ thứ nhất sau công nguyên) ngày thứ 21
sau khi trứng thụ tinh; theo một số nhà quan sát khác, ngày
thứ 30 sau khi thụ tinh. Trong đạo, cũng có luồng tư tưởng
tin rằng sự sống có mặt lúc vừa mới thụ tinh nhưng số
người tin như vậy rất ít.
Tiến
sĩ Dalil Boubakeur, hiệu trưởng đền thờ Hồi giáo Paris và
đại diện cho tôn phái malékite, xác định rằng phải tôn
trọng tuyệt đối sự sống của phôi từ lúc hai di sản di
truyền nhập hợp lại nghĩa là từ lúc thụ tinh trong bụng
mẹ hay trong ống nghiệm. Xác định của ông Boubakeur trái
ngược với kinh điển của nhiều tôn phái khác của đạo
Hồi về khoảng thời gian xuất hiện của sự sống.
Về
lý thuyết, sự sống có thể hiện diện hay không vào lúc
thụ tinh. Nhưng trong thực tế, nói chung là Đạo Hồi chống
phá thai, trừ hai ngoại lệ: nếu có thai có thể hại đến
tánh mạng người mẹ và nếu thai có bệnh dẫn đến tử
vong.
Cách
nhìn của đạo Do thái có khác hơn. Đạo nầy coi sự sống
của người mẹ phải được ưu tiên hơn sự sống của phôi.
Đạo Do thái cũng chống phá thai; không những phá thai hủy
bỏ sự sống mà còn là sự "cắt bỏ" một phần thân của
người mẹ. Vì vậy nên quy chế của phôi trong bụng mẹ và
phôi trong ống nghiệm có khác biệt trước Luật của đạo.
Trong bụng mẹ, phôi coi như một phần của thân mẹ; muốn
hủy nó đi, phải có lý do chính đáng. Ngược lại, việc
trừ bỏ phôi trong ống nghiệm không dính dáng gì với thân
của người mẹ.
Trong
các tôn giáo độc thần, đạo Do thái là đạo đầu tiên
đề cập đến sự sống của phôi hiện ra 40 ngày sau khi thụ
tinh. Theo kinh Talmud, trước đó phôi chỉ là nước. Các nhà
khoa học ngày nay suy ra rằng có thể có phép nghiên cứu khoa
học trên phôi dưới 40 ngày vì sự sống chưa có.
Ngoài
ra, toàn bộ luật của đạo Do thái (Torah) nói rõ là phôi
không phải là người trong bụng mẹ. Có nhiều kinh cho rằng
đứa bé có linh hồn hay sự sống khi nào cái đầu của nó
ra khỏi lòng mẹ. Nếu đứa bé không được thấy ngoài lòng
mẹ thì nó không có quy chế. Trong trường hợp sanh khó, luôn
luôn phải cứu người mẹ trước. Chừng nào phôi mới thành
người? Phôi sẽ dần dần thành người từ ngày 40 đến lúc
sanh ra.
Đạo
Do thái và đạo Hồi đều đồng ý trên một điểm chính:
sự sống của phôi hiện ra ít nhất là 40 ngày sau khi thụ
tinh, nghĩa là trước 40 ngày phôi không phải là người. Nếu
không phải là người, tại sao không cho phép phá thai? Mâu
thuẫn đó hơi khó hiểu. Có kinh nói rằng, tuy chưa phải là
người, phôi vẫn được coi như cái gì thiêng liêng.
Trong
hai đạo, điều chính là khi gặp khó khăn, tín đồ nên hỏi
ý kiến của một Rabbin hay một Imam vì hai vị nầy thay mặt
đạo, có quyền lấy quyết định, giải quyết từng trường
hợp một. Luật đạo Do thái có đặc điểm là biến động
và mềm dẻo. Trong thực tế, cuối cùng mỗi người tự lấy
trách nhiệm.
Phật
giáo không chấp nhận ý niệm về Người sáng tạo và Sự
sáng tạo.
Quan
niệm của Phật giáo về phôi có thể tóm lại trong những
câu sau đây trích ra ở quyển sách Tìm Đạo của Hòa thượng
Thích Thiện Châu - 1996.
"Một
cách tổng quát, khoa sinh vật học chứng minh rằng một nhân
phôi là sự hợp nhất của hai thành tố, tinh trùng của người
đàn ông và noãn (trứng) của người đàn bà. Phật giáo xác
nhận rằng ngoài hai thành tố này còn có một thành tố thứ
ba nữa là cái Thức tái sinh (patisandhivinnana) xuất hiện vào
lúc thụ thai: điều ấy muốn bảo rằng trong khi những điều
kiện di truyền được thể hiện trong một điều kiện thuận
tiện, một hình thức tâm vật lý xâm nhập và giúp cho sự
tương tục của sự sống của một hữu thể người (être
humain) như đức Phật đã dạy. "Chỗ nào có ba thành tố ấy
tập hợp thì chỗ ấy một mầm sống được gieo."
"Theo
thuyết tái sinh, sự chết là một cái cửa mở ra một hình
thức sinh ra khác. Hai sự hiện hữu (đời sống) được nối
lại bởi cái thức tái sinh, được tạo ra bởi ý tưởng
ngay trước khi chết và tái xuất hiện vào lúc thụ thai tức
là với sự hình thành một sự sống mới trong người mẹ.
Cái thức nầy được nhận định như là "cái hữu thể sẽ
sinh ra. Ngày sau đó, nó biến vào trong cái dòng tiềm thức
(subconscient) của sự sống mới mà nó không ngừng tạo ra.
Chính cái thức tái sinh quyết định tính chất tiềm ẩn của
một cá nhân".
Hai
công thức thu hẹp sau đây có thể mô tả được sự khác
biệt giữa các tôn giáo độc thần và Phật giáo về phôi:
Theo
tôn
giáo độc thần: Phôi=Tập hợp tinh trùng của cha + trứng
của mẹ + Linh hồn (âme) được Đức chúa Trời ban cho --->
cho sự sống.
Theo
đạo Phật: Phôi=Tập hợp tinh trùng của cha + trứng của
mẹ + nguyên lý sống (Thức tái sinh=chủng tử (bija) + nghiệp
lực (karma) + Khát ái (tanha) ---> cho sự sống mới.
Đạo
Phật coi phá thai là giết hại đời sống của một hữu thể.
Tôn
trọng đời sống là một trong những giới cơ bản của đạo
Phật. Nhưng đạo Phật, đạo của thực tại, thực dụng
mà cũng là đạo của Diệt khổ. Có nhiều trường hợp ngoại
lệ, thai nghén là nguồn gốc vô cùng khổ đau, có thể hại
cho tánh mạng của người mẹ hay người mẹ có thể sanh ra
một đứa con dị thường hoặc có bệnh hiểm nghèo bất trị.
Trong những trường hợp đó, đạo Phật dùng từ bi mà bao
dung cho việc ngưng thai. Điều nầy, Đức Dalai Lama có nêu
ra trong những cuộc đàm thoại với nhiều nhà khoa học ở
Mỹ hay ở Pháp (Dalai Lama - Au delà des dogmes - Albin Michel 1994,
tr 55).
V.
Phôi và Khoa Học
Phôi
là gì đối với những nhà Khoa Học? "Câu trả lời của các
nhà sinh vật học rất rõ ràng: Phôi có tính chất người
và thuộc về loài người. Nhưng sự sống là gì? Tất cả
tế bào của chúng ta "sống", tinh trùng, trứng trước khi thụ
tinh cũng "sống". Chúng có thuộc về loài người không? - Quả
thật là không. Đối với các nhà phôi học cũng vậy, có
nhiều yếu tố cơ bản không thể chối cãi được, như có
nhiều giai đoạn trong sự phát triển của phôi: một tiến
trình lạ kỳ, vừa là một sự liên tục không ngừng, vừa
là một sự nối tiếp của nhiều giai đoạn được xác định
rõ ràng.
Giai
đoạn I : ở giai đoạn nầy, trứng được phân chia ra,
từ lúc thụ thai đến khi hình thành lối 8 tế bào (48 giờ).
Lúc đó, di sản di truyền của người cha phát hiện ra rất
ít; trứng sống được là nhờ chất dự trữ của người
mẹ. 8 tế bào ấy gọi là hợp tử. Gọi hợp tử là phôi
thì quá đáng. Người ta thường gọi như vậy, tôi cũng gọi
như vậy cho tiện. Đến lúc bấy giờ, những tế bào ấy
còn là tổng năng nghĩa là mỗi tế bào, khi tách ra, cho được
một phôi khác.
Giai
đoạn II : là giai đoạn phân biệt hóa (différentiation).
Bắt đầu từ bây giờ, một cái bao, le trophoblaste (sau nầy
sẽ là cái nhau) sẽ tách rời ra khỏi một nhóm tế bào khác.
Nhóm tế bào nầy là nụ phôi (sau sẽ thành phôi). Lúc đó,
hợp tử được lối 5 ngày. Gọi nó là phôi có chính đáng
chăng? Có thể chính đáng. Tuy vậy, phối hợp và chia tách
tế bào còn có thể cho phôi khác được.
Giai
đoạn III : ngày thứ 7, trứng chuẩn bị bám vào tử cung.
Màng trong (membrane pellucide) bao bọc trứng ở lớp ngoài tan
ra, tế bào trophoblaste sinh nẩy ra bám vào tử cung. Tế bào
của nụ phôi vẫn chưa nẩy nở nhưng gặp gỡ được hoàn
cảnh xung quanh, bắt đầu sự biểu sinh thật sự (biểu sinh
là sự hình thành dần dần của phôi).
Giai
đoạn IV : sau khi bám vào tử cung, các tế bào bắt đầu
phát triển theo hướng chuyên môn của chúng: một số tế
bào sanh nẩy ra để sau cùng cho tim, một số khác cho thận,
một số khác cho não v.v... Nhưng đến cuối tuần thứ hai,
phôi có thể chia đôi ra cho 2 đứa bé sơ sinh (sinh đôi). Sau
ngày thứ 14, tách tế bào ra sẽ tạo thành quái thai, ví dụ
sanh đôi dính nhau (siamois).
Ở
Mỹ và ở Anh, các nhà sinh vật học gọi khối tế bào nhỏ
vào khoảng ngày thứ 14 là "Mầm phôi". Về mặt sinh học,
gọi như vậy cũng có lý. Về mặt triết học, phân biệt
sinh học như vậy có nghĩa là phân biệt quy chế bản thể
học (ontologique) của phôi, trước và sau khi phôi bám vào tử
cung. Người Mỹ và người Anh coi việc phân biệt ấy rất
quan trọng vì đến ngày thứ 14, mầm phôi có thể chia ra làm
đôi và cho hai đứa bé nghĩa là hai cá thể (individus). Như
vậy mầm phôi không phải là một hữu thể người (être humain)
vì hữu thể người, theo thực chất và theo định nghĩa, là
một, là duy nhất. Nếu không phải là "hữu thể người" thì
có thể nghiên cứu trên đó. "Lý luận như vậy, theo tôi là
pha trộn sinh học (tế bào tổng năng) với siêu hình học
(quy chế của con người), không làm tôi hoàn toàn thỏa mãn.
Tôi cũng đồng ý một phần nào, nhưng tôi nhấn mạnh một
lần nữa, vai tuồng nòng cốt của ý muốn, dự định của
cha mẹ trong sự xác định quy chế mới của nhóm tế bào
đó... Nếu cha mẹ mong muốn có con, có dự định có con, thì
đối với tôi, phôi thai sẽ được coi là thiêng liêng, là
bước đầu của tiến trình dẫn đến việc trở thành con
người sau nầy." (René FRYDMAN).
Cũng
theo René Frydman, các nhà khoa học phải định một ngưỡng
nào đó để cho phép việc thí nghiệm trên phôi. Cái ngưỡng
đó, đối với R. Frydman là giai đoạn mà phôi-hợp tử bám
vào tử cung (dưới ngày thứ 14). Điều đó, ủy ban tư vấn
về Đạo đức có thể chấp nhận được. Sau ngày thứ 14
thì phôi sẽ bất khả xâm phạm.
Sự
phân tách các giai đoạn của phôi đặt ra một câu hỏi mà
tôi chưa có trả lời "- giai đoạn I: trong trường hợp thụ
tinh trong ống nghiệm chẳng hạn. Nếu đúng như các tôn giáo
xác nhận rằng có linh hồn ngay từ lúc thụ tinh hay theo Phật
giáo, có thức tái sinh vào lúc thụ tinh, sau 48 giờ, trứng
thụ tinh sẽ chia ra làm 8 tế bào hợp tử; giả sử, nhà khoa
sản chuyển mỗi hợp tử vào một tử cung và trong trường
hợp hoàn toàn thành công, sẽ có 8 phôi khác nhau và sau nầy
sẽ có 8 đứa bé sanh ra. Làm sao giải thích được, từ một
linh hồn hoặc một tâm thức có thể chia ra làm 8 linh hồn
hay 8 tâm thức cho tám đứa bé được? (Tôi nhấn mạnh lại
một lần nữa rằng linh hồn của các tôn giáo thần khải
và tâm thức của Phật giáo khác nhau một trời một vực:
linh hồn của các tôn giáo là một, bất biến và vĩnh viễn.
Còn tâm thức của Phật giáo cũng là một nhưng tâm thức
đó có cái dụng thay đổi luôn luôn và cái thể vĩnh hằng.
Cái thể ấy là Chân tâm hay Phật tánh).
Câu
hỏi trên đây có tánh cách siêu hình hiếu kỳ chứ không
làm thay đổi gì về niềm tin của tôi đối với chánh pháp
nghìn năm bất diệt của Phật giáo.
***
Khoa
học, đặc biệt là sinh vật học tiến nhanh với tốc độ
mà luật pháp không theo kịp. Amandine ra đời năm 1982 mà ở
Pháp chưa có luật pháp về sinh sản trong ống nghiệm và chuyển
phôi. 1983: Thành lập Ủy ban Tư vấn Quốc gia về Đạo Đức.
Ủy ban nầy được thành lập lần đầu tiên trên thế giới.
Ủy ban gồm có 1 chủ tịch, 1 chủ tịch danh dự và 39 thành
viên do một sắc lệnh chỉ định: 5 đại diện cho những
truyền thống tâm linh hay triết học (thiên chúa, tin lành,
do thái, đạo Hồi và marxiste), 19 nhân vật đã hoạt động
hay tỏ rõ thành tâm nhân đạo và 15 đại diện giới khoa
học (Inserm, université, Cnrs, académie des sciences, collège de France...).
Mỗi nhiệm kỳ là 4 năm. Chủ tịch và thành viên có thể
ở lại một nhiệm kỳ thứ nhì một lần. Nhiệm vụ của
Ủy ban nầy không phải là làm luật mà là tìm một thỏa
thuận chung của những luồng tư tưởng khác nhau để thông
tin những phát minh mới và vạch ra đường lối thận trọng
để tôn trọng con người và nhân phẩm của nó.
Năm
1984, Ủy ban cho ý kiến về quy chế của phôi: "Phôi hay thai
phải được nhìn nhận như một người trở thành đang hay
đã sống và phải được mọi người tôn trọng". Do đó,
không được mua bán phôi - không được thí nghiệm phôi ở
trong hay ở ngoài bụng mẹ - phôi có quyền chết với nhân
cách: không có quyền giữ phôi sống một cách nhân tạo để
lấy mô (tissu) - không có quyền ngưng thai điều trị hay ngưng
thai theo ý muốn để sử dụng mô phôi.
Nếu
suy nghĩ kỹ thì thấy trong quy chế phôi của Ủy ban có ba
điều không rõ ràng:
1.
Được nhìn nhận như một người: nghĩa là chưa phải là
người nhưng cũng không phải là vật. Nghĩa là gì?
2.
Có nhiều tác giả cho "một người" là quan trọng. Như vậy,
ngưng thai là giết người.
3.
Có nhiều tác giả cho "trở thành" là quan trọng. Như vậy,
ngưng thai không phải là giết người.
Quy
chế của phôi đến ngày nay cũng vẫn không thay đổi.
Ủy
ban tư vấn về đạo đức còn nhiều vấn đề phức tạp
cần phải giải quyết nhất là vấn đề sanh sản nhân tạo,
thí nghiệm ở phôi và kiến tạo di truyền.
***
Tóm
lại: Kinh nghiệm ở Pháp cho ta thấy rằng: đấu tranh đòi
quyền ngừa thai và ngưng thai là việc rất khó khăn: trong
đó phụ nữ là chủ động, khoa học là phương tiện.
1.
Ngừa thai đem lại cho người phụ nữ và cho vợ chồng chọn
lựa được lúc có con và số con dự định. Làm chủ được
việc thai nghén và làm chủ được thân mình là vấn đề
cơ bản trong việc giải phóng phụ nữ.
2.
Ngừa thai là việc trọng yếu trong vấn đề hạn chế sanh
đẻ. Ngưng thai cố ý hay ngưng thai điều trị là trường
hợp ngoại lệ.
3.
Đối với các tôn giáo ở Pháp, chỉ có đạo Thiên chúa có
thái độ cứng rắn chống ngừa thai. Các tôn giáo khác, tuy
cứng rắn trên nguyên tắc nhưng mềm dẻo trong áp dụng.
4.
Đạo Phật không chống đối ngừa thai. Ngược lại, coi ngừa
thai là một phương pháp có thể giúp cho việc giảm tăng gia
dân số trên thế giới, một trong những nguy cơ lớn cho loài
người ở thế kỷ sắp đến. Đối với việc ngưng thai,
Đạo Phật có thái độ từ bi trong những trường hợp đau
khổ ngoại lệ.
5.
Khoa học tiến nhanh với tốc độ mà luật pháp không chạy
theo kịp. Khoa học đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cho nên
cần có một Ủy ban tư vấn quốc gia đạo đức, hợp lại
một số nhà khoa học, triết học, tôn giáo... để suy nghĩ
và vạch ra lối đi tốt nhất và thận trọng nhất cho khoa
học để phục vụ loài người.
Rất
cảm ơn cư sĩ Lại Như Bằng đã gửi tặng bản điện tử.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 10-2004
Down
Load " Word Document" (WinZip File 361 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân