THIỀN ĐỊNH
DƯỚI ÁNH SÁNG KHOA HỌC
Quán
Như Phạm Văn Minh
Matthieu
Ricard, một nhà sư Tây Tạng thuộc tu viện Shechen ở Nepal,
đã đồng ý tham dự một cuộc thử nghiệm để các nhà khoa
học theo dõi những thay đổi của tế bào não bộ khi ông
nhập định, theo một chương trình nghiên cứu của đại học
Winconsin. Ricard, pháp danh là Oser, đã chịu vào nằm trong ống
của máy chụp hình ba chiều fMRI, nhờ đó các nhà tâm lý
có thể theo dõi các biến đổi của não bộ bằng âm hưởng
của từ trường, thường dùng trong các phòng thí nghiệm.
Ba mươi sáu năm trước đây, trước khi thọ giới, Matthieu
Ricard cũng là một nhà khoa học có nhiều triển vọng, đã
đậu tiến sĩ về sinh học di truyền tại viện Pasteur ở
Paris.
Trong
cuộc thử nghiệm này, Matthieu Ricard lại trở thành “đối
tượng” nghiên cứu của một số các khoa học và kỹ thuật
gia. Ricard phải quên cảnh ồn ào trong phòng thí nghiệm để
nhập vào thế giới thiền định bên trong. Trong vòng 3 tiếng
đồng hồ khi Ricard nhập định, các máy fMRI ghi nhận hình
ảnh thay đổi của tế bào não bộ. Đây là lần đầu tiên
các khoa học gia chứng kiến sự biến đổi của các tế bào
não bộ của một nhà sư đang ở trong trạng thái thiền định.Những
khám phá này có thể khiến cho các khoa học gia suy nghĩ lại
về những biến đổi của não bộ liên hệ đến khả
năng giúp con người trở nên an lạc và hạnh phúc hơn. Cuộc
thử nghiệm này do giáo sư Richard Davidson, giám đốc Phòng
Nghiên Cứu Thần Kinh thuộc đại học Wisconsin điều khiển.
Trong
khi vào trong trạng thái thiền mà Phật Tử thường gọi là
quán từ bi, người ngồi thiền quán tưởng đến một cá
nhân nào đó với lòng thương cảm, các tế bào ở khu não
thùy phía trước bên trái (ngay bên trong trán) của Ricard có
nhiều dấu hiệu hoạt động mạnh mẽ. Não thùy phía trước
bên trái là nơi khích động tình cảm. Trong những lần thử
nghiệm trước, Davidson đã có kinh nghiệm những người nào
có não thuỳ bên trái phía trước hoạt động nhiều, là lúc
người đó đang vui mừng, cảm thấy hạnh phúc và nhiệt thành-
hoặc họ là những người có tâm tính vui vẻ và dễ dàng
hồi phục sau khi gặp những biến cố tình cảm tiêu cực.
Trong
khi đó những người nào có tâm tính buồn bã, lo lắng, sợ
hãi hay sầu muộn, các tế bào ở khu não thùy bên phải phía
trước hoạt động nhiều hơn. Phần lớn chúng ta đều ở
mức trung bình. Trong biểu đồ hình cái chuông của Davidson,
có 67% thuộc mẫu người hạnh phúc trung bình, 33% có những
có não thuỳ trái hay phải hoạt động thái quá, nghĩa là
những mẫu người thật hạnh phúc hay quá đau khổ.
Tuy
nhiên hoạt động não bộ của Ricard vượt cao hơn bất cứ
một người nào mà Davidson đã thử nghiệm từ trước đến
nay. Một đồng nghiệp của Davidson nhận xét biểu đồ của
Ricard “ra khỏi biểu đồ đã có từ trước đến giờ”
Ngay cả khi nhà sư này không nhập định, mức hoạt động
của tế bào não thùy bên trái phía trước vẫn hoạt động
ở một mức cao.
Gần
đây một số nhà khoa học tuyên bố nhửng người tâm tính
hạnh phúc hay đau khổ phần lớn do các yếu tố di truyền
“tiền định.” Ngay cả khi một người trúng số độc đắc
hay chứng kiến một tai nạn thảm khốc có thể kích thích
các tế bào thần kinh ở não thùy trước bên trái hay bên
phải hoạt động mạnh hơn một chút, tuy nhiên mức hoạt
động của não thùy có khuynh hướng trở về tình trạng cũ.
Một
thử nghiệm quan trọng để hiểu trạng thái thiền định
về phương diện khoa học đã được tiến hành vào 3 năm
trước đây, trong cuộc gặp gỡ ly kỳ giữa Đức Đạt Lai
Lạt Ma và một nhóm khoa học gia và triết gia Tây Phương ở
Dharamsala, Ấn Độ, trong số này có cả Richard Davidson và Owen
Flanagan, giáo sư triết lý tại đại học Duke ở North Carolina.
Vị
lãnh đạo tinh thần của Phật Giáo Tây Tạng đã thảo luận
liên tiếp trong vòng 5 ngày với các chuyên gia về tâm lý,
triết lý và thần kinh học để xem khoa học có thể học
được những gì về sự liên hệ giữa thân thể và tâm linh,
nhất về phương diện tình cảm, từ Phật Giáo, một tôn
giáo có truyền thống thực tập thiền định trong hơn 2,500
năm.
Truyền
thống Đông Phương đã biết sự liên hệ mật thiết giữa
thân thể và tâm linh và Phật Tử đều biết tâm an lạc sẽ
giúp thân thể mạnh khỏe. Theo y khoa Tây tạng, hai yếu tố
giúp bịnh nhân mau lành là tâm cảnh của thầy thuốc và tâm
cảnh của bịnh nhân.
Tuy
nhiên các nhà khoa học đời nào chịu chấp nhận những lời
quả quyết nào không chứng minh bằng thực nghiệm. Nếu các
nhà khoa học chứng minh thiền định có lợi ích về mặt
chuyển hóa các tình cảm tiêu cực, thiền định có thể đem
ra áp dụng cho tất cả mọi người, Phật Tử hay không Phật
Tử. Mục đích của thử nghiệm này nhằm cung cấp một phương
pháp thực dụng và thế tục để làm vơi đau khổ và đi
tìm tình cảm hạnh phúc an vui. Tuy nhiên Đức Đạt Lai
Lạt Ma đã nói một câu bất hủ là, nếu khoa học cho thấy
thiền định không giúp ích gì cả, Ngài sẵn sàng suy nghĩ
lại về truyền thống thực tập lâu đời này của Phật
Giáo. Ngài còn nói, nếu khoa học tìm ra những kết quả đi
ngược lại với lòng tin của người Phật Tử, Phật Giáo
phải thay đổi lòng tin của mình theo những khám phá mới
này. Lòng tin của Phật Tử phải phù hợp với sư thực.
Kết
quả của cuộc gặp gỡ này được đúc kết trong quyển sách
Destructive Emotions: A Scientific Dialogue with the Dalai Lama do Daniel
Coleman hiệu đính. Trong tháng tới, sẽ có một cuộc gặp
gỡ giữa Ngài và sinh viên viện Kỹ Thuật Massachusettts.
Kết
quả của các thử nghiệm sơ khởi này nhằm loại trừ những
tình cảm tiêu cực mà Phật Giáo hay nhắc đến như giận
dữ, ghét bỏ, ghen tỵ và cho thấy là Thiền Định có những
ảnh hưởng đáng ngạc nhiên vào sự uyển chuyển của não
bộ, khả năng uốn nắn và thay đổi kinh nghiệm.
Điều
thích thú là khi nhập vào quán từ bi, các tế bào thần kinh
hoạt động mạnh mẽ và Ricard vẫn vui vẻ mặc dầu ông bị
nhốt bó rọ trong ống của máy chụp fMRI trong nhiều tiếng
đồng hồ. Coleman cho biết là khi Ricard ra khỏi các ống chật
hẹp fMRI, ông vẫn sảng khoái và tươi tắn. Ai đã từng giúp
đỡ bạn bè hay bất cứ người nào đang trong tình trạng
nguy cấp vì lòng thương cảm đều có thể nhận thấy cảm
giác vui sướng này. Phật Giáo nói là hành động thúc đẩy
bởi từ bi trước tiên đem những lợi ích đến người thi
ân. Những bức ảnh chụp những hoạt động tế bào thần
kinh não bộ của Ricard đã xác nhận điều này.Tuy nhiên có
thể không có yếu tố nào đủ để giải thích trọn vẹn
tại sao Ricard lúc nào cũng an lạc. Như Coleman đã nhận xét,
có thể trãi qua nhiều năm thiền định nên Ricard mới đạt
đến tình trạng an nhiên này. Hay là vì những chủng
tử di truyền đã khiến cho Ricard trở thành một người hạnh
phúc? Hay Ricard là một trường hợp ngoại lệ khác thường?
Cũng
có thể não thùy trái phía trước của Ricard đã quen hoạt
động trong khi những người thường như chúng ta sống một
cuộc đời quá bận rộn nên thường các tế bào ở não thùy
bên phải phía trước bị kích thích thường xuyên hơn! Hay
chỉ có những nhà sư chọn lựa một đời sống nơi hang sơn
cùng cốc và tu tập thiền định mới đạt được trạng
thái an lạc này? Như đứa con trai của Owen Flanagan theo cha
đến Dharamsala nói: “Nếu con không cưới vợ như mấy nhà
sư hay không có con đang vào tuổi vị thành niên, con cũng sung
sướng như họ vậy!”
Nhằm
loại bỏ những yếu tố có thể giúp Ricard hạnh phúc như
việc ông chọn đời sống không ràng buộc của một nhà sư
và kinh nghiệm ngồi thiền, Richard Davidson tổ chức một cuộc
tu thiền kéo dài 8 tuần lễ với 25 nhân viên của công ty
Promega, một công ty sinh học kỹ thuật cao cấp, tuổi từ
23 đến 56, có dấu hiệu não thùy bên phải phía trước hoạt
động nhiều (những người bị căng thẳng hay đau khổ). Những
người này cho ban quản trị biết là tinh thần họ bị căng
thẳng và không thích công việc đang làm. Sau khóa thực hành
thiền định 8 tuần, não thùy bên trái phía trước của họ
tăng gia hoạt động. Các nhân viên này nói họ cảm thấy
hạnh phục hơn và nhiệt thành hơn với công việc và đời
sống. Sau đó họ thực tập thêm 4 tuần lễ nữa, các bán
cầu não bên trái phía trước của những người tham dự khóa
thực tập thiền có nhiều dấu hiệu tăng gia hoạt động,
trong khi các nhóm không ngồi thiền không thấy có dấu hiệu
thay đổi nào.
Trong
khi những cuộc thí nghiệm dài hạn cần phải được tiếp
tục thực hiện để loại bỏ những yếu tố khác có thể
làm cho các nhân viên này cảm thấy hạnh phúc hơn, các
nhà khoa học nghĩ rằng việc ngồi thiền dài hạn có thể
làm thay đổi tình cảm và tình cảm tích cực như hạnh phúc
có thể trở thành mẫu mực của tình cảm nơi những người
mà chúng ta thường hay nói là mẫu người luôn vui vẻ và
hạnh phúc.
Đây
là những giả định của lý thuyết này. Khi chúng ta
kinh nghiệm về một tình cảm, chúng ta vận động não bộ
theo một cách để đáp ứng với tình cảm đó và tạo ra
những mạch điện nối kết trung tính. Khi tình cảm giống
như thế trở lại, hệ thống hoạt động của tế bào thần
kinh liên hệ với tình cảm này càng ngày càng trở nên mạnh
mẽ hơn. Cũng giống như một dòng sông chảy qua một khe núi
trong một thời gian dài, mạch điện tạo ra những dòng điện
và sau một thời gian, mạch điện này trở thành khuôn mẫu
cho tình cảm và tính tình của một người. Nếu chúng ta luôn
kinh nghiệm tình cảm tiêu cực nhiều hơn là tình cảm tích
cực, tình cảm tiêu cực sẽ trở nên khống chế và khiến
cho các tế bào thần kinh ở não thùy bên phải phía trước
tăng gia mức hoạt động.
Những
cuộc nghiên cứu trước đây của Davidson cho thấy, cũng giống
như việc vận động cơ thể làm bắp thịt mạnh hơn, thực
tập thiền định cũng làm phần của não bộ kích thích sự
giận dữ và sợ hãi bị kềm chế và do đó khiến cho chúng
ta có cảm giác an lạc. Và không giống như những vận động
như khiêu vũ chỉ làm cho chúng ta vui thú trong giây lát, ngồi
thiền tích tụ kết quả tốt và qua một thời gian dài, các
tình cảm tiêu cực càng lúc càng trở nên yếu ớt và bớt
khống chế tâm cảnh chúng ta hơn.
Nếu
giả thuyết này đúng, thiền định có thể giúp những người
bị chứng trầm cảm (Depression) vượt qua những cơn khủng
hoảng. Trên thực tế những cuộc thử nghiệm cho thấy đối
với những người bị trầm cảm, thiền định giúp họ giảm
nguy cơ bị khủng hoảng từ 66 tới 37 phần trăm.
Tình
cảm tiêu cực không những ảnh hưởng đến an lạc hay tâm
cảnh, chúng còn ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta
nữa. Các não thùy phía trước, cùng với những phần khác
của não bộ, đóng một vai trò quan trọng trong việc phát
khởi tình cảm, mà còn liên hệ mật thiết đến áp huyết,
kích thích tố và hệ thống miễn nhiễm của chúng ta.
Vì
thế Davidson muốn làm một thử nghiệm khác với các nhân
viên Promega bằng cách cho họ chích thuốc chủng ngừa
cảm cúm sau khi họ tham dự khóa thiền quán 8 tuần. Sau đó
ông cho họ thử máu để đếm số kháng thể của bịnh cúm.
Những người nào có các tế bào thần kinh ở não thùy phía
trước bên trái hoạt động mạnh hơn sau khóa thiền định
cũng có nhiều kháng thể trong máu hơn.
Cuộc
thử nghiệm của Ricard không phải là cuộc thử nghiệm đầu
tiên trên não bộ của một nhà sư đang thiền quán để tìm
xem thiền định có lợi ích gì về mặt y khoa hay không. Vào
năm 1980 trường Y Khoa tại đại học Harvard, với sự giúp
đỡ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, một bác sĩ chuyên khoa về
tim, Bác Sĩ Herbert Benson, đã làm những thử nghiệm với các
nhà sư ở Ấn Độ.
Trong
khi ngồi thiền quán, có tên là g-tummo, trong một căn phòng
có nhiệt độ 4 độ C, các nhà sư dùng các khăn nhúng vào
nước lạnh đến 9 độ C choàng lên vai. Thay vì họ sẽ run
cầm cập như chúng ta nghĩ, các nhà sư này tạo ra thân nhiệt
làm khô các khăn choàng. Những nhà sư có thể làm chậm mức
độ hoạt động của thân thể xuống 64%, một sự thay đổi
đáng chú ý vì mức độ hoạt động của thân thể của người
thường chỉ giảm xuống từ 10 đến 15% trong khi ngủ.
Vào
đầu năm 1975, Benson đã viết một quyển sách ăn khách The
Relaxation Response dựa trên các cuộc nghiên cứu loại thiền
transcendental meditation (TM) và những kỹ thuật thiền quán khác,
cho thấy thiền quán có làm giảm mức căng thẳng tinh thần
và làm hạ áp xuất máu.
Benson
đồng thời cũng khám phá ảnh hưởng của thiến TM sau khi
làm một thử nghiệm với một nhóm người thực tập loại
thiền này vào năm 1970. Ngoài những tác dụng hữu hiệu của
thiền TM lên thân thể, ông thấy rằng những người tu tập
thiền đều có ảnh hưởng tốt dù họ thuộc về các nền
văn hoá khác nhau. Những ảnh hưởng tốt này như mức độ
chuyển hoá cơ thể (metabolism) giảm, nhịp tim đập và nhịp
thở giảm, áp suất máu hạ, có thêm những sóng-alpha (làm
giảm nhịp chuyển sóng của giữa các tế bào não) làm con
người cảm giác khỏe khoắn và tươi mát.
Tất
cả những biến đổi về mặt sinh lý này đều trái ngược
với các thay đổi cơ thể khi một người bị căng thẳng
thần kinh. Khi ở trong tình trạng căng thẳng, nét mặt thường
hiện ra những nét giận dữ, nhịp tim và nhịp thở lên cao,
và các hoá chất làm tinh thần căng thẳng như cortisol và norepinephrine
được tiết ra để giúp cơ thể đối kháng với những đe
dọa.
Sự
nguy hiểm của việc tiết ra các kích thích tố này là chúng
gây ảnh hưởng xấu đến hệ thống thần kinh và miển nhiễm
của chúng ta và gây ra những vấn đề khó khăn cho sức khỏe
như huyết áp cao, các chứng liên hệ về tim, hậu môn bị
kích thích, trĩ, viêm khớp xương, ban đỏ và các chứng về
da.
Benson
khám phá ra là tất cả những hình thức cầu nguyện và động
tác lập đi lập lại, như việc lần chuỗi hột của các
tín đồ Thiên Chúa, lối cầu nguyện của các tín đồ Tin
Lành hay lối cầu nguyện gật gù của tín đồ Do Thái Giáo,
tạo ra những ảnh hưởng tương tự như khi thực tập thiền
quán, cũng như các lối tập Yoga, Tai Chi, Khí Công, hát
kinh, giai đọan thôi miên sơ khởi và ngay cả đánh trống.
Benson
tìm ra được hai điều căn bản giống nhau trong các lối thực
tập này và nghĩ ra kỹ thuật làm thân thể thư dãn.
Kỹ thuật này gồm việc lập đi lập lại một chữ, một
câu, một lời cầu nguyện, một tiếng động hay một động
tác (đây là một cách thực tập tốt cho các trẻ em bị chứng
ADD) và không chú ý và bị chi phối đến những ý tưởng
hiện ra trong tâm, mà chỉ chú ý đến những lời nói hay tiếng
động.
Kỹ
thuật này tương tự với phương pháp thiền quán tùy tức
và sổ tức của Phật Giáo, kỹ thuật thư dãn này chỉ nhằm
đem đến những lợi ích cho cơ thể hơn là mục đích tâm
linh.
Theo
những người tin tưởng kỹ thuật thư dãn này cho rằng nếu
mỗi ngày thực tập chừng 15 đến 20 phút, có thể làm giảm
bớt mức căng thẳng thần kinh, giảm áp huyết và còn có
thể chữa trị nhiều chứng rối loạn khác trong cơ thể nữa,
từ bịnh tim đến bịnh bất lực về sinh lý, chứng căng
thẳng sau khi có kinh nguyệt (PMT) và chứng thiếu được săn
sóc nơi trẻ em ADD. Kỹ thuật này cũng được dùng để đối
phó với những phản ứng phụ của phương pháp trị bịnh
chemotherapy. Các công nhân thu dọn tại ground zero ở hai toà
nhà WTC đã được dạy phương pháp này để họ có thể đối
phó với những cảnh ghê rợn gặp phả trong khi làm việc.
Gần
đây Benson tìm ra nguyên nhân làm giảm mức căng thẳng tâm
thần và huyết áp của kỹ thuật thư dãn này. Trong khi thực
hành, chất nitric oxide được tiết ra trong cơ thể để chống
lại chất kích thích tố norepinephrine. Chất norepinephrine làm
mạch máu co rút lại khi chúng ta bị căng thẳng tinh thần.
Chất nitric oxide làm mạch máu mở rộng ra và làm điều hoà
lưu lượng máu. Không những thế, khi chúng ta bị căng thẳng,
lượng Nitric oxide tiết ra trong cơ thể bị trở ngại.
Chất
Nitric oxide cũng liên hệ đến việc tạo ra chất endorphins
và các hoá chất khác trong cơ thể để chống và giảm đau
và đồng thời cho chúng ta có cảm giác khỏe mạnh. (đây
cũng là một yếu tố chính để làm cứng dương vật. Không
có chất này lưu luợng máu vào dương vật sẽ bị giới hạn.)
Trong
khi những thử nghiệm của Ricard nhằm khám phá những lợi
ích lâu dài giữa thân thể và tâm thần của thiền định,
lợi điểm của kỹ thuật thư dãn của Benson có thể giúp
những người không ngồi thiền định đều đặn.
Paul
Ekman, một tâm lý gia tại Đại Học California ở San Francisco
gọi Phật Giáo là “thể lực gia của tâm hồn”. Cũng như
Benson, ông nghĩ là những phương pháp định tâm của Phật
Giáo có thể giúp chúng ta rất nhiều.
Ekman
một chuyện viên nổi tiếng về khoa học của các tình cảm
và truyền thông của những cử chỉ, cũng tham dự cuộc hội
thoại ở Dharamsala. Trong nhiều thập niên qua ông đã bỏ công
nghiên cứu về những nét mặt của của dân Tây Phương và
dân các bộ lạc Phi Châu và lúc đó không ai tin là cuộc nghiên
cứu này có thể đem lại một ích lợi nào. Nhưng cuối cùng
ông đã được mời để huấn luyện cảnh sát và nhân viên
FBI, giúp họ dò xét nét mặt của những người bị tình nghi.
Ông đã gặp hàng ngàn khuôn mặt khác nhau trong suốt 50 năm
làm việc trong nghề. Ông thú nhận là Đức Đạt Lai
Lạt Ma đã làm thay đổi ý niệm của ông về khả năng biểu
hiện trên nét mặt của con người.
Ông
phê bình: “Điều kỳ diệu là một số đông Phật Tử có
một cuộc đời an lạc và nhìn thế giới với con mắt dí
dỏm.” Những nét an lạc này làm nhiều người thuộc tôn
giáo khác ghen tỵ và bực bội vì thấy Phật Tử lúc nào
cũng hưởng hạnh phúc.
Ông
thú nhận là trước cuộc hội thoại ở Ấn Độ ông chưa
hề biết gì về Phật Giáo. Ekman còn nói là ông không muốn
tham dự cuộc hội thoại một chút nào, tuy nhiên ông đồng
ý tham dự vì muốn chiều đứa con gái của ông, một người
có liên hệ đến phong trào Tây Tạng Tự Trị và vì ông muốn
gặp đức Đạt Lai Lạt Ma.
O^ng
nói là sau khi đọc một vài cuốn sách của Ngài, ông ta nhận
thấy có những điều trùng hợp với lý thuyết của chính
ông. Điều náy khiến ông muốn tổ chức một loạt các thử
nghiệm với Ricard- ông và Davidson gặp đức Đạt Lai Lạt
Ma ở Dharamsala- với những kết quả thú vị.
Phật
tử thường cho thiền định là phương pháp tự kềm chế
tâm viên ý mã và làm tâm an lạc, tìm thấy được “bản
lai diện mục” của tâm, thường bị phủ lấp bỡi những
lớp sóng phế hưng của tình cảm trên mặt. Nếu thực tập
đều đặn, hành giả có thể vượt thắng những tình cảm
độc hại và đạt đến tứ vô lượng tâm (từ bi hỷ xả).
Ekman
muốn thử nghiệm mức an lạc của các nhà sư, nên ông đã
đề nghị thử Ricard về những phản xạ giật mình.
Khi
một người nghe một tiếng động lớn họ sẽ có phản xạ
bất ngờ dù người đó nghe tiếng động cả ngày. Phần lớn
mọi người đều bị phản xạ giựt mình và mức độ này
thay đổi khác nhau tùy người, tương ứng với nhịp tim và
áp suất máu. Ekman nói là phản xạ giật mình là một phương
tiện đo lường đáng tin cậy về sức mạnh của mỗi người
khi gặp phải những tình cảm tiêu cực. Người nào có mức
phản xạ mạnh và tim cần một thời gian lâu hơn mới trở
lại mức bình thường là những người hay giận dữ hay buồn
bã.
Để
đo mức phản xạ của Ricard, các người thử nghiệm nói với
ông là họ sẽ đếm từ 10 xuống 0, rồi bắn một phát súng
hay một quả pháo và bảo Ricard cố gắng đừng phản ứng
gì cả.
Trong
những lần thử nghiệm trước đó với 5 ngàn đối tượng,
không có người nào nén được phản ứng với tiếng động
đó. Tuy nhiên Ricard không tỏ ra có một phản ứng nào trong
lúc ông nhập định, nhịp tim và áp suất máu của ông chỉ
tăng lên chút ít. Trong một lần thử nghiệm khác, Ricard chỉ
đổi sắc mặt một ít trong khi nhịp tim và áp suất máu vẫn
giữ yên. Ricard nói với Daniel Coleman nhờ thiền định khiến
tâm ông trở nên trung tính như “một con chim vỗ cánh bay
trên bầu trời”.
Tác
dụng tự kiểm soát và hỷ xả đã khiến cho nhà cầm quyền
Ấn Độ quyết định dạy cho 9 ngàn tù nhân thực tập thiền
quán. Vào năm 1994 tổng nha thanh tra cải huấn đã có sáng
kiến mở khóa thiền quán Vipassana trong vòng 10 ngày cho tù
nhân với hy vọng làm giảm mức độ bạo động trong tù cũng
như giảm tỷ lệ con số các tù nhân tái phạm tội bằng
cách dạy các tù nhân cách đối trị với các tình cảm tiêu
cực và ý muốn phạm tội một cách bột phát.
Kỹ
thuật thiền quán Vipassana của Phật Giáo cần phải được
thực tập rất công phu. Thường thường hành giả phải thực
tập quán sát trong im lặng trong vòng 10 ngày và mỗi ngày họ
có thể thực tập 12 tiếng đồng hồ. Các người thực tập
phải ăn chay. Sau khóa thiền quán các người tham dự được
khuyến khích thực tập một giờ vào buổi sáng và buổi tối.
Paul Ekman thú nhận là có 2 chuyện khó làm nhất trong đời
ông là thực tập Vipassana và bỏ hút thuốc lá.
Một
số lớn một ngàn tù nhân tham dự khóa thiền là những người
phạm các tội bạo động như hiếp dâm, giết người, bán
ma túy và các hành động khủng bố khác. Sau 10 ngày thực
tập trong các lều đưọc dựng ra ở trong sân tù, kết quả
khả quan hơn mọi người tưởng.
Một
tù nhân nhận được giấy trả tự do trước khi khóa thiền
định chấm dứt từ chối không rời nhà tù cho đến khi mãn
khoá thực tập. Nhiều tù nhân đã bớt hung hãn và không còn
nuôi ý định trả thù nữa. Tập tài liệu Thực Tập Vipassana
Trong Tù, cho biết nhiều tù nhân bị xúc động sau khóa thiền
quán, đã ôm và khóc trên vai các cai tù. Các vụ bạo động
trong tù cũng giảm bới và mối liên hệ giữa tù nhân và
cai tù đã được cải thiện một cách đáng kể.
Sự
thành công của các kinh nghiệm thiền quán ở các nhà tù Ấn
Độ thúc đẩy Viện Y Tế Quốc Gia Mỹ tài trợ cho đại
học Washington để nghiên cứu việc áp dụng thực tập thiền
quán tại một nhà tù ở Seattle. Những tù nhân nào phạm tội
nhiều lần, nghiện rượu hay ma túy, hoặc bị các chứng tâm
thần được chọn lựa để tham dự. Các nhà nghiên cứu làm
một cuộc thử nghiệm có kiểm soát, nghĩa là có một nhóm
tham dự và một nhóm khác không tham dự, xem thực tập thiền
quán Vipassanan có ngăn ngừa các tù nhân tái phạm tội và
có làm họ cai rượu hay cai thuốc phiện không.
Ba
tháng sau khi được trả tự do, con số các tù nhân nghiện
rượu và thuốc phiện có tham dự thực tập thiền quán đã
giảm mức nghiện ngập một cách đáng kể. Mức độ căng
thẳng tinh thần của các tù nhân này cũng giảm bớt và nhiều
tù nhân cho biết họ đã tự kiểm soát rất nhiều ý muốn
phạm tội bột phát. Hai năm sau kể từ khi được thả tự
do, tỷ lệ tù nhân đã tham dự khóa thiền quán tái phạm
giảm xuống còn 56% so với tỷ lệ 75% của nhóm tù nhân không
tham dự lớp thiền quán.
Trong
khi các nhà khoa học rất phấn khởi về những kết quả từ
cuộc thử nghiệm với Ricard, Ekman nói là việc nghiên cứu
về ảnh hưởng của thiến quán chỉ mới ở giai đoạn bắt
đầu. Ekman nói: “nếu muốn tìm hiểu ảnh hưởng lâu dài
của thiền quán, cần phải nghiên cứu những người từ lúc
chưa bắt đầu thực tập thiền và theo dõi họ cho đến 20
hay 30 năm sau, nhưng chúng ta có thể học rất nhiều về phương
pháp thực tập thiền quán của đạo Phật. Tuy nhiên chúng
ta phải lượng giá các ảnh hưởng này một cách rốt ráo.”
Những kết quả từ cuộc thử nghiệm với Ricard phải được
lập lại khi thử nghiệm với các nhà sư khác. Một nhà sư
thứ hai có trình độ tu chứng tương đương với Ricard cho
thấy có những kết quả tương tự. Ekman nghĩ là có một
hay hai yếu tố đóng góp vào việc tạo ra các kết quả này,
tuy nhiên ông từ chối thảo luận chi tiết cho đến khi có
nhiều cuộc thử nghiệm có kiểm soát được thực hiện.
Owen
Flannagan thuộc Duke University đã tường trình về cuộc thử
nghiệm của Davidson trên tập san New Scientist. Là tác giả một
số sách bàn về bản chất của ý thức, Flanagan có thực
tập thiền quán, ông nghĩ phải nghuiên cứu ảnh hưởng lâu
dài của thiền quán trên những người thường, không sống
cuộc đời của một nhà sư. Ông cũng nghi ngờ thiền quán
không phải là lý do duy nhất giúp các nhà sư có đời sống
an lạc.
Flanagan
nói: “Nếu chúng ta thấy các nhà sư sống an lạc hơn ccá
người khác, tôi nghĩ có thể không phải tại vì họ thực
tập thiền quán, mà vì toàn thể lối sống của một nhà
sư mà họ đã chọn lựa. Cho nên làm thử nghiệm với các
nhà sư sống ẩn dật trong các hang động không lợi ích gì
lắm vì phần lớn chúng ta không ai sống một cuộc đời cô
tịch như vậy.”
Các
cuộc thử nghiệm nàylàm nẩy sinh ra nhiều câu hỏi hơn là
đưa ra các câu trả lời. Tuy nhiên các câu hỏi này làm Paul
Ekman rất phấn khởi. Ông nghĩ là nên có nhiều công trình
nghiện cứu khoa học về ảnh hưởng của thiền quán, nhưng
có nhiều đồng nghiệp của ông vẫn còn nghi ngờ chuyện
này, như trước đây chính ông đã nghi ngờ cho tới khi ông
gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma: “Phần lớn các khoa học gia vẫn
chưa tin là khoa học có thể học hỏi gì từ phương pháp
thực tập thiền quán của đạo Phật. Họ nghĩ là các kết
quả này chỉ do trí tưởng tượng mà thôi”
Tuy
nhiên Flanagan không quan tâm lắm đến những lời chỉ trích
này. Ông nói: “Ba chục năm trước đây nhiều người nghĩ
là tôi điên khi tôi để tâm nghiên cứu về những biến chuyển
của nét mặt con người. Nhà nhân chủng nổi tiếng Margaret
Mead đã từng chê tôi phí phạm thì giờ!”
Đối
với các nhà sư tu tập trong các hang động, phí phạm thì
giờ (để chạy theo những ham muốn vô thường) chính là điều
họ lo ngại.
Quán
Như viết theo Kim Zetter, Good Weekend, The Sydney Morning Herald, August
30, 2003.
Trong
bài hai từ ngữ thiền quán và thiền định được dùng tương
đương như nhau dù ý nghĩa của chúng có hơi khác nhau. Để
biết thêm các kỹ thuật thiền quán và thiền định quý vị
có thể đọc thêm các tác phẫm sau đây:
Chú
thích
1.
Nhất Hạnh, Kinh Quán Niệm Hơi Thở (dịch và chú giải), Pháp
Bảo, Sydney 1990
2.
Thích Thanh Từ, Vào Cửa Thiền, Pháp Bảo, Sydney 1988
3.
Thích Trí Siêu, Thiền Tứ Niệm Xứ, Pháp Bảo, Sydney 1991
4.
Thích Nhất Hạnh, The Miracle of Mindfulness, Beacon Press, Boston,
1987
5.
Thich Nhất Hạnh, The Sutra on the Full Awareness of Breathing, Parallax
Press, Berkeley, California, 1988.
6.
Buddhadasa, Mindfulness with Breathing, Wisdom Publications, 1996.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 10-2004
Down
Load " Word Document" (WinZip File 361 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân