KHÁC BIỆT
GIỮA PHẬ PHÁP VÀ NGOẠI ĐẠO
Vajra
Gần
đây có một số ít người hoặc là Phật Tử vì muốn dung
hoà giáo lý của các tôn giáo khác với Phật Pháp để nói
rằng là Ngoại Đạo cùng Phật Pháp như nhau không khác.
Lối
lý luận đó không có hợp lý. Trước hết nếu là một số
Phật Tử mà thấy là Ngoại Đạo cùng Phật Pháp là đồng
thể thì những người Phật Tử đó chưa có hiểu biết rõ
ràng Phật Pháp. Thí dụ như có vài người Phật Tử đi lại
dẫn Bible, kinh Veda để nói là Chúa Trời trong Bible, hay là
Brahma trong kinh Veda là đồng nghĩa với Chân Như, Như Lai Tạng,
Bản Giác Diệu Minh, Niết Bàn trong kinh Phật đây là một
sự hiểu lầm do thiếu học hỏi kinh luận mà lại tưởng
lầm là cái hiểu biết của mình là đúng.
Vajra
xin trích dẫn kinh Lăng Già để các bạn đọc thấy sự khác
biệt giữa Phật Pháp và Ngoại Đạo.
Vajra
không giải thích các từ ngữ Hán-Việt ở đây là vì có
ý chỉ cho các bạn thấy là nếu một Phật Tử khi đọc kinh
Phật mà còn chưa hiểu đươc các danh từ chuyên môn trong
kinh Phật có ý nghĩa gì thì làm sao mà biết được ý nghĩa
của kinh Phật rồi nói là Đức Phật dạy giống như Ngoại
Đạo nói.
Vajra
đoán là sẽ có các bạn nói là Đức Lục Tổ Huệ Năng không
biết chữ mà cũng thông suốt lý Thiền. Vajra xin nói là trước
hết Đức Lục Tổ Huệ Năng đã được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn
giảng Kinh Kim Cang cho nghe để nhận ra Bản Tâm thì đương
nhiên là Đức Lục Tổ Huệ Năng thông suốt lý Thiền. Trong
Pháp Bảo Đàn Kinh chỉ có nói là Đức Lục Tổ Huệ Năng
không biết chữ lúc Ngài gặp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn chứ không
có nói là suốt đời của Đức Lục Tổ Huệ Năng không biết
chữ.
Tất
cả các ngoại đạo trong thế gian đều tin rằng có một Thượng
Đế thường hữu toàn năng sáng tạo ra thế giới chúng sanh
và vạn vật. Các ngoại đạo đều nói rằng là Thượng Đế
này là thường còn sẵn có.
Đây
là các đoạn trong kinh Lăng Già.
Quote:
Đức
Phật giảng về sự khác biệt của Phật nói và Ngoại Đạo
về ý nghĩa của Thường.
Khi
ấy, Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng :
- Thế
Tôn! Thế Tôn sở thuyết cảnh giới thường bất tư nghì
của Đệ Nhất Thánh Trí và cảnh giới Đệ Nhất Nghĩa, chẳng
phải những Ngoại Đạo sở thuyết nhân duyên thường bất
tư nghì ư?
Phật
bảo Đại Huệ:
- Chẳng
phải nhân duyên đắc thường bất tư nghì của ngoại đạo.
Tại sao? Thường bất tư nghì của những ngoại đạo, chẳng
do tự tướng thành. Nếu thường bất tư nghì chẳng do tự
tướng thành thì cớ sao được hiển hiện thường bất tư
nghì? Lại nữa, Đại Huệ! Bất tư nghì nếu do tự tướng
thành thì ắt phải là pháp thường, nếu do người làm ra
thì chẳng thể thành thường bất tư nghì, vì do làm mới
có, chẳng phải thường có vậy.
- Đại
Huệ! Ta nói Đệ Nhất Nghĩa thường bất tư nghì, tướng
nhân thành Đệ Nhất Nghĩa là lìa tánh phi tánh, nên đắc
tướng tự giác mà vô tướng. Cái nhân của Đệ Nhất Nghĩa
Trí, vì có cái nhân lìa tánh phi tánh, ví như hư không vô
tác, Niết Bàn tận diệt, nên chính pháp ấy tự thường,
chẳng do tạo tác thành thường. Như thế, chẳng đồng với
định luận thường bất tư nghì của ngoại đạo.
- Đại
Huệ! Thường bất tư nghì này do chư Như Lai Tự Giác Thánh
Trí chứng đắc, nên thường bất tư nghì của Tự Giác Thánh
Trí, cần phải tu học.
- Lại
nữa, Đại Huệ! Pháp thường bất tư nghì của ngoại đạo
chẳng có tánh thường, vì có cái nhân của tướng khác, chẳng
phải cái nhân của sức tướng tự thành. Lại nữa, Đại
Huệ! Pháp thường bất tư nghì của ngoại đạo có sở tác,
tánh phi tánh vô thường, theo kiến chấp suy tư tự cho là
thường.
- Đại
Huệ! Pháp ta cũng dùng nhân duyên như thế, vì tánh phi tánh,
chẳng lập sở tác, chẳng có thường kiến, nơi cảnh giới
Tự Giác Thánh Trí, nói cái thường ấy tự vô nhân. Đại
Huệ! Nếu các ngoại đạo lập cái nhân tướng thành thường
bất tư nghì, lập cái nhân của tự tướng, nói tánh phi tánh,
thì đồng như sừng thỏ, vì pháp thường bất tư nghì của
họ chỉ có ngôn thuyết vọng tưởng. Các ngoại đạo có
cái lỗi như thế. Tại sao? Vì chỉ có ngôn thuyết vọng tưởng,
đồng như sừng thỏ, chẳng phải do tự tướng vốn sẵn
đầy đủ.
- Đại
Huệ! Pháp thường bất tư nghì của Ta do tướng tự giác
chứng đắc, lìa sở tác, tánh phi tánh, nên tự vốn là thường,
chẳng phải ngoài tánh phi tánh, suy nghĩ pháp vô thường cho
là thường. Đại Huệ! Nếu ngoài tánh phi tánh, pháp vô thường
suy nghĩ cho là thường, là cái thuyết thường bất tư nghì
của ngoại đạo. Vì họ chẳng biết cái tướng của tự
nhân thường bất tư nghì vốn saün đầy đủ, nên xa cách
với tướng cảnh giới đắc Tự Giác Thánh Trí, họ chẳng
nên thuyết.
- Lại
nữa, Đại Huệ! Các Thanh Văn sợ cái khổ của vọng tưởng
sanh tử mà cầu Niết Bàn, chẳng biết tất cả tánh sai biệt
của sanh tử Niết Bàn là vọng tưởng phi tánh, do cảnh giới
các căn thôi nghĩ, cho là Niết Bàn, chẳng phải chuyển Tạng
Thức thành Tự Giác Thánh Trí vậy.
-
Thế nên, Phật đối với phàm phu nói có Tam Thừa, nói những
tâm lượng vốn chẳng thật có, họ chẳng biết cảnh giới
tự tâm hiện của chư Như Lai nơi quá khứ, hiện tại, vị
lai, mà so sánh chấp trước cảnh giới ngoài tâm hiện, nên
thường lưu chuyển trong vòng sanh tử.
- Lại
nữa, Đại Huệ! Tất cả pháp vốn vô sanh, ấy là quá khứ,
hiện tại, vị lai chư Phật sở thuyết. Tại sao? Nói Tự
Tâm Hiện, là tánh phi tánh, lìa hữu phi hữu mà sanh. Đại
Huệ! Tất cả tánh vô sanh thì tất cả pháp như sừng thỏ,
mà phàm phu ngu si, vì tự tánh vọng tưởng chấp cho là thật.
- Đại
Huệ! Tất cả pháp Vô Sanh, là cảnh giới của Tự Giác Thánh
Trí, tất cả tướng tự tánh của tất cả tánh vốn vô sanh,
chẳng phải hai thứ cảnh giới vọng tưởng nhị kiến của
phàm phu, kiến lập tướng tự tánh của sắc thân sở hữu
của thân. Đại Huệ! Chuyển cái tướng năng nhiếp, sở nhiếp
của Tạng Thức mà phàm phu đọa vào nhị kiến của sanh,
trụ, diệt, hy vọng tất cả tánh có sanh, sanh những vọng
tưởng hữu và phi hữu, chẳng phải Thánh Hiền vậy.
Đức
Phật nói về sự khác biệt giữa Như
Lai Tạng và Ngã của Ngoại Đạo nói
Khi
ấy, Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng :
-
Thế Tôn! Pháp sở thuyết trong kinh Phật nói Tự Tánh của
Như Lai Tạng vốn trong sạch thường trụ chẳng đoạn, chẳng
có biến đổi. đầy đủ ba mươi hai tướng nơi thân của
tất cả chúng sanh, vì áo nhơ ấm, giới, nhập che khuất,
nên bị cấu bẩn vọng phân biệt tham, sân, si sở ô nhiễm,
giống như bửu vật vô giá ẩn trong áo nhơ. Mà ngoại đạo
có cái thuyết '' Chơn Ngã" là kẻ tác giả thường trụ, lìa
nơi y chỉ, tự tại chẳng diệt. Vậy, cái nghĩa '' Như Lai
Tạng '' của Phật sở thuyết, há chẳng đồng như cái thuyết
'' Chơn Ngã '' của ngoại đạo ư?
Phật
bảo Bồ Tát Đại Huệ :
- Ta
nói '' Như Lai Tạng '', chẳng đồng với cái thuyết '' Chơn
Ngã '' của ngoại đạo. Đại Huệ! Ta có lúc nói Không, Vô
Tướng, Vô Nguyện, Như Thật Tế, Pháp tánh, Pháp Thân Niết
Bàn, lìa tự tánh, Bất Sanh Bất Diệt, bổn lai tịch tịnh,
Tự Tánh Niết Bàn v.v... dùng những danh từ này để thuyết
Như Lai Tạng xong, ấy là vì Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh
Giác muốn đoạn dứt sự e sợ danh từ Vô Ngã của phàm phu,
nên nói cảnh giới lìa vọng tưởng, Vô Sở Hữu là Như Lai
Tạng.
- Đại
Huệ! Bậc Bồ Tát vị lai, hiện tại, chẳng nên sanh ngã kiến
chấp trước. Ví như thợ gốm nơi một đống đất dùng phương
tiện nhơn công, nước, cây, bánh xe quay để làm ra các món
đồ gốm, thì Như Lai cũng như thế; ở nơi pháp Vô Ngã lìa
tất cả tướng của vọng tưởng, dùng đủ thứ trí huệ,
phương tiện khéo léo, hoặc thuyết Như Lai Tạng, hoặc thuyết
Vô Ngã. Do nhân duyên này, nên cái thuyết Như Lai Tạng của
ta chẳng đồng với cái thuyết chơn ngã của ngoại đạo.
Vì khai mở cái trói chấp ngã của các ngoại đạo, nên có
cái thuyết Như Lai Tạng, khiến họ lìa vọng tưởng ngã kiến
chẳng thật, ngộ nhập cảnh giới ba cửa giải thoát, mong
họ chóng được Vô Thượng Bồ Đề. Cho nên Như Lai Ứng
Cúng Đẳng Chánh Giác phải thuyết Như Lai Tạng như thế.
Nếu chẳng như vậy, ắt đồng với ngoại đạo. Cho nên,
Đại Huệ! Vì lìa kiến chấp của ngoại đạo cần phải
y theo pháp Vô Ngã của Như Lai Tạng mà tu học.
Khi
ấy, Đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà thuyết kệ
rằng:
Nhơn
Ngã và ngũ ấm,
Nhân
duyên với vi trần.
Tự
tánh vốn tự tại,
Duy
tâm vọng phân biệt.
Đây
là Đức Phật phân biệt giữa Thiền
của Phật dạy và Thiền của Ngoại Đạo
Quote:
- Lại
nữa, Đại Huệ! Có bốn thứ thiền.
Thế
nào là bốn ? 1. Phàm Phu Sở Hành Thiền. 2. Quán Sát Nghĩa
Thiền. 3. Phan duyên hư Thật Thiền. 4. Như Lai Thiền.
- Thế
nào là Phàm Phu Sở Hành Thiền? Là nói Thanh Văn, Duyên Giác,
ngoại đạo tu hành, quán nhân vô ngã tánh, tự tướng cộng
tướng, lóng xương liền nhau, vô thường, khổ, tướng bất
tịnh, v.v... do chấp trước làm gốc. Chỉ quán các tướng
như thế, chẳng quán cái khác, thứ lớp tiến tới, tướng
chẳng trừ diệt, ấy gọi là Phàm Phu Sở Hành Thiền.
- Thế
nào là Quán Sát Nghĩa Thiền? Nói quán nhơn vô ngã, tướng
cộng tướng, ngoại đạo, biết tự và tha đều vô tánh,
xong quán pháp Vô Ngã, Nghĩa hành tướng của Thập Địa Bồ
Tát thừa, dần dần tiến lên, gọi là Quán Sát Nghĩa Thiền.
- Thế
nào là Phan Duyên Như Thật Thiền? Là nói vọng tưởng : hai
thứ Vô Ngã là vọng tưởng; chỗ như thật thì chẳng sanh
vọng tưởng, ấy gọi là Phan Duyên Như Thật Thiền.
- Thế
nào là Như Lai Thiền? Nói nhập Như Lai Địa, đắc ba thứ
tướng trụ chánh định của Tự Giác Thánh Trí thì thành
tựu việc bất tư nghì của chúng sanh, gọi là Như Lai Thiền.
Đây
là Đức Phật giảng về Niết Bàn
Ở
Ấn Độ hai đạo Hinduism (Bà La Môn Giáo) và Jainism (Kỳ Na
Giáo) có từ thời Đức Phật cũng nói là đạo của họ tu
dạy chứng Niết Bàn khỏi sanh tử. Hai đạo đó hiện nay
vẫn dạy như vậy.
Đây
là Đức Phật nói về sự khác biệt
về ý nghĩa Niết Bàn.
Khi
ấy, Đại Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng :
-
Thế Tôn! Phật nói Niết Bàn, pháp nào gọi là Niết Bàn?
Mà các ngoại đạo đối với pháp Niết Bàn mỗi mỗi sanh
khởi vọng tưởng khác nhau?
Phật
bảo Đại Huệ :
-
Hãy chú ý nghe và khéo ghi nhớ, Ta sẽ vì ngươi mà thuyết.
Đại
Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng :
-
Cúi xin thọ giáo.
Phật
bảo Đại Huệ :
- Như
vọng tưởng Niết Bàn của các ngoại đạo, vọng tưởng
của họ chẳng tùy thuận Niết Bàn. Hoặc có ngoại đạo
diệt ấm, giới,nhập, lìa cảnh giới tham dục, thấy pháp
vô thường, tâm và tâm pháp chẳng sanh, chẳng ghi nhớ cảnh
giới quá khứ, vị lai, hiện tại, thọ ấm hết như ngọn
đèn tắt, như chủng tử hoại, vọng tưởng chẳng sanh, nghĩ
những cảnh giới này cho là Niết Bàn. Đại Huệ! Họ chẳng
do hoại tánh kiến, gọi là Niết Bàn.
- Đại
Huệ! Hoặc có ngoại đạo cho "từ phương này đến phương
kia" gọi là giải thoát, thấy cảnh giới của tưởng ấm
diệt cũng như gió ngưng; hoặc thấy năng giác sở giác đoạn
diệt, gọi là giải thoát. Hoặc thấy mỗi mỗi tướng của
tư tưởng là cái nhân sanh ra khổ, qua suy nghĩ rồi, chẳng
khéo giác tri tự tâm hiện lượng, kinh sợ nơi tưởng mà
thấy Vô Sanh, sanh tâm ưa thích, tưởng là Niết Bàn. Hoặc
có tưởng mà thấy Vô Sanh, sanh tâm ưa thích, tưởng là Niết
Bàn. Hoặc có ngoại đạo, biết các pháp trong ngoài tự tướng
cộng tướng nơi quá khứ, hiện tại, vị lai có tánh chẳng
hoại, cho là Niết Bàn. Hoặc đối với ngã, nhơn, chúng sanh,
thọ mạng tất cả pháp ngoại, tưởng là Niết Bàn. Hoặc
có ngoại đạo, trí huệ bị ác kiến thiêu đốt chấp có
ngã, kiến tự tánh làm căn bản, thấy tự tánh và sĩ phu,
giữa hai có chút ngăn cách, nói Thần ngã của sĩ phu hay sanh
tự tánh, vì do sĩ phu sanh ra, gọi là tự tánh, ví như Minh
Sơ (1), Cầu Na (2) là y theo Thần ngã ban sơ sanh giác. Cầu
Na dụ cho vi trần, cho Cầu Na là tác giả, nói từ vi trần
sanh tứ đại, cũng như từ sĩ phu sanh tự tánh, rồi chấp
có Thần ngã chấp cõi mười phương, cho là Niết Bàn.
- Hoặc
có ngoại đạo nói hết phước và phi phước, hoặc nói các
phiền não chẳng do tu trí huệ mà tự dứt, hoặc thấy Cõi
Trời Tự Tại ( là Thượng Đế của Bà La Môn Giáo tiếng
Sanskrit là Mahesvara) là kẻ chơn thật tạo tác sanh tử, cho
là Niết Bàn. Hoặc nói chúng sanh ở nơi này chết thọ sanh
nơi khác, lần lượt luân hồi từ tám ngàn kiếp đến nay,
vô nhân tự có, do đó chấp trước sanh tử chẳng có nhân
nào khác, rồi chấp trước vô nhân, tưởng là Niết Bàn.
Hoặc nói từ tự tánh sanh tứ đại, tứ đại sanh ý, ý sanh
trí, trí sanh ngũ phần, ngũ phần sanh ngũ tri căn, ngũ tri căn
sanh ngũ nghiệp căn, ngũ nghiệp căn sanh ngũ đại, gọi là
hai mươi lăm Minh Đế của tự tánh, hay sanh các pháp rồi
trở về tự tánh thì lìa tất cả sanh tử. Chấp Minh Đế
này cho là đắc đạo Chơn Đế, tưởng là Niết Bàn.
- Hoặc
thấy tướng nhất dị, đồng chẳng đồng hòa hợp sanh khởi
công đức như vi trần sanh khởi thế giới, vi trần là năng
tác, thế giới là sở tác, tức là công đức, cho là Niết
Bàn. Hoặc thấy vạn vật như cây gai nhọn, như sự lộng
lẫy của con công và đủ thứ bửu vật, chẳng có kẻ tác,
vô nhân tự có, cho là Niết Bàn.
- Đại
Huệ! Hoặc có hai mươi lăm Minh Đế là chơn thật, và cho
Lục Đức Luận là 1. Thật, 2. Đức, 3. Nghiệp, 4. Tứ Đại,
5. Hòa hợp, 6. Đồng dị là nhân sanh ra các pháp, nói giữ
được hai pháp này hộ trì quốc độ chúng sanh, khiến được
an lạc tức là Niết Bàn. Hoặc cho thời gian là kẻ tác tạo
ra thời tiết thế gian, kẻ giác như thế, tưởng là Niết
Bàn. Hoặc thấy tánh, hoặc thấy phi tánh, biết là tánh phi
tánh, thấy có giác này với Niết Bàn sai biệt mà chẳng khác,
tưởng là Niết Bàn. Đủ thứ vọng tưởng so đo chấp trước
của ngoại đạo sở thuyết, nơi lý chẳng thành, bậc Trí
nên bỏ những thuyết này vậy.
- Đại
Huệ! Niết Bàn vọng tưởng của ngoại đạo, tất cả đều
đoạn kiến chấp nhị biên mà họ cho là Niết Bàn. Mỗi mỗi
Niết Bàn của ngoại đạo họ tự lập luận, bậc trí huệ
quán sát vọng tưởng của họ, tâm ý khứ lai, trôi giạt
lưu động, hoặc sanh hoặc diệt, lập như vô sở lập, thật
thì chẳng có kẻ đắc Niết Bàn.
- Đại
Huệ! Pháp Niết Bàn của Ta thuyết là khéo giác tự tâm hiện
lượng, chẳng chấp ngoài tánh, lìa nơi tứ cú, thấy chỗ
như thật, chẳng đọa tự tâm hiện và vọng tưởng nhị
biên, năng nhiếp sở nhiếp bất khả đắc, tất cả đo lường
chẳng thấy sở thành, đối với vọng chấp chơn thật của
phàm phu chẳng nên nhiếp thọ. Người xả bỏ rồi thì đắc
pháp Tự Giác Thánh Trí, biết hai Vô Ngã, lìa hai phiền não,
trừ sạch hai chướng, lìa hẳn hai sanh tử, dần dần lên
chư Địa, đến địa vị Như Lai, các Tam muội thâm sâu, lìa
tâm, ý, ý thức, đều như bóng huyễn, gọi là Niết Bàn.
Đại Huệ! Ngươi và các Đại Bồ Tát cần nên tu học, chóng
xa lìa tất cả kiến chấp Niết Bàn của ngoại đạo.
Đây
Đức Phật nói rõ về ý nghĩa Bất
Sanh Bất Diệt khác với trong Bà La
Môn Giáo (Hinduism) và Kỳ Na Giáo (Jainism)
Khi
ấy, Đại Hụê Bồ Tát lại thừa oai thần Phật mà bạch
rằng :
- Bạch
Thế Tôn! Pháp Bất Sanh Bất Diệt của Thế Tôn hiển thị
chẳng có gì lạ. Tại sao? Vì lập cái nghia Nhân của tất
cả ngọai đạo, cũng nói Bất Sanh Bất Diệt, Thế Tôn cũng
nói chẳng phải số lượng duyên diệt, là Niết Bàn Bất
Sanh Bất Diệt. Thế Tôn! Ngoại đạo nói nhân duyên sanh thế
gian, Thế Tôn cũng nói do vọng tưởng vô minh nghiệp ái làm
duyên sanh khởi thế gian. Họ nói nhân, đây nói duyên, ấy
chỉ là danh từ sai biệt thôi. Nhân duyên các vật cũng như
thế, Thế Tôn với ngọai đạo lập luận chẳng có sai biệt.
Ngoại đạo nói vi trần, thắng diệu, tự tại, chúng sanh,
chúa v.v... Có chín sự vật bất sanh, bất diệt; Thế Tôn
cũng nói tất cả tánh bất sanh, bất diệt, hữu và vô bất
khả đắc. Ngoại đạo cũng nói tứ đại chẳng hoại, tự
tánh bất sanh bất diệt, tứ đại thường là tứ đại, cho
đến luân hồi lục đạo mà chẳng xa lìa tự tánh; Thế Tôn
sở thuyết cũng như thế. Cho nên con nói chẳng có gì lạ.
Nay cúi xin Thế Tôn vì đại chúng thuyết pháp đặc biệt,
kỳ lạ hơn các pháp ngoại đạo. Nếu pháp chẳng sai biệt
thì tất cả ngoại đạo cũng đều là Phật,vì cùng nói Bất
Sanh Bất Diệt vậy. Lại, Thế Tôn nói nơi một thế giới
mà có nhiều Phật ra đời là chẳng có chỗ đúng, nếu theo
lời sở thuyết trên thì trong một thế giới phải có nhiều
Phật, vì pháp ngoại đạo với Phật chẳng sai biệt vậy.
Phật
bảo Đại Huệ :
- Ta
nói Bất Sanh Bất Diệt, chẳng đồng Bất Sanh Bất Diệt của
ngoại đạo. Tại sao? Vì các ngoại đạo họ chấp có tánh
của tự tánh để đắc tướng bất sanh bất biến, Ta chẳng
như thế mà đọa sự hữu và vô. Đại Huệ! Pháp Ta nói lìa
hữu và vô, lìa sanh diệt, phi tánh phi vô tánh, mỗi mỗi pháp
như mộng huyễn hiện, nên phi vô tánh. Nói Vô Tánh là sắc
tướng chẳng có tự tánh nhiếp thọ, hiện như chẳng hiện,
nhiếp như chẳng nhiếp. Do đó nên nói tất cả tánh vô tánh,
cũng phi vô tánh. Hễ giác được tự tâm hiện lượng thì
vọng tưởng chẳng sanh, yên ổn an lạc, dứt hẳn việc thế
gian.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 10-2004
Down
Load " Word Document" (WinZip File 361 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân