TRÁCH
VỤ CỦA CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ TẠI GIA
Tâm
Diệu
Theo
Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo và Ban Tôn Giáo, hiện Việt Nam có
khoảng 7 đến 8 triệu tín đồ Phật Giáo, tức khoảng 10%
dân số; 6 đến 7 triệu tín đồ Thiên Chúa Giáo; Phật Giáo
Hòa Hảo 1,3 triệu, Cao Đài 1,1 triệu và Tin Lành khoảng 1
triệu tín đồ. Đối với Phật giáo, cũng theo viện
này cho biết, số lượng tín đồ Phật giáo nêu trên có thể
là cao nếu chỉ giới hạn vào những người nào quy y hay tu
tại gia theo giới luật nhà Phật; và có thể là thấp nếu
căn cứ vào những người đi chùa, có niềm tin vào cái thiện
cái ác, thuyết nhân quả luân hồi, ăn chay vào các ngày rằm
và mồng một và có thể treo ảnh Phật hay bàn thờ Phật
trong nhà. Riêng về hàng tu sĩ Phật Giáo, theo báo cáo
tổng kết của Đại hội đại biểu Phật Giáo toàn quốc
lần thứ IV năm 1997 thì toàn nước có 54.074 Tăng Ni, tức
không đầy nửa phần trăm số tín đồ đạo Phật. [1]
Dù
con số ước tính trên không chính xác, nhưng chúng cũng có
thể cho chúng ta một khái niệm tổng quát về số lượng
tín đồ các tôn giáo lớn tại Việt Nam và hiển nhiên là
số lượng tín đồ của các đạo giáo phương Tây, chỉ trong
một thời gian ngắn so với sự có mặt của đạo Phật, đã
bằng hay cao hơn số lượng tín đồ Phật Giáo.
Trong
những năm qua, Phật giáo Việt Nam đã phát triển khá mạnh
mẽ, đã hội nhập vào cộng đồng xã hội bằng cách xây
dựng phong trào tu học và thể hiện Phật pháp trong cuộc
sống. Về hàng Tăng lữ, các vị tôn túc không ngừng
nỗ lực đào tạo giới Tăng Ni trẻ qua việc tổ chức các
Phật học viện từ sơ cấp đến cao cấp và gửi Tăng Ni
sinh ra nước ngoài học Tiến Sĩ. Về hàng cư sĩ tại
gia, đa số các chùa trên toàn nước thường tổ chức định
kỳ các khoá tu học dưới hình thức tu Bát Quan Trai và các
lớp học giáo lý phổ thông. Điểm nổi bật nhất là
các khóa tu Phật thất do chùa Hoằng Pháp tọa lạc tại quận
Hóc Môn được tổ chức thường xuyên và các Đạo Tràng
Pháp Hoa do Hòa thượng Trí Quảng sáng lập và lãnh đạo được
thành lập tại nhiều nơi trên cả nước. Có thể nói
phong trào học Phật hiện nay đang nở rộ tại Việt Nam.
Đó
là những điểm tích cực, chúng ta cần ghi nhận và trân trọng.
Bên cạnh đó cũng có những điểm tiêu cực mà chúng ta cũng
nên ghi nhận và lưu ý:
(1)
Về hàng Tăng Ni sinh, đã có những chỉ dấu cho thấy sự
yếu kém về kiến thức Phật học và thiếu phẩm chất về
giới học. Nhiều vị đi học nhằm trốn tránh nhiệm vụ
công việc ở trụ xứ, chỉ cần lấy được văn bằng tốt
nghiệp (Cử nhân Phật học) [2]; nhiều vị bị sức mạnh
vô hình của cái học vị, bằng cấp cao (Thạc sĩ và Tiến
sĩ Phật học) đẩy vào dòng xoáy tìm cầu tri thức, biến
tu học thành học lấy bằng, biền phương tiện thành cứu
cánh. Và vô hình chung tạo nên “một suy nghĩ lệch hướng
cho việc xuất gia và người tại gia cũng đánh giá trị của
một vị tu sĩ qua bằng cấp mà quên đi giá trị thực cao
cả nhất của người xuất gia là phẩm hạnh đạo đức…”
[2]. Ngoài ra, bản ngã của một số quý Tăng Ni sinh lớn dần
theo học vị đạt được, thậm chí có vị còn đề học
vị Ph.D trước pháp hiệu của mình thay vì chỉ khiêm nhường
đề Tỳ Kheo như trước khi có bằng Tiến sĩ. Theo báo
Giác ngộ, có một số vị sau khi đậu bằng Thạc sĩ hay Tiến
sĩ, bỗng thấy mình trở nên nhân vật quan trọng, cứ muốn
trở về làm việc cho tổ chức giáo hội, cấp trung ương
hay cấp tỉnh thành mà không muốn trở về chùa Tổ của mình
để phục vụ cho Phật tử địa phương. Thật ra địa
bàn hoạt động tức đối tượng phục vụ chúng sinh của
các vị Tăng Ni sau khi học xong là về với quần chúng Phật
tử nơi trú xứ của mình, những người gần nhất, gắn bó
với chùa của mình của thầy tổ mình lâu ngày nhất.
Ở đấy họ đang cần được học những bài học Phật pháp
mà họ chưa biết. Lâu nay theo cha mẹ đến chùa nhưng
họ không biết Tam quy, Ngũ giới là gì, Tứ Diệu Đế là
gì... Họ không biết những điều hay của đạo Phật
và theo đạo Phật được lợi lạc gì trong đời sống hiện
tại và tương lai…
(2)
Về hàng Phật tử tại gia, chiếm đến 99.5% tín đồ đạo
Phật, một lực lượng đông đảo, nếu được giáo dục
đúng mức sẽ là một tiềm năng đáng kể trong việc giữ
đạo và phổ đạo. Mặc dầu quý vị lãnh đạo giáo
hội có nhiều nỗ lực giáo dục Phật tử rất đáng trân
trọng nhưng tiếc thay trong số 8 triệu người Phật tử mộ
đạo, thường xuyên thực hành Phật pháp, “hầu như chỉ
có những bà lão hoặc trung niên xấp xỉ 40 tuổi, chứ người
trẻ rất ít. Mà những người lớn tuổi này đa số không
được học giáo lý đàng hoàng, hoặc không còn thời gian
và sức lực để học nữa, khi đến chùa thường chỉ đem
theo những lời cầu xin và những tập quán hủ tục như cúng
sao giải hạn, đốt vàng mã…không thay đổi được.
Chưa kể, họ còn những thói quen rất nặng nề khác.
Một nghệ sĩ nổi tiếng thường xuyên tổ chức công tác
từ thiện than thở: “Mấy vị đi chùa mà cứ lo đếm tiền,
kể chuyện cô này lấy ông kia, chuyện tranh chấp gia tài,
toàn những chuyện thị phi, rồi còn nói tục nữa.”
Thật tình mà nói, quý thầy muốn hoằng pháp giáo dục Phật
tử đúng mức cũng rất khó. Khó vì tập quán hủ tục
lâu đời khó bỏ. Khó vì cái khó bó cái khôn. Chúng
ta hãy đọc tiếp báo Giác Ngộ: “Cho nên về các chùa, thấy
hầu như chỉ có lễ lạc, đám sám, tụng kinh… là chính,
thậm chí còn phải xem ngày giờ, cúng sao, đốt vàng mã để
chìu Phật tử. Một người bạn của chúng tôi (nhà báo)
đã nổi giận bảo rằng: “Chính vì phải chiều chuộng họ
mà Phật giáo tệ hơn”. Thật ra cái lỗi không phải
nơi họ, ai bảo quý thầy chiều họ, nhưng khổ nỗi không
chiều họ thì thì chùa sẽ vắng hoe vì họ là lực lượng
chính của chùa, không có họ ai sẽ cúng dường, lo đám…”.
[2] Thế còn tuổi trẻ, sao lại thiếu vắng nơi các chùa?
Thực sự họ không đến chùa thường xuyên. Thỉnh thoảng
vào ngày Tết lễ họ theo cha mẹ đến chùa như đi dự lễ
hội hay thăm viếng mộ phần, hài cốt ông bà ký gửi tại
khuôn viên chùa. Họ khó có thể tụng kinh lễ bái như
các ông bà già hàng giờ hay làm công quả quét chùa.
Họ thấy chùa không có gì hấp dẫn với họ cả, trong khi
đó ngoài đời có quá nhiều điều hấp dẫn.
Trên
đây là những điểm tích cực và tiêu cực của Phật giáo
hiện nay tại Việt Nam. Ở hải ngoại tình trạng cũng
không khác mấy. Quý Tăng Ni cũng có những nỗ lực rất
nhiều trong việc giáo dục Phật tử. Đa số các chùa,
ngoài việc tổ chức các lễ lạc lớn như Phật đản và
Vu Lan, còn thường xuyên tổ chức các khóa tu học, các khóa
tu Bát Quan Trai và thuyết giảng giáo lý nơi công cộng và
trên đài phát thanh và truyền hình. Song thành phần Phật
tử đi chùa đa số là những người lớn tuổi, khoảng từ
55 đến 75 tuổi và 95% là nữ giới [3]. Sinh hoạt chính
của các chùa là cầu siêu độ cho vong linh người quá vãng
vào những ngày cuối tuần. Hầu như quý thầy ở hải
ngoại cũng phải chiều lòng Phật tử vì nếu không có họ
ai sẽ lo chi trả tiền chùa…Hệ quả là trình độ giáo lý
của Phật tử rất khiêm nhường, thậm chí có nhiều bà lão
khi được hỏi có hiểu Tam Quy Ngũ Giới là gì, các cụ trả
lời không biết và có những trường hợp được con dâu rể
hay bạn bè khuyên theo đạo khác, các cụ liền bỏ đạo mình
và theo đạo mới. Trong những trường hợp này chúng
ta không trách cứ được các cụ và cũng không trách cứ đạo
giáo khác bởi vì các cụ không hiểu đạo Phật, không hiểu
những cái hay của đạo mình.
Đọc
đến đây, chắc quý độc giả cũng thấy lý do vì sao tín
đồ Phật giáo Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước có
khuynh hướng giảm và số tín đồ các đạo phương Tây gia
tăng đáng kể. Chúng ta không trách cứ các đạo giáo
khác tích cực truyền đạo mà chúng ta hãy tự quán sát lại
chính mình và đạo mình.
Từ
xưa đến nay, người Phật tử tại gia thường coi trọng vai
trò hoằng pháp của chư Tăng Ni và thường khoán trắng việc
hoằng pháp cho quý Tăng Ni, mà quên đi cư sĩ tại gia là một
thành phần đông đảo, cũng có vai trò hoằng pháp, có khi
còn quan trọng hơn vì người cư sĩ là thành phần căn bản
của gia đình và xã hội. Người cư sĩ có mặt khắp
mọi giai tầng trong xã hội, sĩ, nông, công, thương, ngư, tiều,
canh, mục, dân sự vụ, quân sự vụ và ở khắp nơi từ chốn
thị thành đến thôn quê, từ vùng sâu đến vùng xa...
Vì thế một người Phật tử hiểu biết giáo pháp và thực
hành đúng giáo pháp, sống trong môi trường gia đình, thì
những cái hay, cái đẹp hấp thu được của đạo Phật sẽ
ảnh hưởng tốt đến các thành viên trong gia đình; khi ra
ngoài xã hội sẽ là một công dân gương mẫu, là tấm gương
cho người xung quanh nhìn thấy. Họ xầm xì anh ấy hay
chị ấy là Phật tử đấy. Nếu một người tự xem
là Phật tử nhưng không biết gì về giáo pháp Phật, không
biết gì về ngũ giới, ăn nói thô bạo, hay cãi cọ trong gia
đình, trong xóm làng hay nơi làm việc, thì người xung quanh
nói rằng “nó là Phật tử đấy, đi chùa gì mà hung dữ
quá”…Những người xung quanh đâu có biết đạo Phật như
thế nào, họ đâu có thì giờ nghiên cứu đạo Phật nên
thường có khuynh hướng đánh giá Phật giáo qua cung cách cư
xử của những người có đạo mà họ tiếp xúc hàng ngày.
Cho nên người Phật tử tại gia, không những quy y Tam Bảo,
thọ trì Ngũ giới mà còn phải tìm học để hiểu biết giáo
lý, ít nhất là những nét cơ bản của giáo lý và điều
quan trọng là phải luôn luôn giữ gìn năm giới đã tự nguyện
thọ và thực tập ngồi thiền hay tụng kinh niệm Phật hàng
ngày.
Tưởng
cũng nên nói thêm cho rõ, Phật tử được định nghĩa là
những người tự nguyện quy y Phật Pháp Tăng và thọ trì
giới luật [4]. Phật tử bao gồm Phật tử tại gia, những
người tự nguyện quy y Tam Bảo và thọ trì năm giới và Phật
tử xuất gia (Tăng và Ni) là những người tự nguyện quy y
Tam Bảo, sống cách ly gia đình, và thọ trì Cụ túc giới.
Giới luật nhà Phật nhằm tự ngăn ngừa các động lực tham
vọng tác hại, giúp phát triển tâm từ bi nhằm bảo vệ hạnh
phúc an lạc cho mình và cho người khác, cũng như cho cộng
đồng xã hội. Một Phật tử tại gia luôn luôn gìn giữ
năm giới, không làm các điều ác, làm các việc lành, thanh
tịnh hóa tâm và thường hay giúp đỡ người khác, là một
người có tư cách, một người có phẩm hạnh đạo đức
cao, là cách truyền giáo lý tưởng nhất của hàng cư sĩ cho
những người xung quanh.
Lẽ
dĩ nhiên, một người Phật tử muốn có hiểu biết về Tam
Quy Ngũ giới và những giáo lý cơ bản để thực hành thì
phải có thầy giảng dạy. Vị thầy này chính là quý
thầy cô trú xứ tại ngôi chùa sở tại sau khi đã đi học
ở các trường Phật học từ sơ cấp đến cao cấp về hay
những vị Phật tử cư sĩ cao niên thâm sâu Phật học.
Một vị thầy hay vị cư sĩ cao niên có học vị Cử nhân,
Thạc sĩ hay Tiến sĩ Phật học, nghiêm trì giới luật, giảng
dạy Phật pháp cho các Phật tử tại chùa của thầy tổ mình
qua khẩu thuyết và thân thuyết rồi lại được các Phật
tử bổn đạo thực hành năm giới thì chắc chắn Phật giáo
không những không suy vi mà còn hưng thịnh.
Trong
hàng ngũ Phật tử tại gia còn có hàng cư sĩ thọ Bồ Tát
Giới, dành cho bất cứ ai nếu phát tâm Bồ đề: trên cầu
Phật đạo, dưới cứu độ chúng sinh. Đây là lực lượng
Phật tử tại gia quan trọng, vừa tiếp tay hỗ trợ quý Tăng
Ni trong việc hoằng pháp, vừa là cây cầu nối giữa quý thầy
với khối đông đảo quần chúng Phật tử. Hiện nay
có nhiều địa phương không có chùa, không có thầy nên chủ
yếu việc hoằng pháp những nơi này là do giới này thực
hiện. Hiện tại ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại
số lượng Phật tử tại gia thọ Bồ Tát Giới không được
đông đảo, mỗi kỳ Đại Giới Đàn tổ chức ở Việt Nam
số lượng cầu thọ Bồ Tát Giới không quá con số 100 vị;
cho nên các cư sĩ đã thọ tam quy ngũ giới có tâm ao ước
muốn đem đạo Phật đến với mọi nhà mọi nơi, có tâm
ước muốn góp bàn tay xoa dịu nỗi khổ đau của chúng sinh,
cần được khuyến khích gia nhập vào hàng ngũ này. Trong
một bài khác người viết sẽ đề cập đến việc tu tập
của người cư sĩ Bồ tát tại gia.
Tâm
Diệu
Cước
Chú:
[1]
Nghiên cứu Tôn Giáo số 2 (20) 2003 Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo
– Hà Nội
[2]
Tuần Báo Giác Ngộ 166, 179, 180 – Thành Hội TP. HCM xuất bản
[3]
Ngoại trừ các trung tâm tu học của Hòa thượng Nhất Hạnh
[4]
Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Tăng Chi Bộ Kinh
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 09-2004
Down
Load
" Word Document" (WinZip File 458 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân