NGƯỜI
PHẬT TỬ TẠI GIA ÐỐI VỚI XẢ HỘI
Thích
Trí Quang
Lý
do của bổn phận người tại gia đối với xã hội đã nói
rõ trong bài trước rồi. Lý do ấy buộc người tại
gia phải thực hành những điều sau đây:
1.
Xem
xã hội là một đại gia đình:
Kinh
luận Ðại thừa nói tất cả chúng sinh nếu không phải thân
thuộc thì cũng là cha mẹ bà con của chúng ta. Kinh Hoa
nghiêm nói “xem tất cả đàn ông là cha, tất cả đàn bà
là mẹ” kinh 42 chương cũng dạy: “Xem người lớn như cha
mẹ, xem người nhỏ như anh chị em mà sinh tâm tế độ”.
Thiết thực mà lý luận vững vàng nhất là lời của kinh
Thiện sinh và kinh Ưu-bà-Tắc. Hai kinh ấy đều nói: “Phía
sau con người là cha mẹ, phía trước con người là vợ con,
phía mặt con người là thầy bạn, phía trái con người là
giúp đỡ, phía trên con người là Chư Tăng, phía dưới con
người là bà con; đối lại, con người phải làm tròn bổn
phận con người, làm chồng, vợ, học trò, ông chủ, hay người
chịu ơn giáo hóa người đều là cùng một huyết thống”.
Thuyết tri ân trong Phật pháp cũng vậy, bằng một tinh thần
lý đoán sắc sảo, thuyết ấy vạch ra cho con người ngoài
thấy những ân huệ để hiểu còn có cái ân quan trọng nhất
: ân tương trợ của chúng-sinh. Ân chúng-sinh là ân xã-hội
mà còn rộng hơn xã hội nữa. Con chó giữ nhà, con bò
cày ruộng, cũng là sự tương quan sinh tồn của con người,
hệ trọng như con người với con người vậy. Cho nên
người tại gia phải xác nhận một cách sâu sắc rằng trong
lẽ tương quan sinh tồn ấy, xã hội là đại gia đình của
mình, đời sống của mình là thừa hưởng trực hay gián tiếp
của xã hội thì phải đem đời sống ấy mà trực hay gián
tiếp giúp ích cho xã hội.
2.
Thực
hành bốn thứ nhiếp pháp:
Bốn
nhiếp pháp ấy là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.
Bố thí là sự chu cấp không những cho tất cả mà còn bằng
tất cả nữa, nên bố thí có 3 :
a.
Bố thí tài sản : Chu cấp cho người bằng tài sản của mình.
Tài sản có hai thứ: tài sản ở ngoài và tài sản ở trong.
Tài sản ở ngoài là vật dụng và tiền của, tài sản, ở
trong là sức lực và tư tưởng. Như vậy chu cấp tiền
của hay vật dụng nào mình có là bố thí tài sản, mà giúp
sức cho người bằng sức lực và tư tưởng là bố thí tài
sản, một thứ tài sản nghèo cho mấy cũng có và tài sản
ấy mới thật là của mình. Phật dạy rằng : “Ðời
ai không có thân, có thân là có thể bố thí được”.
b.
Bố thí Vô úy : Tức là đem năng lực, uy thế, tất cả những
gì của mình có thể che chở để bố thí cho họ “sự không
khiếp sợ” trong những lúc nguy biến ấy là vô úy thí.
Ðức Quan AÂm thật hành như vậy mà thế giới Ta-bà cũng
gọi là đấng bố thí sự vô-úy, xem đó đủ biết sự quan
trọng.
c.
Bố thí Chiùnh pháp : tức đem Phật pháp cảm hóa mọi người
đó mới là phương tiện chiùnh của người tại gia phục
vụ xã hội. Bởi vì cho người tài sản và che chở cho
họ mà không thể cảm hóa họ quay đầu về Phật pháp thì
chỉ có thể gọi là đem tiếng đàn hát thay vì trong chốc
lác tiếng đòi nợ mà thôi, không phải đã cất cho xã hội
cái nợ phiền não mà vì đó, con người với con người còn
gây khổ cho nhau và chung nhau chịu khổ mãi mãi. Bởi
vậy bố thí chính pháp cho người mới thực là hình thức
cao nhất thế mới đúng chứ không phải là kiến thiết thượng
tầng hay giả ảo. Cho nên có trường hợp đem một đồng
bạc mua một tờ báo Phật giáo cho người vẫn hơn là cho
tiền họ ăn một chiếc bánh trong đó gói một sinh vật.
Hạnh
bố thí bằng ba phương tiện như vậy là phần chính.
Ðể hoàn thành hạnh này là ái ngữ, lợi hành và đồng sự.
Ái ngữ là đối xử với người bằng sự mềm dẻo xuất
phát từ một thiện ý thành thực cảm hóa. Lợi hành
là kết duyên với họ, trong bất cứ trường hợp nào có
thể tình thuận họ một vài điều nhỏ mà vô hại, như là
sự giữ thể diện, giúp đỡ sự làm ăn. Ðồng sự
là phục vụ công việc lợi ích chung hay những phận sự xã
hội mà mình phải gánh vác; chưa hết, đồng sự có nghĩa
làm như cùng hội cùng thuyền với người nhưng với mục
đích cảm hóa họ.
Với
4 nhiếp pháp như vậy người tại gia có thể hóa cải xã
hội như chữ “nhiếp đã nêu lên chăng? Chắc chắn là được,
bởi vì ngay trong xã hội mà hóa cải chứ không phải xuôi
dòng với xã hội,”
Còn
nếu làm một ông trời cao ở trên thượng tầng của kiêu
ngạo thì tự ông trời ấy đã không thể có, còn có đâu
nói được đến việc vì xã hội, hay nếu tự mình vào trong
dòng thác nhơ nhớp của xã hội thì xã hội đã nhơ nhớp
thêm vì nó rồi, còn đâu nữa nói đến việc hóa cải.
Ðến như việc người tại gia phải hóa cải xã hội bằng
cách làm cho mọi người đổi mới cá nhân bằng chiùnh pháp
và chỉ có cách đó mà thôi, mới gọi là hóa cải xã hội,
thì điều ấy không cần phải luận chứng gì nữa.
NHIỆM
VỤ HỘ PHÁP CỦA NGƯỜI TẠI GIA
Con
người là căn bản của gia đình và xã hội loài người.
Tất cả mọi vấn đề đều do con người phát sinh và đều
phát sinh vì con người. Bởi vậy, muốn đổi mới tất
cả, căn bản là con người không thể không tự đổi mới
trước hết bằng Phật pháp. Ðó là một kết luận.
Kết luận đó làm một lý do chắc chắn chứng minh một kết
luận nữa: như vậy; con người tuyệt đối phải có
trong gia đình và xã hội loài người thì với con người ấy,
Phật pháp tuyệt đối phải có và tuyệt đối phải được
bảo vệ. Vấn đề “Hộ pháp” được nêu lên trong
trường hợp này, nó là vấn đề tự lợi, lợi tha mà muốn
sống có ý nghĩa và muốn phổ biến ý nghĩa ấy trong mọi
tầng lớp và mọi thế hệ, bổn phận chúng ta buộc chúng
ta phải có.
Muốn
“Hộ pháp” – Duy trì Phật Pháp – thì người tại gia
phải làm gì?
a.
Phải
áp dụng Phật pháp vào đời sống của mình.
Ðó
là công việc căn bản. Vì Phật pháp gọi là còn, không
phải còn ở ngoài chúng ta mà phải ở chính trong con người
của mình. Ðó là chưa kể rằng muốn duy trì Phật
pháp thì phải phổ biến ra cho mọi tầng lớp và cho tất
cả thế hệ mai hậu, mà muốn vậy thì vấn đề “phải
làm để làm gương mẫu” là một nguyên tắc không thể thiếu
được. Cái thành kiến quái gở cho rằng “Tôi phải
hy sinh tư lợi của tôi cho sự lợi tha” cũng sẽ phải tan
rã vì nguyên tắc này, bởi vì không có sự lợi tha nào đúng
nghĩa từ ngữ ấy mà thiếu tự lợi tức là sự tự áp dụng
Phật pháp trước hết, hay đổi lại, cũng chẳng có một
sự tự lợi nào đúng nghĩa của danh từ ấy mà không vì
mục đích lợi tha tức vì lợi chung mà áp dụng Phật pháp.
b.
Phải
luôn luôn tỏ ra mình là người Phật tử. Thật là
một lỗi lầm đáng khinh bỉ khi một người đã sống trong
Phật pháp vô thượng mà không thẳng thắn bộc lộ ra.
Họ bảo như thể để mọi người thấy mình không cố chấp
tín ngưỡng của mình, nhưng họ có biết đâu rằng cố chấp
là một việc mà thành thật lại là việc khác. Không
thành thật bộc lộ tư cách Phật tử của mình ra thì làm
sao cảm hóa người được. Họ lại còn đi hợp tác
với ngoại đạo tà ma. Họ bảo để tỏ tư cách quảng
đại của Phật tử, nhưng lời nói ấy chỉ che đậy những
lý do lấy đạo làm bàn đạp cho lợi lộc cá nhân của mình
mà thôi chứ Phật tử sao đi hợp tác với ngoại đạo?
Như thế, tam quy mà họ đã thọ, làm sao còn được? Họ lại
còn ngây ngô mà trở lại công kích trong nhà không biết tổ
chức, trong khi đó họ đem năng lực đáng lý họ phải góp
vào công việc tổ chức đó mà hợp tác với sự tổ chức
khác. Bởi vậy, khi đã xác nhận Phật pháp là vô thượng
và chỉ hoạt động cho Phật pháp mà thôi là công cuộc hữu
ích cho con người đúng với cái nghĩa danh từ ấy, thì họ
phải luôn luôn tỏ ra mình là Phật tử trong tất cả mọi
trường hợp, bằng mấy cách bắt buộc sau đây:
1)
Thường đeo tượng Phật và kính trọng, thân mến với người
đồng đạo.
2)
Thường phải ăn chay và đi chùa mỗi tháng 2 ngày nếu có
gặp tiệc tùng hay lý do sinh sống cũng không được bỏ.
3)
Góp của và góp sức vào trong các tổ chức của Phật pháp
để làm những công việc hữu ích.
4)
Khước từ thật sự sự hợp tác với ngoại đạo tà ma trừ
khử những cử chỉ rụt rè, thái độ chạy chối và thụ
động.
Mọi
người tại gia phải nhớ rằng xã hội nào người ta cũng
chỉ đúng và hơn nửa, chỉ cảm hóa vì những người thành
thực trong tín ngưỡng của mình. Trái lại, không ai mà
không khinh bỉ và nghi kỵ những kẻ kém thành thực.
Phải nhớ như vậy để mà trút bỏ đi những ý nghĩ vơ vẫn
về những sự nguy hiểm tưởng tượng. Nói tóm lại
ta tỏ ra là Phật tử tức là duy trì Phật pháp vậy.
Ngược lại, sự tỏ ra đó thiếu đi thì ý thức Phật tử
đã không còn nữa mà ý thức này không thì luôn theo đó,
tất cả những gì của Phật tử phải có, họ sẽ quên hết.
c)
Phải
có tinh thần chịu trách nhiệm và trừ bỏ sự tự ty mặc
cảm. Tư ty mặc cảm là tự nghĩ mình thấp kém, tùy thuộc
chứ không phải chủ động, nhưng trái lại, thực tế chứng
tỏ sự duy trì Phật pháp trong gia đình và xã hội, người
tại gia là người chủ động mà lại là chủ động trực
tiếp. Bởi vậy, Phật pháp còn hay không trong gia đình
và xã hội là trách nhiệm trực tiếp của người tại gia.
Thực tế này kêu gọi người tại gia hãy bỏ cái thành kiến
cho rằng Phật pháp quan trọng ở các thầy và bắt buộc người
tại gia phải có tinh thần chịu trách nhiệm cái trách nhiệm
duy trì Phật pháp để hóa cải bản thân, hóa cải gia đình
và xã hội. Cái trách nhiệm ấy cũng không riêng gì đối
với Phật pháp; vì sự hóa cải cần phải có nên mọi tầng
lớp, mọi thế hệ đòi hỏi người tại gia cái tinh thần
trách nhiệm ấy.
d)
Phải
hành động tích cực và thực tế. Vấn đề “hộ
pháp” quan trọng và hợp lý như vậy nó bắt buộc người
tại gia, phải có những hành động tích cực, thực tế một
cách tế nhị, phải chống trả với mọi mưu mô ở ngoài
và mọi xu hướng ở trong, nếu những mưu mô và những xu
hướng ấy không làm hại Phật pháp trong hiện tại cũng làm
hại về sau. Và tự mình, mình phải thắng những gì
ở mình mà chính nó có thể lôi kéo mình vào những hành động
phản bội Phật pháp. Phải tự giác mãnh liệt và đừng
lòa mắt những mối lợi nhãn tiền hay lo sợ vu vơ cái hại
trong tư tưởng. Phải chống trả với những gì mà mình
biết không trực tiếp cùng gián tiếp không ngày nay cũng ngày
mai, không có thiện ý đối với sự sinh tồn của Phật pháp.
Tất cả những lý lẽ trên này nó thiết tha kêu gọi sự
hoạt động tận lực của chúng ta, to từ việc bỏ tánh mạng,
nhỏ đến việc bỏ ra từng đồng xu, tất cả tiềm lực
mà mình có, mình không từ. Do ý thức này, người tại
gia hãy bỏ cái thành kiến hiện giờ vẫn còn vương trong
tư tưởng một số đông, rằng việc đạo phải có tài và
có sức. Nhưng cái tài hưởng ứng cũng cần thiết như
cái tài hướng đạo, cái sức tùy hỷ lại cần hơn cái sức
đồ sộ, bởi vì một bên chỉ có một thiểu số mà một
bên có một hậu thuẩn hùng hậu, cho nên những công việc
vặt và những đồng bạc nhỏ, đối với đạo lúc này mới
thật là quý giá; chúng nó là những tấm lòng thành thực
và sẽ góp thành một lực lượng to lớn.
Chỉ
có vậy mới thật là hoạt động thực tế của tín đồ
và cố nhiên cũng chỉ có vậy mới duy trì Phật pháp được
trong tất cả mọi tầng lớp.
Nói
tóm lại, vấn đề “Hộ pháp” nó quan trọng ở chỗ người
tại gia thành thực bộc lộ tín ngưỡng của mình và có tinh
thần gánh vác trách nhiệm, phối hợp với những hoạt động
dù nhỏ nhưng thực tế dũng mãnh. Chính đó, Phật pháp
sẽ càng ngày càng sáng lạn huy hoàng, không những với những
hình thức đồ sộ mà còn với những sự cải hóa tốt đẹp
đối với toàn diện của đời sống con người.
BẢNG
THỐNG KÊ CỦA NGƯỜI TẠI GIA
1.
Xác nhận toàn diện đời mình – kể cả bản thân, gia đình
và xã hội – đều do con người của mình làm căn bản.
2.
Xác nhận toàn diện đời mình cần phải hóa cải và có thể
hóa cải được.
3.
Toàn diện đời mình phải hóa cải bằng Phật pháp, đó là
mục đích của người tại gia.
4.
Phật pháp có hai phần : phần căn bản và phần hướng thượng.
Người tại gia phải thụ học phần văn bản để hóa cải
đời mình.
5.
Trước hết, tuy toàn diện đời mình gồm có cả gia đình
và xã hội, nhưng căn bản là bản thân của mình, nên người
tại gia phải giải quyết bản thân trước.
6.
Rồi phải cảm hóa gia đình và phục vụ xã hội của mình.
7.
Giải quyết bản thân cũng như cảm hóa gia đình và phục
vụ xã hội đều theo giáo lý căn bản của Phật pháp, tức
tam quy và ngũ giới.
8.
Mọi chi tiết cần phải áp dụng tỷ mỷ và tế nhị đều
gốc ở giáo lý căn bản trên mà ra.
9.
Phải xác nhận chỉ có sự hóa cải toàn diện đời mình
bằng giáo lý căn bản của Phật pháp, như vậy mới có thể
làm cho đời mình mới mẻ từ trong đến ngoài, với tất
cả cái nghĩa của chữ ấy.
10.
Phật pháp đã giúp cho mình hóa cải toàn diện đời mình
như vậy thì tận lực bảo vệ Phật pháp là bổn phận tuyệt
đối mình phải có.
Bảng
thống kê này, như vậy, cũng đủ cho người tại gia thấy
mình phải biết những gì và làm những gì.
H.T
THÍCH TRÍ QUANG
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 09-2004
Down
Load " Word Document" (WinZip File 458 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân