NGƯỜI
CƯ SĨ TẠI GIA
Hòa
thượng Thích Trí Quang
1.
Ðịa Vị Của Người Tại Gia:
Ngày
nay cũng vẫn có những người tại gia nghĩ rằng mình chỉ
là những kẻ tùy thuộc trong Phật giáo. Nhưng đó chỉ là
ý nghĩ tự ty phát sinh bởi tinh thần vô trách nhiệm.
Trong
Phật giáo, tai gia cũng như xuất gia vốn là một tổ chức
cố hữu, do đức Phật quy định. Ðiều đáng chú ý là trong
sự quy định đó, càng cao địa vị người tại gia càng quan
trọng.
Trong
giáo lý Tiểu thừa, người tại gia chỉ được Dự lưu quả.
Từ Thánh quả Nhất lai lên đến Bất lai và Vô sanh thì phải
xuất gia mới tu chứng được. Tuy vậy, địa vị người tại
gia cũng vẫn không phải không quan trọng., vì dầu ở trong
dục lạc mà cũng có thể “thấy được dấu vết của giáo
lý”. Cũng trong giáo lý Tiểu thừa, người tại gia giúp đỡ
cho người xuất gia đủ điều kiện để truyền bá chánh
pháp. Pháp bảo và Tăng bảo tồn tại được là nhờ người
tại gia hộ trì. Như vậy, hiển nhiên, địa vị người tại
gia là địa vị cần thiết và quan trọng đối với giáo lý
Tiểu thừa.
Ðối
với giáo lý Ðại thừa, sự qua trọng ấy lại càng rõ rệt,
vì nếu một người tại gia như Giáo lý Tiểu thừa trên mà
có phát bồ đề tâm thì tức gọi là tại gia bồ tát. Chỗ
khác nhau sâu sắc nhất giữa Tiểu thừa và Ðại thừa, là
Tiểu thừa quan niệm sự xuất gia tự nó là một cứu cánh
rồi, nó thoát ly hẳn những tâm niệm và những hành vi liên
hệ với thế gian, nên kết quả, được địa vị La hán là
đã thấy hoàn toàn. Ðại thừa khác; Giáo lý Ðại thừa quan
niệm rằng Phật đà mới là giai đoạn tuyệt đích của sự
giác ngộ, nên đạt đến đó, tại gia hay xuất gia là những
phương tiện đều quan trọng trong mỗi trườg hợp của nó.
Cho nên xuất gia hướng thượng, tại gia thiệp thế, tuy bên
trọng bên khinh hiển nhiên như thế, nhưng cái tâm chí mong
cầu Ðại Bồ Ðề và cái trách nhiệm giữ gìn Chánh pháp
vẫn như nhau. Vì vậy, nếu người Tại gia mà phát Bồ đề
tâm, xác nhận và phục vụ trách nhiệm “Hộ pháp” của
mình thì cũng được gọi là tu tập Bồ tát hạnh và sẽ
trở thành quả vị Phật đà, Trong trường hợp nầy, địa
vị của người tại gia mới thật quan trọng với tất cả
cái nghĩa của chữ ấy đúng như ý muốn của đức Phật.
Giờ
ta quay lại toàn bộ Phật pháp để một lần nữa, nhận thức
tính cách hệ trọng của địa vị tại gia. Toàn bộ Phật
pháp có thể phân chia ra hai phần: phần “Căn bản” và phần
“Hướng thượng”. Phần căn bản là dùng Tam quy Ngũ giới
để hoàn thành một tư cách Phật tử đối vói bản thân,
đối với gia đình và đối với xã hội. Phần hướng thượng
là từ căn bản trên, hướng lên trên đường giải thoát
và giác ngộ cho đến tuyệt đích là địa vị Phật đà.
Hai phần của toàn bộ Phật pháp, như vậy không những cần
thiết cho mỗi người Phật tử mà cón hoàn thành thể Phật
pháp, nếu lý luận thế nầy thì chứng tỏ địa vị tại
gia cũng quan trọng như địa vị xuất gia; nhưng nếu lý luận
rằng trong hai phần của toàn bộ Phật pháp, nếu phần “Căn
bản” không được nâng cao và chú ý trước hết thì phần
“Hướng thượng” không thành, toàn bộ Phật pháp cũng mất
cơ bản, nếu lý luận như vậy thì lại thấy trong bước
đầu của Phật pháp, địa vị người tại gia, quan trọng
hơn một cách rõ rệt.
Tất
cả lý lẽ trên đây chứng tỏ cho ta thấy địa vị người
tại gia không phải kẻ tùy thuộc trong Phật giáo. Cho mình
là kẻ tùy thuộc, tâm lý ấy không phải tâm lý khiêm nhượng
mà thật là tâm tâm lý tự ty và vô trách nhiệm. Phật pháp
đã suy tàm vì tâm lý đó. Và rồi đây, cũng vì tâm lý đó,
Phật pháp khó mà tồn tại. Vì vậy, nêu lên tính cách quan
trọng của địa vị người tại gia lả cho họ thấy cái
nhiệm vụ của mình đối với Phật pháp. Người tại gia
đã thấy được nhiệm vụ của họ thì tâm lý tự ti và
vô trách nhiệm sẽ được trừ bỏ và thay thế vào, họ sẽ
thành tâm làm tròn nhiệm vụ của họ. Nhiệm vụ của họ
làm tròn thì con người của họ đổi mới, gia đình của
họ hạnh phúc và xã hội của họ an lạc, nói tóm, Phật
pháp sẽ sáng tỏa, sẽ tồn tại ngay trong cuộc đời. Nhiệm
vụ đó là những căn bản cần thiết và cần làm như sự
trình bày đại cương sau đây.
2.
Người Tại Gia Là Thế Nào?
Việc
đầu tiên, Người Tại Gia phải biết cái ý nghĩa của từ
ngữ mình đã mang vào đời mình, vì từ ngữ ấy nó rẽ hai
đời mình ra và định đoạt cho mình một lý tưởng cùng
một cuộc sống theo lý tưởng đó.
Tại
gia tức là không thoát ly gia đình, không thoát ly hình thức
sinh hoạt của thế gian mà thật hiện cơ bản của Phật pháp
vào ngay trong hình thức sinh hoạt đó. Ðịnh nghĩa như vậy
thật chưa phải đã bao gồm tất cả những điều cần phải
biết và cần phải làm của một người tại gia, nhưng, người
tại gia, cũng đủ để thấy không phải với những tâm lý
hời hợt mà làm một người tại gia được.
Cơ
cấu của xã hội loài người là gia đình. Nhưng không phải
chỉ một lý do ấy mà đức Phật quy định có một tổ chức
tại gia trong hàng Phật tử. Gia đình cũng chỉ là một hình
thức sinh hoạt của thế gian. Chính hình thức sinh hoạt hình
thức của thế gian mới là vấn đề đức Phật chú ý. Hình
thức sinh hoạt nầy, căn bản là con người, nhưng phạm vi
của nó cố nhiên bao gồm cả gia đình và xã hội của con
người nữa. Hình thức sinh hoạt nầy, đối với đức Phật,
ghét bỏ hay ưa thích đều không thành vấn đề; vấn đề
là hình thức sinh hoạt đã có mà cái có ấy lại cần phải
hóa cải và có thể hóa cải được. Mà người tại gia là
những người trực tiếp trong việc hóa cải đó. - Người
xuất gia, đối lại, cao hơn, lãnh đạo công việc hối cải
của người tại gia. Vì vậy, trong khi đức Phật quy định
Phật tử có tổ chức tại gia thì phải có tổ chức xuất
gia. – Và chính đó, không tránh bỏ một hình thức dĩ nhiên
là hình thức sinh hoạt mà ngược lại, đem Phật pháp để
hóa cải hình thức sinh hoạt, đó là cái ý nghĩa của từ
ngữ tại gia và là cái lý do tại sao có ra tổ chức nầy.
Hình
thức sinh hoạt của đời người (xin nhớ là cả con người
và gia đình, xã hội của con người), theo Phật pháp, có hai
chiều: Sinh hoạt xuôi chiều theo dục vọng và bản năng mà
không có một chút chỉ huy gì của lương tâm và lương tri
thì chính đó là tất cả nguyên nhân phá sản sự sinh tồn
của con người. Ngược lại, sống một cuộc sống có ý thức,
biết tự nghĩ hạnh phúc của mình và nghĩ đến hạnh phúc
chung, thì đó chính là sự sinh hoạt đúng với nguyên lý của
nó.
- Sống
theo chiều thứ nhất thì dầu có dán nhãn hiệu Phật tử
vào đời mình cũng vẫn là “người thế gian”.
-
Sống theo chiều hướng thứ hai thì sự sống đ8ó tức là
đem Phật pháp hoán cải sự sinh hoạt, sống như vậy là một
“người tại gia”.
Cho
nên khi làm một người tại gia trong hàng Phật tử là ta làm
một cuộc tái sanh cho đời ta, rẽ hai đời ta ra, từ bỏ
cuộc đời xuôi dàng manh muội, bước vào cuộc sống có lý
tưởng chân thật và hữu ích.
Trong
Phật pháp không kể vấn đề tuổi tác. Ðiều kiện cần
phải có là hiểu rõ đời mình, hiểu rõ lý tưởng nào đời
mình phải có và quan trọng hơn hết là quyết chí sống theo
lý tưởng đó. Ðiều kiện nầy có là có thể làm một người
tại gia. Lắm khi mới trên mười lăm tuổi mà đã có thể
có đủ điều kiện đó, nhưng trái lại, cũng có lúc điều
kiện đó ta không thấy ở một người tuổi tác. Giữa đàn
ông và đàn bà cũng vậy. Ðiều kiện trên không hiếm ở
người phụ nữ trong khi phía đàn ông vị tất ai cũng có
cả. Cho nên muốn làm một người tại gia, không kể tuổi
tác mà cũng không phân biệt đàn ông hay đàn bà. Có đủ
điều kiện cần thiết là có thể sống đời sống một người
tại gia của hàng Phật tử. Bởi vậy, trong tổ chức người
tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử), đức Phật đã không
hạn chế tuổi tác mà cũng không quy định đàn ông hay đàn
bà, giai cấ hay chủng tộc. Tổ chức của người tại gia
(tức tổ chức hàng Cư sĩ Phật tử), vì vậy, có hai phần:
Ðàn ông gọi là Ưu bà tắc, đàn bà gọi là Ưu bà di.
Tuy
nhiên, điều kiện rộng rãi như trên đây vẫn không dung những
kẻ nầy:
1.
Những kẻ “tặc trú”, tức những kẻ trá hình làm người
tại gia, lẫn vào Phật pháp để xoay xở, quấy rối hay dó
xét.
2.
Những kẻ “đạo pháp”, tức những kẻ trá hình làm người
tại gia để lợi dụng Phật pháp, ăn cắp lý thuyết của
Phật pháp để trang sức cho tư tưởng của mình hay dùng ngay
lý thuyết ấy phản công lại Phật pháp.
Ngoài
hai hạng mà từ ngữ trong kinh gọi là ”người địa ngục
trong Phật pháp” trên đây, trong tổ chức tại gia cũng không
thể có những kẻ trẻ tuổi, chưa hiểu biết lý tưởng của
người tại gia, chưa đủ năng lực sống theo lý tưởng ấy,
hay tệ hơn nữa là tuổi chưa biết nói. Cho nên ngaỳ nay có
những người đem con mới đẻ đến chùa quy y, hành động
đó thật là vô ý thức và chỉ là bắt chước theo tà ma
ngoại đạo. Thâm tâm của họ chỉ vì thương con, nghĩ quy
y như thế là bán gởi con cho Ngài để nó được sống còn
và đời nó hạnh phúc. Nhưng muốn được như vậy thì chính
mình phải cố gắng sống đúng lý tưởng một người tại
gia, nghĩa là duy nhất với tam quy, kiên chí trong ngũ giới,
chứ đâu phải làm như thế.
3.
Mục Ðích Của Người Tại Gia
Hiểu
được do ý nghĩa nào và điều kiện gì gọi là một người
tại gia (một Cư sĩ Phật tử) thì đã biết được đại
cương mục đích của người tại gia rồi. Mục đích ấy
thực là điều mà mọi người tại gia không thể lơ mơ, vì
chẳng có một cuộc sống lý tưởng nào mà không có mục
đích và sự nhận thức mục đích ấy.
Ðại
cương mục đích của người tại gia (tức Cư sĩ Phật tử),
như trên đã nói, là “hóa cải sự sinh hoạt”, sự sinh
hoạt của con người và gia đình, xã hội của con người.
Trước khi đích chỉ thực tế của mục đích nầy, điều
cần nhất là người ta phải xác nhận để mà tin tưởng
rằng sự sinh hoạt “cần phải hóa cải và có thể hóa cải
được”.
Ai
muốn nói gì thì nói và đưa chủ nghĩa gì ra để bịp người
ta thì đưa, cho ngay đến cả con người đi nữa, có muốn
tự lừa dối mình thì lừa dối, nhưng thực trạng của cuộc
sống vẫn là một thực trạng hiển nhiên nhất trong các thực
trạng, thực trạng ấy là khổ não. Thực trạng nầy phủ
nhận đi được thì nước mắt và thở dài đã chẳng có
và con người cũng đã chẳng xuất toàn lực ra chống chõi,
thế hệ nầy kế tiếp thế hệ khác. Nhưng cũng thế hệ
nầy kế tiếp thế hệ khác, cuộc sống của con người cứ
ngập chìm trong khổ não. Sanh lão bệnh tử đã làm cho con
người được xem như một quá trình của khổ não rồi, cuộc
đời ấy lại còn ân ái mà phải biệt ly, oán thù mà phải
gặp gỡ, mong cầu mà không thỏa mãn, và ngay nơi nội bộ
của bản thân, những gì mà có nó mới gọi là con người
có, nhưng chúng thật như những tên giặc lợi hại bậc nhất,
quy tụ lại một nơi và tung hoành nơi ta như tàn phá một
làng xóm điêu tàn. Khổ vì mưu sanh, khổ bởi lừa đảo,
khổ vì nhục nhã, vì oan ức, vì hàng vạn lý do, hầu như
cuộc sống đụng đến đâu là nguyên nhân của khổ não ở
đấy. Sung sướng? Danh từ ấy chỉ có trong khi đau khổ trá
hình mà kẻ đương cục không tự biết, thế thôi.
Trước
thực trạng khổ não như vậy, có những người thật tình
là thiếu can đảm hơn ai hết, trong khi nước mắt họ ứa
ra mà họ lại cười cái cưới “lạc quan” để, trước
hết, tự lừa dối mình được từng nào qua ngày từng ấy,
trong cuộc sống khổ não của họ, của mọi người. Họ còn
đi xa hơn nữa; họ cười khoái trá trước nước mắt đau
đớn của đồng loại, bất chấp cái khổ não cho chính họ,
họ sống khoái lạc bằng nỗi khổ não của mọi người.
Ðó là những kẻ lạc quan. Khác với những kẻ nầy, có những
kẻ trước khổ não họ chỉ biết cam phận chịu đựng, sống
khổ não mà vẫn xuôi dòng theo nguyên nhân gây thêm khổ não.
Những kẻ nầy không thể gọi là gì nữa. Không thể gọi
là “bi quan”. Danh từ nầy phải để dành cho những người
cầu khẩn nơi duy vật, vì họ tuy khác nhau đến chống nhau
trong quan niệm, tín ngưỡng, nhưng thật đều giống như những
kẻ mở to mắt ra để đi tìm con mắt của chính mình, cuống
lên chỗ nầy, hoảng lên chỗ khác, mà lại tự gọi là biết
hơn ai cả, và gây thêm sóng gío nhiều nhất trên bể khổ
vô biên của người đời.
Người
tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) không có những thái độ
như vậy, dầu chỉ là những thái độ tương tự. Việc trước
hết đối với thực trạng khổ não là họ phải tìm hiểu
nguyên nhân của thực trạng ấy. Nguyên nhân ấy họ không
trao quyền cho thần linh hay đổ lỗi cho vật chất. Người
tại gia xác nhận rằng cái gì của con người là do con người
tạo ra. Khổ não của con người cũng vậy, do hành động của
con người mà có. Ai làm tội tình nhau ? Ai giết nhau ?
Ai làm cho nhau đổ nước mắt, oán hận và trả thù ? Ai, nếu
không phải chỉ con người với con người ? Nhưng, những gì
đã do cong người với con người gây ra thì những cái ấy
con người với con người có thể diệt sạch đi được. Hiểu
rõ như vậy tức xác nhận rằng khổ não của cuộc sống
là do hành vi manh động, hành vi ấy cần phải hóa cải và
có thể hóa cải được. Mọi việc đều do con người sắp
thì cũng do con người xóa. Và con người có thể xóa được
để thay vào đó những thứ mà cuộc sống con người cần
thiết và mong mỏi, nếu con người can đảm nhận kẻ thù
chính của đời mình là khổ não và quyết chí chiến đấu
để diệt trừ khổ não đó.
Nói
tóm, hóa cải đời sống bằng cách diệt nguyên nhân của
khổ não, đó là mục đích mà tất cả tổ chức Phật tử
đều theo đuổi, trong đó tổ chức tại gia (tức hàng Cư
sĩ Phật tử) là một. Mặt phải của mục đích nầy, chúng
ta cần nói thêm là để làm cho đời sống an lạc, đồng
thời, chiều cao của mục đích nầy chúng ta cần phải nói
rõ là muốn làm cho đời sống được giác ngộ và cuối cùng,
đạt đến địa vị Vô thượng giác.
Mục
đích trên đây, người tậi gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử)
nhắm nó một cách thực tế vào con người của mình. Phải
làm sao tạo cho mình một nhân cách xứng đáng với danh nghĩa
của con người, phải làm sao cho nhân (gia đình) và đồng
loại (xã hội) của mình cũng như mình, đó là mục đích
cơ bản của người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử). Mục
đích nầy mà đạt được – và chỉ do mục đích nầy mà
thôi - mới hóa cải được hình thức sinh hoạt của mình,
thật hiện cho mình, cho cả gia đình và xã hội của mình
nữa, một hạnh phúc đúng nghĩa của nó và không bao giờ
tan rã, hạnh phúc do diệt trừ nguyên nhân khổ não mà có
chứ không phải là cái bánh vẽ của bàn tay tàn ác và gian
ngụy.
4.Nhiệm
Vụ Hộ Pháp Của Người Tại Gia
Con
người là căn bản của gia đình và xã hội loài người,
tất cả mọi vấn đề đều do con người phát sanh và đều
phát sanh vì con người, bởi vậy, muốn đổi mới tất cả,
căn bản là con người không thể không tự đổi mới trước
hết bằng Phật pháp. Ðó là một kết luận. Kết luận đó
làm một lý do chắc chắn chứng minh một kết luận nữa:
Như vậy, con người tuyệt đối phải có trong gia đình và
xã hội loài người thì với con người ấy, Phật pháp tuyệt
đối phải có và tuyệt đối phải được bảo vệ. Vấn
đề “Hộ pháp” được nêu lên trong trưpờng hợp nầy.
Nó là vấn đề tự lợi lợi tha mà muốn sống có ý nghĩa
và muốn phổ biến ý nghĩa ấy trong mọi tầng lớp và mọi
thế hệ, bổn phận chúng ta buộc chúng ta phải có.
Muốn”Hộ
pháp” – duy trì Phật pháp – thì người tại gia (tức hàng
Cư sĩ Phật tử) phải làm gì ?
a.
Phải áp dụng Phật Pháp vào đời sống của mình.
Ðó
là công việc căn bản. Vì Phật pháp gọi là còn, không phải
còn ở ngoài chúng ta mà phải ở chính trong con người của
mình. Ðó là chưa kể rằng muốn duy trì Phật pháp thì phải
phổ biến ra cho mọi tầng lớp và cho tất cả thế hệ mai
hậu, mà muốn vậy thì vấn đề “phải làm để làm gương
mẫu” là một nguyên tắc không thể thiếu được. Cái thành
kiến quái gỡ cho rằng “tôi phải hy sinh sự tự lợi của
tôi cho sự lợi tha” cũng sẽ phải tan rã vì nguyên tắc
nầy, bởi vì không có sự lợi tha nào đúng nghĩa từ ngữ
ấy mà thiếu tự lợi tức sự áp dụng Phật pháp trước
hết, hay đối lại, cũng chẳng có một sự tự lợi nào đúng
nghĩa của danh từ ấy mà không vì mục đích lợi tha tức
vì lợi ích chung mà áp dụng Phật pháp.
b.
Phải luôn luôn tỏ ra mình là người Phật tử.
Thật
là một lỗi lầm đáng khinh bỉ khi một người đã sống
trong Phật pháp vô thượng mà không thẳngthắn bộc lộ ra.
Họ bảo như thế để mọi người thấy mình không cố chấp
tín ngưỡng của mình, nhưng họ biết đâu rằng cố chấp
là một việc mà thành thực lạ là một việc khác. Không
thành thực bộc lộ tư cách Phật tử của mình ra thì làm
sao cảm hóa người được. Họ lại còn đi hợp tác với
ngoại đạo tà ma. Họ bảo để tỏ tư cách quảng đại của
Phật tử, nhưng lời ấy chỉ là che đậy những lý do lấy
Ðạo làm bàn đạp cho lợi lộc cá nhân của mình mà htôi,
chứ Phật tử sao đi hợp tác với ngoại đạo ? Như
thế, Tam quy mà họ đã thọ, làm sao còn được ? Họ
lại càng ngây ngô mà trở lại công kích trong nhà không biết
tổ chức, trong khi đó họ đem năng lực đáng lý phải góp
vào công việc tổ chức đó mà hợp tác với tổ chức khác.
Bởi vậy, khi xác nhận Phật pháp là Vô thượng và chỉ hoạt
động cho Phật pháp mà thôi mới là công cuộc hữu ích cho
con người đúng với cái nghĩa của danh từ ấy, thì họ phải
luôn luôn tỏ ra mình là Phật tử trong tất cả mọi trường
hợp, bằng mấy cách bắt buộc sau nầy:
b.1
Thường đeo tượng Phật và kính trọng, thân mến với người
đồng đạo.
b.2
Thường phải ăn chay và đi chùa mỗi tháng hai ngày, dầu gặp
tiệc tùng hay lý do sanh sống cũng không được tạm bỏ.
b.3
Góp của và góp sức vào trong các tổ chức của Phật pháp
để làm những công việc hữu ích.
b.4
Khước từ thực sự những sự hợp tác với ngoại đạo
tà ma và trừ khử những cử chỉ rụt rè thái độ chạy
chối và thụ động.
Mọi
người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) phải nhớ rằng
xã hội nào người ta cũng chỉ dung và hơn nữa, chỉ cảm
hóa vì những người thành thực trong tín ngưỡng của mình.
Trái lại, không ai mà không khinh bỉ và nghi kỵ những kẻ
kém thành thực. Phải nhớ như vậy để - trút bỏ đi những
ý nghĩ vơ vẫn về những sự nguy hiểm tưởng tượng. Nói
tóm, tỏ ra mình là Phật tử chính là duy trì Phật pháp rồi
đó. Ngược lại, sự tỏ ra đó thiếu đi thì ý thức Phật
tử đả không còn nữa mà ý thức nầy không thì luôn theo
đó, tất cả những gì của Phật tử phải có, họ sẽ quên
mất hết.
c.
Phải có tinh thần chịu trách nhiệm và trừ bỏ sự tự ty
mặc cảm.
Tự
ty mặc cảm là tự nghĩ mình thấp kém, tùy thuộc, chứ không
phải chủ động. Nhưng trái lại, thực tế chứng tỏ sự
duy trì Phật pháp trong gia đình và xã hội, người tại gia
(tức hàng Cư sĩ Phật tử) là người chủ động mà lại
là chủ động trực tiếp. Bởi vậy, Phật pháp còn hay không
còn trong gia đình và xã hội là trách nhiệm trực tiếp của
người tại gia. Thực tế nầy nó kêu gọi người tại gia
hãy bỏ cái thành kiến cho rằng Phật pháp quan trọng ở các
Thầy và bắt buộc người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật
tử) phải có tinh thần chịu trách nhiệm, cái trách nhiệm
duy trì Phật pháp để hóa cải bản thân, hóa cải gia đình
và xã hội. Trách nhiệm ấy cũng không riêng gì đối với
Phật pháp; vì sự hóa cải cần phải có nên mọi tầng lớp,
mọi thế hệ đòi hỏi người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật
tử) cái tinh thần trách nhiệm ấy.
d.
Phải hành động tích cực và thực tế.
Vấn
đề “Hộ pháp” quan trọng và hợp lý như vậy nó bắt
buộc người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) phải có
những hoạt động tích cực, thực tế, một cách tế nhị.
Phải chống trả với mọi mưu mô ở ngoài và mọi xu hướng
ở trong nếu những mưu mô và những xu hướng ấy không làm
hại Phật pháp trong hiện tại cũng như làm hại về sau. Và
tự mình, mình phải thắng những gì ở mình mà chính nó có
thể lôi kéo mình vào những hành động phản bội Phật pháp.
Phải tự giác mãnh liệt và đừng lòa mắt vì mối lợi nhãn
tiền hay lo sợ vu vơ cái hại trong tư tưởng. Phải chống
trả với những gì mà mình biết không trực tiếp cũng gián
tiếp, không ngày nay cũng ngày mai, không có thiện ý đối
với sự sinh tồn của Phật pháp. Tất cả những lý lẽ trên
nầy nó thiết tha kêu gọi sự hoạt động tận lực của
chúng ta, to từ việc xả bỏ thân mạng, nhỏ đến việc bỏ
ra từng đồng xu, tất cả tiềm lực nào mình có, mình không
từ. Do ý thức nầy, người tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật
tử) phải bỏ cái thành kiến hiện giờ vẫn còn vương trong
tư tưởng một số đông, rằng việc Ðạo phải có tài và
có sức. Nhưng cái tài hưởng ứng cũng cần thiết như cái
tài hướng đạo, cái sức tùy hỷ lại cần hơn cái sức
đồ sộ, bởi vì một bên chỉ có một thiểu số mà một
bên là một hậu thuẩn hùng hậu. Cho nên những công việc
vặt và những đồng bạc nhỏ, đối với Ðạo, lúc nầy,
mới thật là quý giá; chúng nó là những tấm lòng thành thực
và sẽ góp thành một lực lượng to lớn. Và chỉ có vậy
mới thật là hoạt động thực tế của tín đồ và cố nhiên
cũng chỉ có vậy mới duy trì Phật pháp được trong tất
cả mọi tầng lớp.
Nói
tóm, vấn đề “Hộ pháp” nó quan trọng ở chỗ người
tại gia (tức hàng Cư sĩ Phật tử) thành thực bộc lộ tín
ngưỡng của mình và có tinh thần gánh vác trách nhiệm, phối
hợp với những hoạt động dù nhỏ nhưng thực tế, dũng
mãnh. Chính đó, Phật pháp sẽ càng ngày càng xán lạn huy
hoàng, không những với những hình thức đồ sộ mà còn với
những sự cải hóa tốt đẹp đối với toàn diện của đời
sống con người.
(Trích
trong tập Người Tại Gia của Hòa thượng Thích Trí Quang)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 09-2004
Down
Load " Word Document" (WinZip File 458 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay in ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân