Vạn Hạnh,
kẻ đi qua cầu lịch sử mà vào Niết Bàn
Hòa
thượng Thích Mãn Giác
Vạn
Hạnh dung tam tế
Chơn
phù cổ Sấm cơ
Hương
quan danh Cổ Pháp
Trụ
tích chấn vương kỳ
dịch:
Vạn
Hạnh thông ba cõi
Thật
hợp lới Sấm xưa
Quê
nhà tên Cổ Pháp
Gậy
chống giữ nghiệp vua.
Đấy
là những lời truy tán của vua Lý Nhân Tông dành cho vị Thiền
Sư dòng thứ 12 của Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi ở Việt Nam.
Lý Nhân Tông là vị vua Việt Nam đầu tiên đã tung ngót 100
ngàn quân vượt biên giới tấn công thẳng vào nội điạ
Thiên triều Trung Hoa và đã thành công. Chiến dịch naỳ có
giá trị như một ấn tín đóng vào bản tuyên ngôn tự chủ
của người Việt hướng về Trung Hoa để nói cho người láng
giềng khổng lồ này phải công khai thừa nhận rằng, kể
từ đây nước Nam là của người Việt Nam. Vị vua đã thực
hiện chiến công hiển hách là có công dùng thiền trượng
để chống vững triều đại nhà Lý thì lời tán tụng ấy
quả thật chẳng phải là một sáo ngữ ngoại giao lấy lệ
vậy. Nhưng kẻ đã giữ vai trò cột trụ của một triều
đại huy hoàng kéo dài 216 năm này lại cũng chính là kẻ trước
khi lìa đời đã nắn nhủ hậu thế, kể cả những vị vua
sống chết với thành bại vinh nhục, rằng “thịnh suy chỉ
là hạt sương đầu ngọn cỏ.” Và suốt đời ông, ông đã
không lấy nơi dừng để dừng, cũng không hướng về nơi
không dừng để dừng.
Con
người đã gần bùn mà chẳng lấm bùn, đạ dấn thân vào
cõi trần mà vẫn giữ được vẻ trong sáng của kim cương
ấy là ai? Đã làm gì? Đã suy nghĩ và sống như thế nào?
Sách
Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục đã tóm lược
tiểu dử của Thiền Sư Vạn Hạnh như sau:
“Phủ
Thiên Đức, làng Dịch Bảng, chùa Phật Tổ. Vạn Hạnh THiền
Sư. Người Cổ Pháp. Sư họ Nguyễn. Gia đình thờ Phật. Thời
thơ ấu đã tỏ ra khác thường, làu thông Tam Học, nghiên
cứu Bách Luận, coi nhẹ công danh, xuất gia lúc 21 tuổi ở
chùa Lục Tổ, cùng với Định Tuệ thờ Thiền Ông làm thầy...
Sau khi thầy mất, Sư chuyên tu Tổng Trì Tam Ma Đị, nói ra
lời nào là như phù sấm tiên tri đối với thiên hạ vậy.
Vua Lê Đại Hành hết sức tôn kính Sư. Năm đầu niên hiệu
Thiên Phúc, tướng Tống là Hầu Nhâm Bảo đem quân đóng ở
núi Cương Giáp Lãng định xâm lăng nước ta. Vua mời sư đến
hỏi mình đánh lại thì giặc phải rút lui. Sự thật diễn
tiến đúng như vậy. Khi Việt Nam định đánh Chiêm thành nhưng
triều đình lại không thể dứt khoát quyết định thì Sư
bảo phải xúc tiến gấp bằng không sẽ bỏ mất thời cơ.
Hậu quả Việt Nam chiến thắng Vua Nọa Triều bạo tàn, oán
thán khắp trời đất, Lý Thái Tổ còn làm Thân Vệ chưa chịu
đảo chánh. Khắp nơi xảy ra những điều kỳ lạ được
xem như là báo hiệu nhà Lê suy sụp nhà Lý hưng vượng...
Ngày rằm tháng năm niên hiệu Thuận Thiên thứ 16, Sư vẫn
an lành nhưng lại gọi học trò lại thuyết kệ:
“Thân
như điện ảnh hưũ hoàn vô
Vạn
mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm
vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh
suy như lộ thảo phô,”
(Thân
như chớp lóe có rồi không
Cây
cối tươi tốt mùa xuân, khô héo mùa thu
Thấy
được việc đời thì không còn lo ngại nữa
Thịnh
suy chỉ là hạt sương đầu ngọn cỏ)
Thân
như bóng chớp chiều tà
Cỏ
xuân tươi tốt, thu qua rụng rời
Sá
chi suy thịnh cuộc đời
Thịnh
suy như hạt sương rơi đầu cành.
(Thích
Mật Thể dịch)
Thuyết
kệ xong, Sư còn tâm sự với đệ tư: “Các ngươi muốn về
đâu? Phần ta, ta chẳng lấy nơi dừng để dừng, cũng không
hướng về nơi không dừng để để dừng” (Nhữ đẳng yên
vãng hà xứ? Ngã bất dĩ sở trụ nhi trụ, bất ỷ vô trụ
nhi trụ). Nói xong thì Sư tịch. Triều đình Lý Thái Tổ và
các đệ tử đã tổ chức quốc táng, và sau lễ hỏa táng,
nhặt xá lợi xây tháp thờ cúng. Lý Nhân Tông đời kế đã
làm kệ truy tặng Thiền Sư.”
Qua
phần giáo sử chính thức của Phật Giáo Việt Nam thời trưóc
vứa lược dẫn, chúng ta thấy gì? Vạn hạnh ngưới Cổ Pháp.
Cổ Pháp nguyên không phải là một địa danh có từ xưa, mà
là một tên mới có khoảng cuối thể kỷ thứ 9, tức khoảng
200 năm trước khi Vạn Hạnh thành đạt, và người bày ra
địa danh đó tức là Sư Định Không (730-988), thuộc dòng
thứ ba của cùng Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi.
Thời
gia từ đầu thế kỷ thứ 7 đến giữa thế kỷ thứ 10 là
thời gian Việt Nam bị đô hộ lần thứ tư khi Lý Phật Tử
của nhà Tiền Lý bị nhà Tùy khuất phục năm 602. Mười sáu
năm sau, quyền thống trị đó lại được chuyển qua tay nhà
Đường mở đầu hơn ba thế kỷ đô hộ khắc nghiệt chặt
chẽ có hệ thống nhằm đàn áp hữu hiệu tất cả âm mưu
hành động đối kháng ly khai hay đấu tranh tự chủ của người
Việt như Trưong Vương, Triệu Ẩn, Lý Bôn, Triệu Quang Phục
đã từng làm trong thế hệ trước.
Chính
sách đô hộ sắt máu của nhà Đường không phải là không
có hiệu quả. Bằng chứng là trong 336 năm đô hộ, Trung Hoa
đã chỉ phải đối phó với hai cuộc khởi nghĩa của ngưới
Việt, thứ nhứt Hắc Đế Mai Thúc Loan năm 722 và thứ hai
là Bố Cái Đại Vương Phùng hưng năm 791 lãnh đạo. Thời
Phùng Hưng nổi lên đấu tranh tự chủ cũng là thơì Sư Định
Không đang hành đạo vậy.
Cuộc
khơỉ nghĩa thất bại của Phùng Hưng và các biện pháp đàn
áp kềm kẹp tiếp đó đã làm cho ngươì Việt Nam yêu nước
phải suy nghĩ. Thực lực cách mạng là quần chúng, nhưng lãnh
đạo cách mạng là trách nhi65m của những người có học.
Thời bấy giờ, hai nơi đào tạo và cung cấp những người
có học yêu nước này là quan trường nghịa là nh7ững người
tạm thời cộng tác với chính quyền đô hộ Trung Hoa và nời
thứ hai là nhà chùa vậy, bởi khi đến thiết lập nền thống
trị ở Việt Nam, người Trung Hoa chỉ xây đồn luỹ, nhà
tù và các cơ quan thu thuế chứ không nghĩ đến việc mở
mang trường học. Và căn cứ vào kinh nghiệm của những cộng
tác viên đã phản lại họ từ Trưng Vương đến Phùng Hưng,
qủa thực họ cũng không còn tin dùng những người Việt Nam
muốn hợp tác với họ nữa.
Sự
suy nghĩ lại của người Việt Nam có học và có tiềm năng
lạnh đão chính trị là phải ẩn nhẫn đào tạo nhân tài
để chờ thời cơ thuận tiện. Nhà chùa trong thời Bắc thuộc
lần thứ tu này quả đã tích cực theo chính sách đó. Cụ
thể là Sư Định Không và những đồng môn kế tục. Sử
sách kể rằng năm 785 trong lúc đào móng xây chùa Quỳnh Lâm
ở nguyên quán là Diêu Uẩn, Sư đã tìm thấy một chiếc lư
hương và 11 chiếc khánh. Sư cho đem đi rửa thì một chiếc
khánh chìm tận đáy ao. Sư suy nghĩ về điềm triệu này và
tự giải thích: một chiếc khánh chìm mất tức cón 10 chiếc.
“Mười chiếc” viết theo Hán tự là “thập Khẩu, ghép
hai chữ thập khẩu lại thì thành chữ Cổ, một chiếc chìm
đi, “chìm đi” viết theo Hán tự là “thủy khứ”, ghép
hai chữ thủy khứ thí thành chữ Pháp và từ đó Sư quyết
định đặt tên phần đất đã tìm thấy những pháp khí với
điềm triệu dị thường này là Cổ Pháp. Song song với quyết
định đó, Sư còn làm bài thơ gói ghém niềm tin rằng Cổ
Pháp sẽ là địa linh nhân kiệt như sau:
Địa
trình pháp khí
Phẩm
chất tinh đồng
Trị
Phật Pháp chi hưng long
Lập
hương danh chi Cổ Pháp
Pháp
khi xuất hiện thập khẩu đồng chung
Lý
hưng vương tam phẩm thành công
dịch:
Đất
bày dâng pháp khí
Phẩm
chất thuần túy đồng
Chuẩn
bị cho Phật Pháp hưng long
Đặt
tên làn Cổ Pháp
Pháp
khí xuất hiện mười chiếc chuông đồng
Họ
Lý hưng vương tam phẩm thành công.
Trước
khi chết, Sư còn dặn đệ tử truyền thừa là Thông Thiện
rằng Cổ Pháp là địa linh sau này có thể có kẻ biết đưọc
và tìm cách tàn phá, sau khi Thiền Sư qua đời, Thông Thiện
hãy cố giữ gìn sở nguyện của Sư và khi nào tìm đượ
người họ Đinh thì mới truyền sở nguyện đó. Với hành
động khám phá-rồi giải thích, hiện tượng Cổ Pháp là
địa linhnhân kiệt này, Sư Định Không quả đã công khai
gieo vào lòng các đồng môn, đệ tử, học trò của mìnhvà
dân chúng nói chung, một lòng tin rằng trước sau gì cũng sẽ
xuất hiện một nhân vật kỳ tài xuất chúng cứu vớt dân
tộc khỏi cảnh khổ nhục và với hành đông đò sẽ làm
cho Phật Giáo hưng thịnh khởi sắc theo.
Sau
khi Định Không tịch, Thông Thiện đã xây tháp thờ thầy
ở bên cạnh chùa Lỵc Tổ và cho ghi kắc lại lừi trăn trối
của thầy. Rồi Thông Thiện qua đời, chuyển lại lời trăn
trối của thầy cho đệ tử kế truyền là La Quý An (822-936).
La Quý An kể rằng khi cho lệnh lập trấn thành ở Sông Tô
Lịc, Cao Biền nhận biết phong thổ Cổ Phap1 có vượng khí
quân vương nên đã cho đào 19 địa điểm để trù ếm và
chính La Qúy An đã cho lấp đầy lại tất cả địa điểm
trù ếm đó. La Quý An tin rằng vùng Cổ Pháp thế nào cũng
xuất hiện bậ cái thế giúp nước giúp Đạo nên đã chẩn
bị mở đường và tạo phương tiện cho người đó hành động.
Sư cho lạc quyên vàng đúc thành pho tượng Lục Tổ và ngầm
chôn ở gần cổng chùa và dặn đệ tử lúc nào người anh
hùng đó xuất hiện thì lấy vàng đó mà ủng hộ. Ngoài ra,
để ngăn chận việc trù ếm của đối phương, Sư cũng đã
cho trồng một cây gạo ở chùa Minh Châu và dặn đệ tử
sau khi mình qua đời thì hãy xây tháp thờ trên chỗ chôn dấu
pho tượng này để giữ cho kỹ. Sư cũng để lại bài kệ
xác nhận là vị cái thế anh hùng sẽ xuất hiện đó họ
Lý. Sư La Quý An họ Đinh, đệ tử của Thông Biện, kế thừa
dòng thứ 10 Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi. Sư đ4 xuất hiện
và đã làm đúng nhu điều trăn trối của Sư Định Không
với đệ tử kế thừa là Thông Thiện vậy
Đệ
tử đời thứ1 của Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi là Thiền
Ông, cũng người Cổ Pháp, và là Thầy của Vạn Hạnh.
Trong
lúc ngưới anh hùng họ Lý chưa xuất hiện thì một sồ anh
hùng dân tộc khác đã đứng lên như Ngô Quyền, Đinh Bộ
Lịnh, Lê Đại Hành, nhưng cả ba đều không xuất phát từ
Cổ Pháp, hay it1 ra là từ Bắc Ninh nhu lời Sấm đoán của
Định Không và lòng tin tưởng của các đồng môn hay đệ
tử, mặc dù Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh và Lê Đại Hành đều
phải dưa vào thế lực nhà chùa về các mặt nội trị, ngoại
giao. Ngoài ra, một nhà Sư thuộc dòng thứ 10 của Thiền phài
Tì Ni Đa Lưu Chi là Pháp Thuận cũng đã từng giữ vai trò
quan trọng trong việc tranh thủ, củng cố và phát triển chính
quyền cho Lê Đại Hành. Vạn Hạnh cũng đã tiếp tay cho Pháp
Thuận trong công việc này.
Đó
là cái tâm cảnh hay cộng nghiệp trong đó Vạn Hạnh đã lớn
lên. Tâm cảnh của một đất nước sơi đông vì ngoại nhân
đô hộ áp bức vì những biến tướng quá độ của một
dân tộc đang chuyển mình thống nhứt và tự chủ, vì những
quyết tâm đóng góp công sức cho Đạo Pháp và thế nhân theo
truyền thống tu tập của dòng Thiền Tì Ni Đa Lưu Chi.
Cho
đến 21 tuổi Vạn Hạnh mới xuất gia, như vậy quyết định
chọn cửa Thiền của ông là một quyết định có ý hướng
chứ không phải chỉ vì “con vua thì lại làm vua...” Ông
đã biết trước tại sao phải xuất gia và xuất gia để làm
gì và Phật Giáo có thể giúp gì cho ông trong việc thành đạt
mục đích ấy. Truyền. Truyền thống Thiền Tì Ni Đa Lưu Chi
có giúp ông đạt mục đích ấy không, và như thế nào?
Dòng
Thiền Tì Ni Đa Lưu Chi do Thiền Sư Ấn Độ cùng tên sáng
lập. Tì Ni Đa Lưu Chi trước theo Ấn giáo. Sư đến Tràng
An Trung Hoa năm 562 và hành đạo ở đó. Từ năm 574, Phật
Giáo bị Chu Võ Đến đàn áp nặng nề (Pháp nạn 3 năm 574-577),
Sư phải lánh về Hồ Nam và gặp Tam Tổ Tăng Xắn cũng đang
lánh nạn nơi đây. Sư muốn ở lại để thọ giáo nhưng Tam
Tổ đã giục Sư phải đi về Nam để hành đạo. Sư xuống
Quảng Châu ở lại chùa Chế Chỉ dịch kinh một thời gian
đến năm 580 thì đến Việt Nam, ngụ tại đến năm 580 thì
đến Việt Nam, ngụ tại chùa Pháp Vân. Hồi ở Trung Hoa, Sư
đã dịch kinh Tổng Trì.
Tượng
Đầu Tinh Xá là kinh bàn về cách thành đạt bồ đề hay giác
ngộ. Muốn chứng quả Bồ đề thì phải vượt tam giới,
vượt ngôn ngữ,ở văn tư và không chấp trụ vào bất cứ
một điểm nào cả và muốn phá giải các chấp trụ đó thì
phải nhớ đến quán niệm. Tượng Đầu Tinh Xá có thể xem
như là thủ bản Thiền của dòng Tì Ni Đa Lưu Chi. Tượng
đầu Tinh Xá chủ trương tu hành muốn giác ngộ thì phải
vượt ngôn ngữ văn tự nghĩa là không chấp trước kinh điển.
Chủ trương này quả thực không phải đã được các Tổ
sư Phật Giáo Việt Nam triệt để chấp nhận hay thi hành,
bởi truyền thống Phật Giáo này không phải là một truyền
thống duy lý cực đoan xa rời lề lối tín ngưỡng nặng sùng
kính của người bình dân. Thứ nữa, sòng Tì Ni Đa Lưu Chi
tuy là một dòng Thiền nhưng cũng không hề có môn quy riêng
biệt cho việc Thiền hành và sinh hoạt của các Thiền sinh
vẫn bị chi phối song song bởi những quy định về Thiền
cĩng như Luật. Do đó, người tu đã không ngạc nhiên khi thấy
một người được xem như Tổ của Thiền phái đầ tiên ở
Việt Na lại bỏ công dịch một quyển kinh mật Tông đó là
kinh Tổng Trì hay Đại Thừa Phương Quảng phát khởi từ thế
kỷ thứ tư, phát triển mạnh vào thế kỷ thứ tám và được
hệ thống hoá thành một Tông riêng biệt đó là Mật Tông
hay Kim Cang Thừa mà kinh căn bản là Kinh Đại Nhật.
Sự
phân biệt Thiền Mật, Thiền Tịnh, Bắc Nam có lẽ đã chỉ
được cụ thể sau này mà thôi, chứ trong buổi đầu cũng
như mãi sau này - ít ra là trong cái nhìn đại chúng, Thiền
và Mật vẫn tỏ ra nếu không có những điểm tương đồng
thì ít ra cũng không có nhiều điểm dị biệt. Mối liên hệ
giữa Tì Ni Đa Lưu Chi và Tam Tổ Thiền Trung Hoa Tăng Xám là
một ví dụ. Tì Ni Đa Lưu Chi kể rằng hồi ở với Tam Tổ,
Sư đã được Tam Tổ truyền tâm ấn cho và bảo về phương
Nam mà hoằng hóa. Chính Tam Tổ cũng đã dùng hai chữ tâm ấn
trong lời di chúc cho đệ tử Pháp Hiền trước khi qua đời.
Mà tâm ấn lại là tinh hoa của Đạo, là bí kiếp giác ngộ
được truyền thưa không phải qua những thế thức nghi lễ
thông thường mà là bằng phương thức giáo ngoại biệt truyền
bất lập văn tự. Chính Bồ Đề Đạt Ma cũng quả quyết
đó là con đường chứng ngộ của Sư. Như vậy, ít nữa là
ở kết điê63m tu chứng và đồng thời cũng là khởi điểm
hoằng hoá, Thiền và Mật đều có một quan niệm như nhau.
Trong
Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nguyễn Lang đã nhận định:
“Mật giáo bắt nguồn từ tư tưởng thâm sâu của Bát nhã
đồng thời cũng bắt nguồn từ những tín ngưỡng nhân gia
Ấn Độ. Về phương diện sau này, Mật giáo chấp nhận sự
có mặt của những thần linh được thờ phụng trong dân gian,
và như thế khiến cho đạo Phật phát triển rất rộng trong
sinh hoạt quần chúng. Ở Giao Châu, khuynh hướng và phong tục
người Việt, vì vậy cho nên Mật giáo đã trở nên một yếu
tố khá qua trọng trong sinh hoãt Thiền môn.
Đứng
về phương diện tư tưởng, Mật giáo là một phản ứng đối
với khuynh hướng quá thiên trọng trí thức và nghiên cứ1u
của các hệ thống Bát Nhã và Duy Thức. Theo Mật giáo, trong
vũ trụ có ẩn tàng những thế lực siêu nhiên kia thì ta có
thể đi rất mau trên con đường giác ngộ thành đạo, khỏi
phải đi tuần tự từng bước. Sự giác ngộ có thể thực
hiện trong giây phút hiện tại. Sự xử dụng thế lực của
thần linh, sự sử dụng thần chú, ấn quyết và các hình
ảnh mạn đà la có thể hỗ trợ đắc lực cho sự Thiền
Quán hành đạo. Chính vì khuynh hướng này của Mật giáo mà
Phật giáo đã bao trùm tín ngưỡng bình dân trong lòng nó,
ở Ấn Độ cũng như Việt Nam” (sđd. trang 129).
Trong
tâm cảnh đóm trong vòng tay của y báo đó và dưới sức nặng
của công nghiệ đó, Vạn Hạnh đã trưởng thành, quyết định
chọn con đường Phật Giáo của thờiđại để tu tập và
dấnthân.
Con
đường Vạn Hạnh đi không phải là con đường lên núi làm
một nhà tu cô c9ơn khổ hạnh, cũng không phải là con đường
đưa Sư đến chỗ ngồi nhìn vách quay lưng lại cuộc đời
mà tu. Con đường Sư đi là con đường hành động với con
tim vô tư, vô cầu, với quyết ý dốc cả tâm can phò trợ
những ngườikhoan dung, được lòng dân, có hoài bão làm cho
dân cho nước thịnh trị như lời Sư dùng để khuyến khích
người đệ tử tại gia của mình là Lý Công Uẩn hãy biết
dùng cái trí cái dũng của thánh nhân nắm lấy thời cơ tiếp
tục những công việc mà Lê Đại Hành muốn làm và chính
Sư cũng đã muốn giúp Lê Đại Hành làm, nhung đã không làm
được.
Cho
đến năm 21 tuổi mới quyết định xuất gia, như vậy thì
trước đó hẳn Vạn Hạnh đã có mộ thời gian khá đủ để
tìm hiểu những dòng tư tưởng thời thượng mà người Trung
Hoa đã quyết cấy vào đầu óc người dân Việt bị trị
bao nhiêu trăm năm qua. Những dòng tư tưởng thời thượng
đó là Nho, là Lão vậy. Nếu muốn dùng nhựng kinh nghiệm
trí thức để tiến thân thì chắc cũng không khó. Nhưng Vạn
Hạnh đã không chọn con đường thành công xây dựng trên
chiến tích thắng vạn hùng binh đó, trái lại Sư đã chọn
con đường thành công xây dựng trên chiến tích tự thắng
chính mình. Sử sách kể rằng Sư thuộc một gia đình có truyền
thống phụng thờ Phật. Nhưng đó cũng chưa hẳn là nguyên
nhân khiến Sư quyết định xuất gia. Bởi vì nếu xuất gia
chỉ vì ảnh hưởng của truyền thống gia đình thì hẳn Sư
đã xuất gia từ thời thơ ấu. Cho nên việc xuất gia của
Vạn Hạnh khi đã trưởng thành cũng là một điều đáng suy
nghĩ, một kỳ sự khiến cho người ta có thể hỏi bậc kỳ
nhân mà Sư Định Không hai thế kỷ trước đó đã tiên đoán
sẽ xuất hiện ở miền Cổ Pháp, có thể là Lý Công Uẩn
kẻ sáng lập ra triều đại thịnh trị huy hoàng đầu tiên
của Việt Nam, mà cũng có thể là Vạn Hạnh, kẻ đã xây
dựng và hun đúc nên tài trí của Lý Công Uẩn. Không có Lý
Công Uẩn thì cũng không có nhà Lý, nhưng không có Vạn Hạnh
thì cũng khó mà có Lý Công Uẩn.
Sử
kể rằng Lý Công Uẩn người Cổ Pháp, Bắc Ninh. Không biết
cha là ai. Theo truyền thuyết thì mẹ ông một hôm vãng cảnh
chùa Tiên Sơn mộng gặp thần nhân rồi thụ thai ra ông. Năm
ông lên ba, mẹ ông đem ông cho vi sư trụ trì chùa Lục Tổ
làm con nuôi. Từ thuở còn bé, Lý Công Uẩn đã thông minh
độ lượng rộng rãi. Vạn Hạnh quan sát ông và tự nhủ
đây là một người phi thường, sau này lớn lên chắ có thể
cứu đời, yên dân, làm chúa thiên hạ. Lý Công Uẩn trưởng
thành trong khung cảnh đó và xuất chính phục vụ Le Đại
Hành. Vì có tài đức nên ông được nhiều người mến trọng.
Lê Đại Hành chết, Lê Long Đĩnh cướp ngôi, trị dân một
cách tàn độc. Đó chính lá hoàn cảnh thuận lợi để Vạn
Hạnh đạo. Biến một đứa con rơi sống nhờ cơm chùa thành
một kẻ văn võ song tòan tài và từ một kẻ văn võ toàn
tài thành vị vua sáng lập triều Lý thịnh trị dài lâu hơn
hai trăm năm. Đó chính là thành tích trụ tích trấn vương
kỳ của Vạn Hạnh vậy. Phải chăng Vạn Hạnh đã nhờ
Lý Công Uẩn thực hiện thay mình cái mộng xây đời thịnh
trị bằng con đường công hầu khanh tướng mà trước khi
xuất gia hẳn phải có lúc Sư đã ao ước dấn thân?
Có
thể nói, Vạn Hạnh đã khởi đi vào đời bằng Nho, ở lại
cới đời bằng Lão, và đã vươn lên tất cả bằng Phật
giáo vậy. Nho giáo đã giúp Sư xây mộng kinh luân xây đời
thịnh trị, nhưng Nho giáo cũng có thể là cái bẫy cùm quáng
cực đoan hay trong thế lưỡng đầu bế tắc nhậo thế xuất
thế, mẫn thế yếm thế. Lão guáo đã giúp Sư nhìn đời
bằng đôi mắt khóng dật, xem công danh như một nguyên ủy
có thê là cái bẫy cùm thân Sư lại trong luỡng đầu bế
tắc vô vi hữu vi, thương đời ghét đời, gần người xa
người. Phật giáo đã giúp Sư tránh được tinh hoa của cả
Nho, Lão, Phật thành nhiên liệu giúp Sư hoà hợp được tu
và hành trên căn bản yêu mình là yêu người, tự giác là
giác tha.
Theo
truyện sử, Vạn Hạnh đã khởi đến với Phật giáo qua ngọ
Tam Học, tức lối ngõ Nguyên Thủy mà yếu chỉ tu tập là
giới, Định, Huệ. Lối ngõ Tam Học này có thể dẫn người
học lạc vào nẻo giáo điều tiêu cực nhắm mắt với thế
sự đễ ẩn nhẫn đợi chờ giác ngộ qua trường kỳ khổ
luyện. Hoàn cảnh đất nước thời bấy giờ thật khó mà
để cho Vạn Hạnh khi nào tâm trí Sư vẫn vương vấn cái
hạnh nguyện Bồ Tát, xây “đời thịnh trị” thì cũng khó
mà quay mặt vào vách ngồi yên. Do đó mà Vạn Hạnh đã từ
Tam Học để tiến thêm một bước nữa trên đường tu chứng.
Bước mới đó là Tam Luận, là Thập Nhị Môn, Trung Quán và
Bách Luận, những con đường phá chấp toàn triệt, giải phóng
toàn diện kẻ tu hành khỏi những vướng mắc chấp trước
về tri cũng như hành. Những chấp trước lưỡng đầu như
thường cô thường, ngã vô ngã, hữu thơì vĩnh cửu, hữu
tướng vô tướng, nhập thế xuất thế, hữu vi vô vi, khổ
hạnh buông thả, vị tha vị kỷ, khả thuyết bất khả thuyết.
Tất cả có thể làm kẻ tu hành lạc bước vào những rừng
lý thuyết, ngôn từ. Có thể nói Tam Luận đã giúp cho Vạn
Hạnh vượt được cả Nho, Lão lẫn nhựng khuynh hướng nhập
thế tu chứng của dòng Tì Ni Đa Lưu Chi.
Cuốn
kinh Thủ Bổn của dòng Tì Ni Đa Lưu Chi là kinh Tượng Đầu
Tinh Xá. Nội dung của kinh này là chủ trương dùng Thiền Quán
để phá chấp vì có phá chấp thì mới thành đạt bổ đề
hay giác ngộ. Lời di chúc của Vạn Hạnh cùng đệ tử trước
khi giã từ cõi đời: “Các ngươi muốn về đâu ? Phần ta,
ta chẳng lấy nơi dừng để dừng” đúng là một âm vang
thân thiết chân thật những lời Phật thuyết trong Tượng
Đầu Tinh Xá: “An trú vào nơi không chấp trước tức là
an trú ở Bồ đề, an trú ở nơi chơn lý tất cả các pháp
không có thể tướng tức là an trú Bồ đề, an trú nơi không
tăng không giảm là an trú nơi Bồ đề...” (Nguyễn Lang, sđđ
trang 117)
Sử
sách cũng kể là sau khi Thầy chết, Vạn Hạnh còn chuyên hành
một pháp môn khác nữa đó là Tổng Trì Tam Ma Địa. Đây
là pháp môn nhằm bảo tồn năng lự tâm linh khỏi hao hụt
suy chuyển vì vọng ngoại. Pháp môn này được thể nghiệm
theo một tiến trình như sau:
1.
Tập trung tinh thần cho khỏi vọng động hay Chính Định.
2.
Điều động cảm thức hoà hơp5 với đối tượng hay Chính
Tâm Hành Xứ.
3.
Hòn toàn điều động được tâm thức không còn mảy may giao
đện hay Lự Ngưng Tâm.
4.
Thực hiện đựơc thế quân bình tuyệ đối của tâm thức
hay Đổng Trì.
5.
Điều khiển được hơi thở đến mức hoàn toàn ngưng đọng
hay Chỉ Tức
Thực
hiện được Chỉ Tức đạt đền mức có thể gọi là siêu
thần nhập hoá hay Tổng Trì Tam Ma Địa vậy (Nguyễn Đăng
Thục, Thiền Vạn Hạnh, tr. 167). Pháp môn Tổng Trì Tam Ma Địa
này xét cho cùng cũng không sai khác mấy với phaép Thiền Quán
được trình bày trong kinh Tượng Đầu Tinh Cá. Theo thiền
quán này gồm:
1.
Quán nội giới cuả thân là không.
2.
Quán ngoại giới của thân là không
3.
Quán các pháp trong và ngoài đều không.
4.
Không bị chấp trước vào nhứt thế trí
5.
Không bị chấp trước vào những phương tiện tu hành.
6.
Không bị chấp trước vào các điạ vị tu chứng của các
bậc hiền thánh
7.
Không chấp trước vào sự thanh tịnh đạt được do sự hành
đạo lâu ngày
8.
An trú ở Bát Nhã Ba La Mật.
9.
Không bị chấp trước vào công việc giảng luận giáo hoá.
10.
Quán các chúng sanh phát khởi từ bi và lòng lân mẫn.
Thấy
được sự tương đồng này tức là hiểu được tại sao
Tì Ni Đa Lưu Chi lại vừa dịch Tượng Đầu Tinh Xá của Thiền
vứa dịch Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì của Mật. Và
đồng thời cũng hiểu được tại sao Vạn Hạnh lại dùng
thần thông sấm ký để hành đạo cứu đời, xây dựng nên
vương nghiệp nhà Lý.
Phật
giáo với Vạn Hạnh đã có tác dụng vừa như một lực động
cho Sư tiến tới trên con đường hoằng hoá, vứa như một
vật xúc tác làm cho Sư hoà đồng với đời, với đạo, với
chính bản thân Sư.
Kinh
nghiệm đó của Vạn Hạnh đã được đúc kết trong bài kệ
truyền lại cho đời trước lúc thoát tục. Bài kệ đó cũng
chính là những dòng chữ đã gói ghém cái bí quyết liễu
ngộ, thành đạt Bồ đề, cái bí quyết nhậm vận của Vạn
Hạnh.
Thành
qủa hành Thiền đã được trình bày bóng bẩy qua 10 giai đoạn
tranh chăn trâu (Mục Ngưu Đồ) hay 10 cấp hành Thiền:
Cấp
1: Vị mục, tâm với ý còn chạy tìm nhau, như mục đồng
tìm trâu.
Cấp
2: Sơ điều, trâu đã bị xỏ mũi nhưng vẫn còn hung hăng.
Cấp
3: Thục chế, trâu chịu theo nhưng mục đồng thì vẫn còn
cảnh giác.
Cấp
4: Hồi thủ, không cần xỏ mũi để chăn trâu nữa nhưng mục
đồng vẫn còn để mắt trong coi.
Cấp
5: Tuần phục. Ta đâu trâu đó
Cấp
6: Vô ngại, mục đồng thả cho trâu tự do nhưng trâu vẫn
không xa rời mục đồng.
Cấp
7: Nhậm vân. Trâu với mục đồng hoà hợp như bóng với hình,
nhưng cả hai vẫn còn đó.
Cấp
8: Tương vong. Trâu với mục đồng chỉ còn là một.
Cấp
9: Độc chiếu. Trâu với mục đồng đều tan biến, chỉ còn
chân như.
Vạn
Hạnh chỉ tự nhận mình mới thành đạt được Thiền cấp
7 . Đời còn đó, quốc gia dân tộc còn đó, mục tiêu chính
trị xã hội phải thành đạt để “đời thịnh trị” có
thể tựu thành vẫn còn đó... nhưng tấ cả đều không còn
phải là tương phản, tương xung, ngăn trở quấy rầy bước
chân của ke hành Thiền nữa. Bởi Vạn Hạnh đã thấy được
có cũng là không, không cũng là có, không có là có, không
có cũng là không. Như màu xanh của cây lá mùa xuân đã tiềm
ẩn màu vàng úa của mùa thu, như thành công là mặt trái của
thất bại, như tiền tài là sự ẩn mặt tạm thời của trắng
tay nghèo khó, như vinh quang là cái bọt nổi của khổ nhục,
như Chết là một nhịp chuyển của Sống...
Tấ
cả chỉ là những sát na biến hiện, tất cả đều là chân
lý, đều là sự thật, đều là thực tại trong sát na, trong
sát na của một sát na, trong sát na của sát na của một sát
na... nghĩa là cái khoảnh khắc sẽ làm cho thời gia mà một
hạt sương mai chênh vênh tồn tại trên đầu ngọn cỏ trở
thànhngàn năm, vạn năm.
Vạn
Hạnh chưa đạt đến ba cấp cuối cùng của Thiền là Tương
Vong, Độc Chiếu và Chân Như, hay Sư chỉ muốn dừng lại
ở cấp 7 của Thiền đề còn được cảm nhận đất nước
đó, đồng bào đồng đạo đó, ta đây, để còn cảm nhận
được cái khổ, cái vui, cái mơ ước của một tập thể
lịch sử mà Sư có thể tiếp tay cứu độ, vun vén, thực
hiện. Và nếu Niết Bàn là nẻo tận của kẻ đạt đạo,
thì Vạn Hạnh quả là người đã xông thẳng vào rừng chông
gai của lịch sử Việt Nam trong giai đoạn chuyển mình tự
chủ để vào nẻo ấy vậy.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 06-2004
Down
Load " Word Document" (WinZip File 372 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay In ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân