NHỮNG
BƯỚC THĂNG TRẦM
Dịch
giả: Phạm Kim Khánh
Thế
gian chênh lệch nầy quả không hoàn toàn tươi đẹp như cánh
hoa hồng. Nó cũng không tuyệt đối gai góc như cây hồng.
Hoa hồng dịu dàng, đẹp đẽ, và mùi thơm ngào ngạt. Nhưng
cái cây sanh ra nó thì mình đầy gai góc. Hoa là hoa. Gai là
gai. Cái gì thuộc về hoa là của hoa. Cái gì thuộc về gai
là của gai. Không vì hoa mà ta lao mình vào gai, cũng không vì
gai mà xa lánh hẳn hoa hồng.
Với
người lạc quan, thế gian này tuyệt đối như cánh hoa hồng.
Người bi quan, trái lại, thấy nó đầy gai chướng. Nhưng,
đối với người thực tiễn, thế gian không tuyệt đối tươi
đẹp, cũng chẳng hoàn toàn xấu xa.
Người
hiểu biết sẽ không say mê sắc đẹp của hoa hồng nhưng
nhận định đúng nó là thế nào. Thấu triệt bản chất của
gai, người ấy thấy đúng thực tướng của nó và sẽ hành
động đủ thận trọng để khỏi bị gai quào hay đâm, chích.
Giống như quả lắc của đồng hồ, đánh qua trái rồi sang
phải, phải rồi trở lại trái, luôn luôn như vậy, có bốn
phước lành và bốn điều bất hạnh trong đời sống mà tất
cả mọi người ai ai cũng phải đương đầu, không ai tránh
khỏi. Ðó là được và thua; danh thơm và tiếng xấu; ca tụng
và khiển trách; hạnh phúc và đau khổ. Danh từ Pali gọi là
Atthlokadhamma, Tám Pháp Thế Gian. Theo kinh điển Hán Tự đó
là Bát Phong, tức tám ngọn gió thổi vào đời sống và làm
chao động đèn tâm.
Ðược
và thua
Thế
thường, các nhà doanh thương phải gặp cả hai điều: được
và thua, hay nói cách khác, lợi lộc và lỗ lã. Dĩ nhiên, khi
được lợi thì người ta thỏa thích, vui mừng. Ðiều nầy
tự nó không có gì sai lầm. Những mối lợi tương tự, dầu
chánh đáng hay không, đều đem lại niềm vui mà người thường
ai cũng ước mong, ai cũng tìm kiếm. Nếu không có những giờ
phút vui vẻ, dầu là tạm bợ, đời quả thật không đáng
sống. Trong thế gian tranh chấp và bấp bênh này, con người
được rất ít cơ hội thọ hưởng một vài loại hạnh phúc
để làm phấn khởi tâm trí. Những lạc thú tương tự, dầu
vẫn là vật chất, chắc chắn sẽ giúp ta thêm sức khỏe
và tuổi thọ.
Nhưng,
đến khi lỗ lã thì phiền não bắt đầu khởi phát. Ta có
thể mỉm cười dễ dàng khi lợi lộc, nhưng lúc thua thiệt
thì không. Nhiều trường hợp lỗ lã quan trọng làm cho người
ta loạn trí, lắm khi đưa đến cảnh quyên sinh mạng sống,
nếu không còn chịu đựng được nữa. Chính trong những trường
hợp tương tự ta phải biểu dương tinh thần dũng cảm và
giữ tâm bình thản, không để quá chao động. Trong lúc vật
lộn với đời sống, tất cả mọi người đều phải gặp
những lúc thăng, lúc trầm, và chúng ta phải sẵn sàng chịu
đựng, sẵn sàng đối phó, nhất là trong nghịch cảnh. Nỗi
thất vọng sẽ giảm nhiều.
Mất
một vật gì, tất nhiên ta cảm thất buồn. Nhưng chính cái
buồn không giúp ta tìm lại được vật đã mất. Ta phải
nghĩ rằng ai đó có thể hưởng vật kia, mặc dầu họ hưởng
một cách bất chánh. Ước mong người ấy được vui vẻ,
an lành và hạnh phúc!
Hoặc
giả ta có thể tự an ủi: “đây chỉ là một mất mát nhỏ
nhen, không quan trọng“. Hay ta có thể chấp nhận một thái
độ triết lý cao thượng: “Không có gì là “Ta“, không
có cái gì là “Của Ta“. Trong những hoàn cảnh tương tự,
ta phải giữ tâm bình thản.
Vào
thời Ðức Phật còn tại thế, có một thiếu phụ đến chùa
trai tăng. Ðức Xá Lợi Phất và các vị tỳ kheo khác. trong
khi sửa soạn dâng vật thực đến các ngài thì bà được
tin chồng và tất cả các con bị người ta phục kích giết
chết lúc đang đi hòa giải một cuộc tranh chấp. Bà không
tỏ ra buồn. Thản nhiên, bà lặng lẽ cất giữ thơ vào túi
rồi tiếp tục để bát chư Tăng như không có gì xảy ra.
Lúc bấy giờ người nữ tỳ của bà bưng hũ mật và sữa
để dâng chư Tăng, rủi trợt té làm bể cái hũ. Nghĩ rằng
có lẽ bà thí chủ sẽ tiếc cái hũ và thức ăn đựng trong
đó, Ðức Xá Lợi Phất an ủi bà rằng các vật như cái hũ,
đã mang tánh chất “bể“ theo liền với nó, ắt phải bể
một ngày nào, Bà tín nữ trí tuệ điềm tĩnh trã lời: “Kính
bạch Ðại đức, đó chỉ là một mất mát tầm thường.
Con vừa nhận được tin chồng và các con của con bị kẻ
sát nhơn giết chết. Con bỏ thơ vào túi và vẫn giữ tâm
bình thản, không bấn loạn. Và mặc dầu được tin dữ, con
vẫn tiếp tục để bát Ngài và chư tăng“.
Ðức
quả cảm quí báu của người thiếu phụ thật đáng được
ca ngợi và đáng được làm gương cho người khác.
Lần
khác, Ðức Phật và các môn đệ an cư kiết hạ trong làng
nọ, theo lời mời của một người bà-la-môn. Nhưng vị này
hoàn toàn lãng quên bổn phận là phải chăm lo các Ngài. Suốt
trọn thời gian ba tháng hạ Ðức Phật và chư Tăng bình thản
dùng những thức ăn của ngựa mà một người lái ngựa đã
dâng đến, mặc dầu đức Mục Kiền Liên tình nguyện dùng
thần thông đi tìm vật thực khác. Ðức Phật không một lời
than van hay phản đối.
Bà
Visakha, vị nữ thí chủ quan trọng trong thời Ðức Phật,
thường đến chùa chăm lo mọi nhu cầu của Ðức Phật và
chư Tăng. Một hôm, bà đắp một cái áo choàng rất quí giá
để đi chùa. Khi đến cổng chùa, bà cổi áo choàng ra đưa
cho người nữ tỳ cầm giữ. Lúc ra về cô tỳ nữ vô ý,
bỏ quên lại. Ðại Ðức A Nan Ðà thấy, đem cất một nơi,
chờ bà Visakha đến sẽ trao lại. Về đến nhà sực nhớ,
bà bảo người nữ tỳ quay trở lại tìm, nhưng căn dặn nếu
có vị tỳ khưu nào đã đụng đến thì không nên lấy về.
Cô tỳ nữ đến chùa hỏi thăm, biết rằng Ðại Ðức A Nan
Ðà đã cất giữ cái choàng nên trở về báo tin cho chủ.
Bà Visakha liền đến hầu Phật và tỏ ý muốn làm việc thiện
với số tiền bán cái choàng quí giá ấy. Ðức Phật khuyên
bà nên kiến tạo một ngôi tịnh xá để chư Tăng có nơi
cư trú. Vì không ai có đủ tiền mua cái áo choàng quí giá
như thế nên chính bà mua lại và dùng số tiền ấy xây dựng
một ngôi tịnh xá đẹp đẽ, dâng đến chư Tăng. Sau khi dâng
xong ngôi chùa bà ngỏ lời tri ân người tỳ nữ như sau: “Nếu
con không lỡ bỏ quên cái áo choàng, ắt ta sẽ không có cơ
hội tạo nên phước báu này. Như vậy ta xin chia phước này
đến con“. Thay vì buồn rầu hay phiền giận vì tạm thời
mất một vật quí giá, và la rầy người tỳ nữ vô ý, bà
cám ơn người ấy đã giúp cơ hội tạo phước.Thái độ
gương mẫu của bà Visakha học thức đáng làm một bài học
cho những ai dễ nóng giận vì lỗi lầm của người giúp việc
thế cô.
Ta
phải dũng cảm chịu đựng những lỗ lã, thua thiệt. Ta phải
đương đầu với nó, và như câu “họa vô đơn chí“ diễn
tả, nó đến một cách đột ngột, từng đoàn, từng đám
đông, chớ không đơn độc. Ta phải điềm tĩnh đối phó,
với tâm xả hoàn toàn, và nghĩ rằng đây là cơ hội vàng
ngọc để thực hành đức tánh cao thượng này.
Danh
thơm và tiếng xấu
Danh
thơm và tiếng xấu là một cặp thăng trầm khác mà ta phải
đối phó hằng ngày. Danh thơm, chúng ta hoan hỉ đón mừng.
Tiếng xấu, chúng ta không thích. Danh thơm làm phấn khởi tinh
thần. Tiếng xấu làm cho ta đau xót.
Chúng
ta thích được trứ danh. Chúng ta mong muốn thấy tên tuổi
và hình ảnh mình trên mặt báo. Chúng ta rất thỏa thích thấy
những hoạt động của chúng ta, dầu không đáng kể, được
tường thuật, và được nhiều người nhắc nhở, nhiều người
biết đến. Lắm khi ta cũng cố gắng, một cách bất chánh,
làm cho nhiều người chú ý đến mình.
Ðể
thấy hình ảnh trên tạp chí, vài người sẵn sàng trả một
số tiền to tát. Ðể được danh dự, vài người sẵn sàng
đóng góp quan trọng hay hối lộ cho nhóm người quyền thế.
Ðể tự quảng cáo, vài người biểu dương tâm trong sạch
bố thí của mình bằng cách trai tăng hằng trăm vị tỳ khưu,
hay hơn nữa. Nhưng có thể những người trên sẽ hoàn toàn
thản nhiên trước nỗi thống khổ của người nghèo nàn đói
rách sống ngay bên cạnh mình. Ta có thể rầy la và hành phạt
một tên trộm quá đói khát, vào vườn ăn cắp của ta một
trái dừa để làm dịu bớt cơn đói, nhưng ta sẽ không ngần
ngại cho ra cả thiên dừa để đổi lại chút danh thơm.
Ðó
là khuyết điểm của con người. Chí đến khi làm điều thiện,
phần đông chúng ta cũng làm với ẩn ý vụ lợi. Những người
hoàn toàn vị tha rõ thật hiếm hoi trên thế gian này. Vì lẽ
ấy, người nào đã làm một việc thiện - dầu động cơ
thúc đẩy đến hành động không mấy đáng được ca ngợi
- cũng đáng được tán dương vì đã làm điều thiện ấy.
Phần đông người thế gian chúng ta luôn luôn còn giấu một
cái gì trong tay áo. Ai là người trăm phần trăm tốt? Bao nhiêu
người hoàn toàn trong sạch, từ động cơ đến hành động?
Bao nhiêu người tuyệt đối vị tha?
Chúng
ta không cần phải chạy theo danh thơm tiếng tốt. Nếu chúng
ta xứng đáng, nó sẽ đến mà không cần tìm. Khi hoa đượm
mật đầy đủ, ong, bướm sẽ đến. Hoa không cần mời ong,
hay mời bướm. Ðúng thật vậy, chúng ta cảm nghe tự nhiên
vui sướng, vô cùng hạnh phúc, khi thanh danh của chúng ta bay
xa, bay rộng. Tuy nhiên, chúng ta phải nhận định rằng tiếng
tốt, danh vọng, vinh quang, chỉ đi theo với ta đến mồ là
cùng. Rồi nó tan biến ra mây, ra khói. Nó chỉ là những ngôn
từ, mặc dầu là kim ngôn, là mỹ từ, làm êm dịu tai ta.
Còn
tiếng xấu thì sao? Chúng ta không thích nghe hay nghĩ đến nó.
Chắc chắn là khi những lời nói xấu lọt vào tai ta nó sẽ
làm cho tâm ta bàng hoàng, khó chịu. Nỗi khổ tâm càng sâu
đậm hơn nữa nếu những lời gọi là tường thuật hay báo
cáo ấy tỏ ra bất công hay hoàn toàn sai lạc.
Thường
phải mất cả năm, hay hơn nữa, để kiến tạo một ngôi
nhà nguy nga và vĩ đại. Nhưng, chỉ trong nháy mắt khí giới
tối tân hiện đại có thể tàn phá dễ dàng. Lắm khi ta phải
mất nhiều năm hay trọn cả một kiếp sống để gầy dựng
thanh danh. Bao nhiêu công trình lao khổ ấy có thể tàn rụi
trong khoảnh khắc. Không ai có thể tránh khỏi câu nói tai
hại bắt đầu bằng tiếng “nhưng“. Thật vậy, ông ấy
rất tốt, ông đã làm việc nầy, điều kia. Nhưng... Phần
đầu tốt đẹp đã bị cái “nhưng“ đẩy vào đêm tối
của lãng quên. Bạn có thể sống đời trong sạch như một
vị Phật nhưng bạn không thể tránh những lời chỉ trích,
tấn công và nguyền rủa. Ðức Phật là vị giáo chủ trứ
danh nhất thời bấy giờ, mà cũng là người bị nguyền rủa
và sỉ vả nhiều nhất thời bấy giờ.
Các
bậc vĩ nhân thường không được biết đến. Hay có được
biết, cũng được biết một cách sai lệch. Khi sứ mạng lịch
sử của Ðức Phật đã được hoàn thành viên mãn và có
rất nhiều người tìm đến xin xuất gia, các vị đạo sĩ
đối nghịch phỉ bảng rằng vì Ðức Phật mà mẹ phải lìa
con, vợ lìa chồng, và chính Ngài đã làm trở ngại mọi tiến
bộ của đất nước.
Chính
người em họ và môn đệ của Ðức Phật cũng nhiều lần
âm mưu làm sụp đổ phẩm hạnh cao quí của Ngài, nhưng thất
bại. Ông lại sanh tâm mưu sát Ðức Thế Tôn bằng cách từ
trên cao lăn đá vào mình Ngài. Nếu đó là số phần bất
hạnh của một người vô tội và trong sạch như Ðức Phật,
hạng người tầm thường còn phải chịu như thế nào?
Lúc
trèo núi, ta càng lên cao người đứng dưới đồng bằng càng
để ý đến ta và càng thấy ta nhỏ hơn. Và họ chỉ thấy
phía sau lưng, không thấy trước mặt. Thế gian thổi lông
tìm vết này chỉ muốn trưng bày khuyết điểm và lỗi lầm
của ta. Bao nhiên tánh tốt thì giấu nhẹm. Cái xay quạt lúa
quạt đi bụi bậm và lúa hư, nhưng giữ lại các hột lúa
no đầy. Cái rây thì trái lại, giữ phần xác thô sơ mà lược
đi nước trái cây ngon ngọt. Người có trau dồi trí thức
giữ cho mình phần tinh tế và bỏ đi phần thô sơ. Hạng vô
học giữ cái thô và bỏ đi cái tinh vi tế nhị. Mỗi khi bị
hiểu lầm và bị người ta vô tình hay cố ý, truyền rao một
cách bất công, ta nên sáng suốt suy nghĩ, hay nói như Epictetus
đã khuyên: “May quá, người ta không quen mình nhiều và chỉ
biết mình sơ sài nên chỉ nói xấu mình bấy nhiêu. Nếu người
ta biết mình nhiều hơn chắc mình còn bị chỉ trích nhiều
hơn nữa.“
Không
cần phung phí thì giờ vô ích để sửa sai những lời đồn
đãi sai lạc, nếu hoàn cảnh không bắt buộc ta phải làm
sáng tỏ vấn đề. Kẻ thù nghịch sẽ lấy làm thỏa thích
mà thấy ta bực bội vì lời nói của họ. Ðó chính là điều
mà họ mong muốn. Nếu ta thản nhiên, lời vu oan sẽ tan biến
vào quên lãng. Ðể thấy lỗi lầm của người khác, ta phải
làm như người mù; Ðể nghe lời chỉ trích của người khác,
ta phải làm như người điếc; Ðể nói xấu người khác,
ta phải làm như người câm. Không thể chấm dứt những lời
buộc tội, những lời tường thuật hay đồn đãi sai lầm.
Thế gian đầy chông gai và đá nhọn. Ta không thể dẹp sạch
gai và đá. Nhưng nếu phải đi trên đó bất kể những trở
ngại thì, thay vì dời gai và đá - chuyện mà ta không thể
làm - tốt hơn ta nên mang một đôi giày và thận trọng đi
từng bước. Chúng ta sẽ được an toàn.
Giáo
Pháp dạy ta: Hãy như sư tử, không run sợ trước tiếng động;
Hãy như luồng gió, không dính mắc trong màn lưới; Hãy như
hoa sen, từ bùn nhơ nước đục mọc lên, nhưng không bị nước
đục bùn dơ làm ô nhiễm; Hãy vững bước, một mình, như
con tê giác.
Chúng
ta đang sống trong bùn dơ nước đục. Nhiều đóa sen đã từ
đó vươn lên, tô điểm sơn hà, mà không bị nước đục
và bùn dơ làm hoen ố. Chúng ta phải cố gắng sống như hoa
sen, một đời trong sạch và cao quí, không màng để ý đến
bùn dơ mà người khác có thể ném vào chúng ta.
Âu
cũng lạ, rằng các bậc vĩ nhân thường bị vu oan, phỉ báng,
đầu độc, treo lên thánh giá hay bị bắn chết. Ông Socrates
vĩ đại bị đầu độc, Ðức Chúa Ki Tô cao quý bị treo trên
thánh giá, Ðức Mahatma Gandhi bất bạo động bị bắn chết...
Vậy, phải chăng tốt quá cũng nguy hiểm?
Ðúng,
khi còn sống, các vị ấy bị chỉ trích, tấn công, và sát
hại. Sau khi chết, các Ngài được tôn sùng và kính mộ như
thần, như thánh. Bậc vĩ nhân vẫn bình thản khi được khen
cũng như lúc bị chê. Các Ngài không để tinh thần suy sụp
khi bị chỉ trích hay vu oan, bởi vì các Ngài không chạy theo
thanh danh. Người ta có biết được việc làm của mình không,
các Ngài không để ý. Các Ngài làm việc, phục vụ, nhưng
không màng đến việc thọ hưởng.
Ca
tụng và khiển trách
Ðược
ca tụng và bị khiển trách là hai cảnh thăng trầm khác hằng
ảnh hưởng đến nhân loại. Lẽ dĩ nhiên, khi được ca tụng
thì ta nở mặt nở mày, hân hoan thỏa thích. Lúc bị khiển
trách thì tinh thần suy sụp, ủ dột buồn rầu.
Giữa
những lời ca tụng hay khiển trách, Ðức Phật dạy, người
thiện trí không thỏa thích cũng không ủ dột mà, tựa hồ
như tảng đá vững chắc, không lay chuyển dưới cơn bão táp
phong ba của đời sống.
Nếu
ta xứng đáng, những lời khen tặng quả thật là êm tai. Nhưng
nếu ta không xứng, như trườnghợp có người nịnh bợ, thì
những lời ấy dù có êm tai cũng sẽ làm cho ta thất vọng,
và có hại chota. Dầu sao, đó cũng chỉ là những tiếng động,
những âm thanh, không đem lại hậu quả nào nếu có không
lọt được vào tai.
Ðứng
về phương diện thế gian, lời ca tụng có thể đi rất xaa.
Một tiếng khen tặng nhẹ nhàng , đúng lúc, có thể giúp ta
dễ dàng thâu đạt điều mong muốn. Một câu giới thiệu
xứng đáng đủ làm cho toàn thể cử tọa chăm chú lắng nghe
diễn giả. Nếu diễn giả có lời khen tặng cử tọa, ắt
sẽ được chú ý. Trái lại, nếu diễn giả bắt đầu bằng
những lời khiển trách hay chỉ trích, thái độ đáp ứng
của người nghe ắt không thuận lợi.
Người
đã thuần thục không tin càng những lời nịnh bợ, cũng không
muốn được nịnh bợ. Khi khen tặng ai xứng đáng, người
thuần thục thành thật mà không ẩn ý ganh tỵ. Khi khiểnt
trách, các Ngài khiển trách mà không ẩn ý khinh khi. Các Ngài
chỉ khiển trách vì lòng bi mẫn, muốn cải thiện người
lầm đường lạc nẻo.
Những
bậc vĩ nhân được tất cả người lớn kẻ nhỏ hết lòng
khen tặng nhưng thản nhiên, không hề chao động.
Nhiều
người thân cận với đức Phật thường ca tụng phẩm hạnh
Ngài, mỗi người một cách. Upàli, một nhà triệu phú mới
qui y với Ðức Phật kể ra hằng trăm đức tánh của Ngài.
Chín hồng danh của Ðức Phật mà thời bấy giờ người ta
thường nhắc nhở, đến nay hàng tín đồ Phật giáo vẫn
còn đọc lên như kinh nhựt tụng, và mỗi lần kể đến các
phẩm hạnh cao quí ấy, chúng ta nhìn lên pho tượng trầm ngâm
tự tại với tất cả tấm lòng kính mộ. Chín dồng danh ấy
còn là đề mục hành thiền cho người có tâm nhiệt thành
và vẫn còn là nguồn gợi cảm lớn lao cho những ai tự coi
mình là Phật tử.
Còn
khiển trách thì sao? Ðức Phật dạy: “Người nói nhiều
bị khiển trách. Người nói ít bị khiển trách. Người lặng
thinh cũng bị khiển trách. Trên thế gian nầy không có ai tranh
khỏi bị khiển trách““. Hình như khiển trách là phần
di sản của nhân loại.
“Người
thế gian phần đông sống không kỷ luật“, Ðức Phật ghi
nhận như vậy và dạy tiếp, “như voi chiến ở trận địa,
hứng lãnh lằn tên mũi đạn từ mọi hướng dồn dập bủa
đến, cùng thế ấy, Như Lai hứng chịu mọi nguyền rủa của
thế gian.“Kẻ si mê lầm lạc chỉ tìm cái xấu. Cái hư của
người khác mà không muốn nhìn cái tốt, cái đẹp của ai
Ngoại trừ Ðức Phật, không ai trăm phần trăm tốt. Cũng
không ai xấu trăm phần trăm. Trong con người tốt nhất giữa
chúng ta, cũng có phần hư hỏng. Trong con người xấu nhất
cũng có điểm tốt đẹp. Người biết làm câm như cái mỏ
bể khi bị tấn công, nguyền rủa, chửi mắng, người ấy,
Ðức Phật dạy, đã đứng trước Niết Bàn, mặc dầu chưa
đắc quả Niết Bàn. Ta có thể phụ vụ nhân loại với tấm
lòng cao cả nhất. Nhưng người thế gian thường hiểu ulầm
và gán cho ta những mục tiêu, những ý tưởng mà không bao
giờ ta mơ đến. Ta có thể tận lực phục vụ và giúp đỡ
một người bạn trong cơn nguy ngập. Lắm khi, muốn được
việc ta phải vay nợ hay bán cả đồ đạc, nhà cửa. Nhưng
về sau, thế gian mê lầm nầy hư hỏng đến đỗi chính người
được phục vụ và giúp đỡ kia trở lại phủ nhận lòng
tốt của ta, phiền trách ta, nói xấu ta, bôi bẩn ta, và sẽ
thỏa thích thấy ta suy sụp...
Một
lần nọ, có người bà la môn cung thỉnh Ðức Phật về nhà
trai tăng. Theo lời thỉnh cầu, Ðức Phật đến. Nhưng, thay
vì tiếp đón phải lẻ, người bà la môn tuôn ra một loạt
nhữgnn lời lẽ thô kịch và nhơ bẩn vô cùng. Ðức Phật
lễ độ hỏi thăm:
Nầy
ông Bà la môn, có khi nào khách đến nhà ông không?
Có,
ông Bà la môn trả lời.
Khi
biết khách đến nhà thì ông làm gì?
Tôi
sẽ dọn một bữa cơm thịnh soạn để đãi khách.
Nhưng
nếu khách bận việc không thể đến thì sao?
Thì
gia đình chúng tôi sẽ chia nhau bữa cơm.
Tốt
lắm, nầy ông Bà la môn, hôm nay ông mời Như Lai đến nhà
để trai tăng và ông đã khoản đãi Như Lai bằng những lời
nguyền rũa chửi mắng thậm tệ. Như Lai không nhận. Xin ông
vui lòng lấy trở lại.
Ðức
Phật không giận, không trả thù, nhưng Ngài lễ độ trao trả
người Bà la môn những gì người nầy đã khoản đãi Ngài.
Không nên trả thù. Không nên báo oán. Ðức Phật khuyên dạy
như vậy. Hận thù sẽ đối diện với hận thù. Báo oán,
trả thù, không bao giờ đưa đến hòa bình và an tịnh. Sức
mạnh chắc chắn phải đương đầu với sức mạnh. Bom đạn
sẽ gặp bom đạn. “Sân hạnh không bao giờ dập tắt sân
hạn. Chỉ có tâm từ mới diệt lòng sân“. Ðó là giáo từ
của Ðức Phật.
Ðức
Phật là một người được tôn sùng và ca tụng. Tuy nhiên
ngài cũng là người bị trỉ chính, bị khiển trách và bị
sỉ vã nhiều nhất thời bấy giờ. Ðó là số phận của
các bậc vĩ nhân...
Một
lần kia những người khác dọa chỉ trích Ngài và các môn
đề với lời lẽ nặng nề đến đổi Ðại Ðức An Nan Ða
xin Ngài rời bỏ nơi đó để qua một làng khác.
A nan
da, nếu những người ở làng kia cũng chửi mắng chúng ta
nữa thì phải làm sao?
Kính
bạch Ðức Thế Tôn, chúng ta sẽ sang một làng khác nữa.
Nầy A nan da, nếu làm như thế, toàn thể lãnh thở của xứ
Ấn Ðộ sẽ không có đủ chỗ cho chúng ta. Hãy nhẫn nại.
Những lời nguyền rủa tự nhiên sẽ chấm dứt... Nguyền
rủa chửi mắng là thường tình. Càng hoạt động, càng phục
vụ, chúng ta càn trở nên vĩ đại hơn và càng phải chịu
sỉ nhục và nguyền rủa nhiều hơn.
Ðức
chúa Giê su bị nguyền rùa, bị sỉ nhục, và bị treo trên
thánh giá. Socrates bị chính vợ ông chửi mắng. Mỗi khi ra
ngoài để phục vụ đồng bào ông Socrates thường bị bà
vợ tâm tánh hẹp hòi của ông rầy rà, la mắng. Ngày kia bà
Socrates lâm bịnh nên không thể thực hành “công tác“ rầy
rà thường lệ. Hôm ấy, ông Socrates ra đường với vẻ mặt
buồn rầu. Bạn bè thăm hỏi vì sao. ông giải thích rằng
vì bà vợ đang bịnh nên hôm nay không rầy ông.
Sao
lạ vậy? Ông phải vui mới đúng lẽ chớ. Không bị rầy,
tại sao ông lại buồn!
Không
phải. Khi bị rầy, tôi được có cơ hội để thực hành
pháp nhẫn nại. Hôm nay tôi đã mất một cơ hội. Vì lẽ
ấy mà tôi buồn.
Trên
đây là những bài bọc quí báu cho tất cả. Khi bị chửi
mắng ta phải nghĩ rằng đây là cơ hội để thực hành pháp
nhẫn nại. Thay vì tức giận, phải biết ơn người chửi
mắng ta.
Hạnh
phúc và khổ đau
Hạnh
phúc và đau khổ là cặp thăng trầm cuối cùng. Nó cũng là
những yếu tố có nhiều năng lực nhất, ảnh hưởng đến
đời sống nhân loại.
Cái
gì được dễ dàng là hạnh phúc. Cái gì khó chịu đựng
là đau khổ.
Thông
thường, thỏa mãn điều mong ước là hạnh phúc. Nhưng, không
quá trễ hơn lúc ta vừa đạt được điều mong mỏi ấy,
ta đã ước mong một loại hạnh phúc khác. Túi tham thật không
đáy. Người tham không bao giờ hoàn toàn thỏa mã, không bao
giờ chịu là đủ.
Ðối
với hạng người tầm thường, hưởng thọ những lạc thú
của nhục dục ngũ trần là hạnh phúc duy nhất và cao thượng
nhất. Trong lúc mơ ước, trong khi thọ hưởng, và khi hồi
nhớ lại những khoái lạc mà người thiên về vật chất
rất ưa thích ấy, chắc chắn có hạnh phú cấp thời. Nhưng
quả thật là ngắn ngủi và ảo huyền.
Tư
sản vật chất có thể cho ta hạnh phúc thật sự không? Nếu
có, các nhà triệu phú hẳn không bao giờ nghĩ đế chuyện
quyên sinh. Trong một quốc gia nọ mà tiến bộ vật chất đã
đến mức tuyệt đỉnh, có khoảng mười phần trăm dân số
mắc phải các chứng bịnh thần kinh. Tại sao vậy? Tài sản
và sự nghiệp có đủ đem lại hạnh phúc thật sự không?
Cầmm
quyền cai trị toàn thể thế gian có phải là hạnh phúc thật
sự không? Ðại đế Alexander, người đã rầm rộ kéo quân
vào Ấn Ðộ một cách hùng vĩ và vẻ vang, người đã chinh
phục tất cả các lãnh thổ trê đường đi của mình, người
ấy tham rằng không tìm đâu ra một quốc gia nào khác để
chinh phục.
Các
vị đế vươg, các vì vua đang còn đội mão, các vị ấy
có luôn luôn hạnh phúc không? Ðời sống của các nhà lãnh
đạo chính trị và các nhà lãnh đạo quốc gia rất thường
được các phe đối nghịch lăm le hăm dọa. Các chết thê
thảm của Mahatma Gandhi và của tổng thống J. F. Kennedy là
một vài trường hợp điển hình.
Chân
hạnh phúc nằm bên trong chúng ta và không thể định nghĩa
bằng những danh từ như tài sản, quyền thế, danh vọng, hay
chinh phục xâm lăng. Nếu những tư hữu trần tục kia được
thâu đoạt bằng bạo lực hay bằng một phương tiện bất
công nào khác, hoặc theo một chiều hướng sai lầm, hoặc
nữa, được nhìn với cặp mắt trìu mến hay tham lam, thì
nó sẽ là nguồn đau khổ và sầu muộn cho chính người làm
chủ nó.
Cái
gì hạnh phúc cho người nầy có thể không phải là hạnh
phúc cho người kia. Cái gì là thức ăn chất uống cho người
có thể là thuốc độc cho người khác.
Ðức
Phật kể ra bốn loại hạnh phúc của tại gia cư sĩ.
Loại
hạnh phúc đầu tiên là hạnh phúc được 6o tư hữu như sức
khỏe, tài sản, trường thọ, sắc đẹp, vui vẻ, mạnh mẽ,
sự nghiệp, đông đảo con cháu v.v...
Nguồn
hạnh phúc thức nhì là thọ hưởng những tư hữu ấy. Thông
thường, ai cũng muốn thọ hưởng, ai cũng ưa vui thích. Ðức
Phật không bao giờ khuyên tất cả mọi người nên từ khước
hạnh phúc trần gian và rút vào sống ẩn dật chốn rừng
sâu vắng vẻ.
Thọ
hưởng tài sản không phải là chỉ dùng nó cho riêng mình
mà cũng là bố thí ra để tạo an lành cho người khác. Cái
gì mà ta ăn chỉ tồn tại nhất thời. Cái gì mà ta tích trữ,
ta sẽ bỏ lại và ra đi. Nhưng cái gì mà ta cho ra sẽ trở
lại với ta. Những hành động thiện mà ta làm với tư hữu
trần tục sẽ tồn tại lâu dài, không thể mất.
Không
nợ nần là một nguồn hạnh phúc khác. Nếu biết tri túc,
biết an phận với những gì đã có, và nếu ăn ở kiệm cần,
ta sẽ không nợ nần với ai. Người mang nợ luôn luôn sống
trong tâm trạng hấp hối, nơm nớp lo sợ chủ nợ. Nếu không
nợ nần, mặc dầu nghèo, ta vẫn nghe thoải mái và tinh thần
thảnh thơi.
Nếp
sống trong sạch (hạnh phúc không bị khiển trách) là nguồn
hạnh phúc cao thượng nhất của người cư sĩ. Người trong
sạch là một nguồn phước báu cho mình và cho kẻ khác. Người
trong sạch được tất cả khâm phục và cảm nghe hạnh phúc
vì nằm trong phạm vi ảnh hưởng của những rung động an
lành mà nhiều người khác gởi đến mình. Tuy nhiên, ta phải
ghi nhận rằng rất khó, vô cùng khó, mà được tất cả mọi
người khâm phục. Người có tâm tánh cao quý chỉ biết giữ
mình để sống đời trong sạch và thảan nhiên trước dư
luận.
Phần
đông nhân loại thỏa thích trong sự thọ hưởng lạc thúc
của đời sống, nhưng có vài người thỏa thích trong sự
từ khước các lạc thú ấy. Không luyến ái, hay vượt lên
trên mọi khoái lạc vật chất là hạnh phúc đối với người
đạo đức. Hạnh phú Niết bàn - tức trạng thái thoát ra
khỏi mọi đau khổ - là hình thức hạnh phúc cao thượng nhất.
Chúng
ta vui vẻ đón mừng hạnh phúc, nhưng đau khổ thì không niềm
nở tiếp nhận.
Ðau
đớn hay khổ não đến với ta dưới nhiều hình thức. Chúng
ta đau khở khi phải chịu già yếu, đó là lẽ tự nhiên.
Ta phải bình thản chịu đựng những nỗi khổ của tuổi
già. Càng đau khổ hơn chết là bịnh hoạn. Và nếu là một
chứng bịnh trầm kha, làm đau nhức lâu ngày, ta sẽ cảm thấy
chết còn hơn. Chỉ một cái răng đau hay một lúc nhức đầu,
đôi khi cũng làm cho ta vô cùng khó chịu.
Khi
lâm bịnh, chúng ta không nên lo sợ mà phải cố gắng chịu
đựng. Ðúng vậy, ta phải tự an ủi rằng chúng ta đã khỏi
phải mang một chứng bịnh nặng hơn.
Lắm
khi chúng ta phải xa lìa thân bằng quyến thuộc. Cảnh biệt
ly vô cùng đau khổ, Chúng ta phải nhận định rằng mọi kết
hợp đều phải chấm dứt trong cảnh biệt ly. Ðây là cơ
hội quý báu để ta thực hành tâm xả.
Một
việc thường xảy ra hơn là chúng ta phải kết hợp với người
không ưa thích, sống chung với người mà ta ghét. Ta phải
cố gắng chịu đựng và nghĩ rằng ta đang gặt hái một quả
xấu nào mà chính ta đã tạo, hoặc trong quá khức, hoặc trong
hiện tại. Chúng ta phải cố gắng tự tạo cho mình một nếp
sống thích hợp với cảnh mới và, bằng cách này hay cách
khác, chúng ta phải cố gắng vượt qua mọi trở ngại.
Chí
đến Ðức Phật, một người toàn hảo, đã tận diệt mọi
ô nhiễm, còn phải chịu đau đớ vì bịnh hay tai nạn.
Trên
bước đường thênh thang trong vòng luân hồi, chết là mối
ưu phiền trọng đại nhất mà chúng ta phải đối phó. Ðôi
khi cái chết không đến lẻ loi cho một người thân mà đến
trùng hợp cho nhiều người thân trong một lúc.
Bà
Patacara mất một lúc bao nhiêu người thân thuộc: cha, mẹ,
chồng, anh, và hai con. Bà trở nên loạn trí. Ðức Phật khuyên
giải và an ủi bà.
Bà
Kisa Gotami mất người con thân yêu duy nhất. Tay bồng con, bà
chạy đi tìm thuốc chữa trị và đến cầu cứu với Ðức
Phật.
Ðược,
con có thể tìm ra một vài hột cải không?
Bạch
Ðức Thế Tôn, con sẽ tìm ra hột cải, chắc như vậy.
Nhưng
những hột cải này phải lấy trong nhà nào mà không có ai
chết.
Hột
cải thì có, Nhưng bà không tìm ra nơi nào mà thần chết chưa
hề đế viếng.
Bà
tỉnh ngộc và nhận thức bản chất của đời sống.
Một
lần nọ có bà kia được người ta hỏi tại sao không khóc
cái chết thê thảm của người con. Bà trả lời:
Không
ai mời mọc, nó đến. Không cho ai hay, nó đi. Ðến thế nào,
nó ra đi cùng thế ấy. Tại sao ta khóc? Khóc có ích gì?
Từ
cành cây, có nhiều trái rơi rụng - trái non có, trái già có,
trái chín có - cùng thế ấy, ta có thể chết lúc thiếu niên,
lúc tráng niên, hay khi niên cao tuổi lớn.
Mặt
trời mọc ở phương Ðông chỉ để lặng ở phương Tây.
Hoa
nở tốt tươi buổi sáng để úa tàn vào lúc chiều.
Cái
chết, không thể tránh, đến với tất cả mọi người, không
trừ ai. Và ta phải bình thản đối phó với nó.
Cũng
như trên đất ta có thể vứt bất luận vật gì, dầu chua,
dầu ngọt, dầu sạch, dầu so, đất vẫ thản nhiên một mực
trơ trơ, không giận cũng không thương.
Vậy,
cùng thế ấy, trong hạnh phúc, trong phiền não, lúc thăng,
lúc trầm, ta phải giữa tâm như đất.
Ðức
Phật dạy như vậy. Trước những cảnh thăng trầm của thế
gian, tâm của vị A La Hán không bao giờ chao động. Giữa những
cảnh được thua, danh thơm và tiếng xấu, ca tụng và khiển
trách, hạnh phúc và khổ đau, chúng ta hãy giữ tâm bình thản.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 06-2004
Down
Load " Word Document" (WinZip File 372 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay In ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân