PHÁT
BỒ ĐỀ TÂM
Phạm
Công Thiện
Lời
Giới Thiệu
Thi
Hào Dân Tộc Nguyễn Du gọi "Bồ Đề Tâm" là "Lòng Bồ Đề".
Phát Bồ Đề Tâm có nghĩa là : mở ra sâu rộng cái lòng Bồ
Đề của mình và của tất cả chúng sinh.
Tu
chứng Bồ Đề Tâm là việc quan trọng nhất trong Phật Giáo.
Có thể nói dứt khoát rằng khi nào còn có một người duy
nhất (trong gần sáu tỉ người trên mặt đất) đã hết lòng
trọn đời tu chứng Bồ Đề Tâm thì Phật Giáo vẫn còn tồn
tại trong thời Mạt Pháp này.
Từ
Phật giáo Ấn Độ, Việt Nam, Đại Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa
và cho đến Phật giáo Mật Tông Tây Tạng, việc thực chứng
Bồ Đề Tâm là đại sự nhân duyên quan trọng nhất trong
tất cả mọi pháp môn tu hành thực chứng thượng cầu Bồ
Đề hạ hóa chúng sinh trong tất cả mọi bình diện và tất
cả mọi ý nghĩa, từ bình diện ý nghĩa thông thường đến
bình diện ý nghĩa bí mật nhất.
Thiền
Sư Thật Hiền (hiệu Tĩnh Am) là một đại thiền sư, chẳng
những liễu chứng tinh túy của Thiền Tông mà thực ra là
người đã thực chứng toàn diện tinh túy sâu thẳm của Đại
Pháp Môn siêu việt thể hiện huyền diệu trong việc nhất
tâm niệm Hồng Danh Đức Phật A Di Đà (hiểm họa lớn nhất
của Phật Giáo Việt Nam hiện nay là sự xuất hiện ma quái
của những người tự nhận là "thiền sư" rồi đả kích
chỉ trích Pháp Môn Tịnh Độ; họ quên rằng Tổ Sư Long Thọ
vừa là tổ sư của Thiền Tông và cũng là tổ sư của Tịnh
Độ Tông; không có Long Thọ thì cũng chẳng bao giờ có cái
gọi là Thiền Tông).
Tất
cả diệu nghĩa, tất cả tinh túy của Phật Giáo, đã được
đúc kết trọn vẹn trong mấy trang của Ngài Thật Hiền. Mỗi
Phật tử đúng nghĩa không thể nào không đọc đi đọc lại
cho đến thuộc nằm lòng mấy trang trong sáng sau đây.
Long
Beach, California, ngày 06 tháng 01 năm 2000
Phạm
Công Thiện
PHÁT
BỔ ĐỀ TÂM
Có
nhiều lý do khiến người học đạo chúng ta ngày nay càng
lúc càng xa rời Phật Pháp dù rằng có cố gắng, có hành
trì theo nhiều kinh điển và nhiều bậc đạo sư khác nhau.
Hễ không đạt được kết quả như ý muốn, chúng ta liền
đổ thừa cho thời mạt pháp, đổ thừa cho hoàn cảnh xã
hội, đổ thừa cho nghiệp chướng sâu dày, hoặc trút tội
cho các bậc thiện tri thức từng giúp đỡ mình trong việc
tu tập.
Kể
ra thì ngoại cảnh hay nghiệp chướng có ảnh hưởng đến
việc tu tập của chúng ta thật đấy. Nhưng nguyên nhân sâu
xa nhất, nếu chúng ta chịu bình tâm tự xét mình, sẽ thấy
rằng chúng ta đã quên mất hoặc chưa từng khởi phát bồ
đề tâm. Kinh Hoa Nghiêm nói: "Quên mất bồ đề tâm mà thực
hành các hạnh lành thì gọi là hành động của ma vương.
Quên mất còn như vậy, huống hồ là chưa phát." Phát tâm
bồ đề thật là quan trọng đối với việc tu tập, vì nó
chính là động lực và tiêu hướng để tiến đến giải
thoát tối thượng. Vì vậy, người tu học theo Phật, muốn
chứng đắc đạo quả giải thoát giác ngộ, trước hết phải
phát bồ đề tâm.
Bồ
đề là chữ phiên âm từ tiếng Phạn (Bodhi), có nghĩa là
Đạo, hoặc giác ngộ. Vậy bồ đề tâm có nghĩa là tâm đạo
hoặc tâm giác ngộ; và Phát bồ đề tâm tức là phát khởi
thệ nguyện hướng đến mục tiêu giải thoát giác ngộ tối
thượng, hoặc là đem cả thân và tâm của mình, quyết chí
thành tựu đạo quả vô thượng bồ đề.
Theo
Thiền Sư Thật Hiền (hiệu Tĩnh Am) trong Phát Bồ Đề Tâm
do ngài soạn viết, việc phát nguyện có 8 cách, trong đó có
4 cách chân chính cần phải theo và 4 cách không chân chính
cần phải bỏ. Người học đạo nên nắm rõ cả 8 cách phát
nguyện để tự xét xem sự phát tâm của mình thuộc loại
nào, có đúng chánh pháp hay không.
A.
4 CÁCH PHÁT TÂM KHÔNG CHÂN CHÍNH :
1.
Tà phát tâm : vì lợi lộc, vì háo danh, hoặc mong cầu phước
báo cho mình mà phát tâm.
2.
Ngụy phát tâm : dù phát tâm mà tội lỗi không biết sám hối
trừ bỏ, chỉ biết gìn giữ cái bề ngoài nhưng bên trong
thì dơ bẩn, ban đầu thì siêng năng sau thì biếng nhác, có
làm việc phước thiện thì cũng chỉ vì để được tiếng
khen.
3.
Tiểu phát tâm : phát tâm vì chán cõi sinh tử, sợ hãi ba cõi,
chỉ mong tự mình thoát ly, không dám nghĩ đến chuyện cứu
độ người khác.
4.
Thiên phát tâm : thấy có chúng sinh và Phật ngoài tâm nên
nguyện độ, nguyện thành; nhân ngã không xả, chấp chặt
kiến văn và thành quả của mình mà phát tâm.
B.
4 CÁCH PHÁT TÂM CHÂN CHÍNH :
1.
Chánh phát tâm : không ham danh lợi, không màng vui thú thế
gian, chỉ mong cứu độ chúng sinh thoát ly sinh tử và chứng
ngộ bồ đề mà phát tâm.
2.
Chân phát tâm : từng phút từng giây chỉ canh cánh trong lòng
thệ nguyện thượng cầu hạ hóa (trên thì cầu Phật đạo,
dưới thì mong hóa độ chúng sinh), Phật đạo lâu xa không
khiếp sợ, chúng sinh khó độ không chán nản, vì quyết chí
thành tựu mục tiêu tối hậu mà phát bồ đề tâm.
3.
Đại phát tâm : phát tâm độ hết chúng sinh, thành tựu đạo
quả bồ đề rồi thì thệ nguyện mới viên mãn.
4.
Viên phát tâm : biết tự tánh là chúng sinh là Phật đạo,
tất cả các pháp đều từ một tâm này mà có, nên phát bồ
đề tâm, thực hiện tất cả hạnh nguyện và công đức,
nhưng không vướng mắc vào các tướng nhị nguyên đối đãi,
vượt lên trên tất cả mọi kiến chấp nhân-ngã bỉ-thử,
vượt lên cả cái tâm thấy mình thực hành hạnh vô tướng.
Ngoài
việc phân biệt để chọn lựa (trạch pháp) bốn cách phát
tâm chân chính, người học đạo còn cần phải biết rõ 10
lý do khiến mình phát tâm bồ đề. Đây là 10 lý do để phát
cái tâm bồ đề chân chính :
10
LÝ DO KHIẾN PHÁT KHỞI BỔ ĐỀ TÂM:
1.
Nhớ ơn nặng của Phật : Phật vì cái khổ của chúng ta mà
trải bao kiếp tu hành khổ nhọc; chứng đạo rồi ngài không
chán cõi sinh tử để vào Niết bàn mà tận tụy 49 năm thuyết
pháp độ sinh, truyền bá giáo pháp cho chúng ta nương học
mà thoát ly sinh tử. Chúng ta may mắn nghe được Phật Pháp
là do trồng nhiều căn lành đời trước mà cũng nhờ lòng
từ bi thương xót của Phật. Nay muốn trả ân Phật, chỉ
có cách duy nhất là phát tâm rộng lớn, làm hạnh bồ tát,
truyền bá Phật Pháp, giáo hóa chúng sinh.
2.
Nhớ ơn cha mẹ : cha mẹ sinh ra ta, chịu bao năm tháng cực
nhọc đắng cay để nuôi lớn ta thành người; có được thân
người mới có nhân duyên nghe hiểu được Phật Pháp; ân
lớn đó của cha mẹ chỉ có thể trả được bằng cách dốc
lòng tu học Phật Pháp, làm lợi ích cho khắp chúng sinh, và
có như vậy thì cả cha mẹ hiện đời lẫn cha mẹ nhiều
kiếp đều được công đức.
3.
Nhớ ơn thầy dạy : thầy ở thế gian dạy ta biết đọc,
biết học, biết lễ nghĩa, còn thầy trong đạo dạy ta Phật
Pháp để thoát lý sinh tử; nhờ lễ nghĩa và Phật Pháp mà
có ý thức phân biệt đúng sai phải trái để tu sửa mình
thành người đạo đức, biết làm lành tránh dữ, trừ bỏ
ác nghiệp, gieo trồng công đức. Ân đó chỉ trả được
bằng cách thệ nguyện làm lợi ích cho tất cả chúng sinh.
4.
Nhớ ơn thí chủ : nghĩ đến ân nặng của tất cả những
ai đem đến cơm ăn, áo mặc, nhà ở và tất cả tiện nghi
ta hưởng dụng ngày hôm nay; tất cả những nhu cầu vật chất
ta có đều ít nhiều ảnh hưởng đến đời sống tu học
của ta; ân này trùng trùng nhiều lớp, trực tiếp gián tiếp
chồng lên nhau, khó lòng biết rõ; chỉ có hết lòng vận dụng
cả từ bi và trí tuệ mà tu hành hai mặt phước-huệ mới
mong đáp trả được.
5.
Nhớ ơn chúng sinh : ta với chúng sinh nhiều đời kiếp đã
từng là cha mẹ nhau, có ân nghĩa ràng rịt nhau; nay ta được
thân người lại được nghe Phật Pháp còn chúng sinh khác
lại chịu cảnh khổ trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh,
hoặc sinh vào gia đình ngoại đạo tà kiến, thống khổ mà
chẳng biết kêu cầu ai. Thương chúng sinh ấy, muốn trả cái
ơn đã từng là cha mẹ hay thân thuộc của ta mà phát tâm
bồ đề.
6.
Nhớ khổ sinh tử : ta và chúng sinh chỉ vì tham đắm trong
ngũ dục mà hết kiếp này đến kiếp khác phải trôi lăn
trong lục đạo luân hồi; lúc khổ đau thì mong được thoát
nhưng sau đó thì quên ngay để rồi tiếp tục đắm nhiễm,
sinh đi sinh lại trong tam đồ. Nay có cơ hội được nghe Phật
Pháp nếu không lo thoát ly sinh tử thì chẳng biết kiếp nào
mới thực hiện nổi.
7.
Trọng linh tánh của mình : ta và Phật cùng một thể tánh
vắng lặng linh thiêng vậy mà Phật đã thành chánh giác từ
lâu còn ta vẫn còn đầy ắp phiền não, u mê gây tạo biết
bao nghiệp chướng để rồi bị ràng buộc trong cõi sinh tử.
Đem hết thì giờ và công phu của mình để dẹp sạch vô
lượng vô biên thứ phiền não kia thì tự tánh thanh tịnh
mới được hiển lộ, như vậy mới không phụ ân giáo hóa
của Phật mà cũng không phụ linh tánh của mình.
8.
Sám hối nghiệp chướng : dù nghiêm minh giữ giới, chúng ta
chỉ có thể ngăn ngừa được những tội lỗi chưa tạo hoặc
sám hối những tội lỗi vừa làm, nhưng còn bao nhiêu tội
lỗi và nghiệp chướng kết tập từ vô lượng kiếp, nếu
bây giờ không thành tâm vì mình, vì chúng sinh mà phát nguyện
sám hối thì nghiệp chướng ấy làm sao trừ bỏ hết.
9.
Cầu sinh tịnh độ : phương pháp trì danh niệm Phật là phương
pháp dễ dàng và chắc chắn nhất để được vãng sinh trong
thời mạt pháp. Niệm Phật tức là nguyện làm Phật. Phát
tâm bồ đề cũng là phát cái nguyện thành Phật. Phát tâm
chưa đủ, còn phải tu tập, mà tu tập thì không gì tốt hơn
niệm Phật. Phát tâm là gieo giống, niệm Phật là bón phân,
tưới nước cho hạt giống ấy tăng trưởng.
10.
Làm cho Phật Pháp trường tồn : Phật Pháp là do ân nặng
của đức Phật trải qua bao đời kiếp tu hành, chứng đạo,
rồi truyền lại cho nhiều thế hệ tăng già đệ tử, lưu
truyền đến chúng ta ngày hôm nay. Nhưng thời đại của chúng
ta là thời đại mạt pháp (tức là thời kỳ Phật Pháp suy
tàn) nên lòng người đa phần biếng nhác, ham danh trục lợi,
chỉ cầu hình thức bề ngoài chứ không thực lòng tu tập
giải thoát. Phật Pháp vì thế tuy còn đó mà không hiển hiện
được một cách đúng mức. Cho nên bản thân mỗi người
chúng ta phải phát cái nguyện rộng lớn, tu tập và duy trì
Phật Pháp ngay từ giây phút này cho đến vô lượng kiếp
sau, mỗi niệm mỗi niệm đều giữ thân tâm ứng hợp với
tâm bồ đề, thì mới có cơ may cứu vãn được Phật Pháp
cho muôn đời sau.
Phương
cách phát tâm và lý do phát tâm đã được nêu rõ, người
đã biết thì ôn lại để nuôi dưỡng không để cho tâm bồ
đề bị thối lui; người chưa biết thì học cho biết để
từ đó làm phát khởi tâm bồ đề nơi mình. Tâm bồ đề
đã phát, chí tu hành đã lập, thì ở nơi đâu, làm việc
gì, nghĩ việc gì, cũng đều là Phật Pháp.
(Quý
vị nào muốn hiểu tường tận hơn, xin tìm đọc cuốn Phát
Bồ Đề Tâm của ngài Thật Hiền, do Hòa thượng Thích Trí
Quang dịch.)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 06-2004
Down
Load " Word Document" (WinZip File 372 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay In ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân