SỐ 407 BỒ TÁT ĐẠO THÁNG 07 NĂM 2004
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412
PHÁT BỒ ĐỀ TÂM
Phạm Công Thiện

Lời Giới Thiệu 
Thi Hào Dân Tộc Nguyễn Du gọi "Bồ Đề Tâm" là "Lòng Bồ Đề". Phát Bồ Đề Tâm có nghĩa là : mở ra sâu rộng cái lòng Bồ Đề của mình và của tất cả chúng sinh. 
Tu chứng Bồ Đề Tâm là việc quan trọng nhất trong Phật Giáo. Có thể nói dứt khoát rằng khi nào còn có một người duy nhất (trong gần sáu tỉ người trên mặt đất) đã hết lòng trọn đời tu chứng Bồ Đề Tâm thì Phật Giáo vẫn còn tồn tại trong thời Mạt Pháp này. 
Từ Phật giáo Ấn Độ, Việt Nam, Đại Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa và cho đến Phật giáo Mật Tông Tây Tạng, việc thực chứng Bồ Đề Tâm là đại sự nhân duyên quan trọng nhất trong tất cả mọi pháp môn tu hành thực chứng thượng cầu Bồ Đề hạ hóa chúng sinh trong tất cả mọi bình diện và tất cả mọi ý nghĩa, từ bình diện ý nghĩa thông thường đến bình diện ý nghĩa bí mật nhất. 
Thiền Sư Thật Hiền (hiệu Tĩnh Am) là một đại thiền sư, chẳng những liễu chứng tinh túy của Thiền Tông mà thực ra là người đã thực chứng toàn diện tinh túy sâu thẳm của Đại Pháp Môn siêu việt thể hiện huyền diệu trong việc nhất tâm niệm Hồng Danh Đức Phật A Di Đà (hiểm họa lớn nhất của Phật Giáo Việt Nam hiện nay là sự xuất hiện ma quái của những người tự nhận là "thiền sư" rồi đả kích chỉ trích Pháp Môn Tịnh Độ; họ quên rằng Tổ Sư Long Thọ vừa là tổ sư của Thiền Tông và cũng là tổ sư của Tịnh Độ Tông; không có Long Thọ thì cũng chẳng bao giờ có cái gọi là Thiền Tông). 
Tất cả diệu nghĩa, tất cả tinh túy của Phật Giáo, đã được đúc kết trọn vẹn trong mấy trang của Ngài Thật Hiền. Mỗi Phật tử đúng nghĩa không thể nào không đọc đi đọc lại cho đến thuộc nằm lòng mấy trang trong sáng sau đây. 
Long Beach, California, ngày 06 tháng 01 năm 2000 
Phạm Công Thiện 

PHÁT BỔ ĐỀ TÂM

Có nhiều lý do khiến người học đạo chúng ta ngày nay càng lúc càng xa rời Phật Pháp dù rằng có cố gắng, có hành trì theo nhiều kinh điển và nhiều bậc đạo sư khác nhau. Hễ không đạt được kết quả như ý muốn, chúng ta liền đổ thừa cho thời mạt pháp, đổ thừa cho hoàn cảnh xã hội, đổ thừa cho nghiệp chướng sâu dày, hoặc trút tội cho các bậc thiện tri thức từng giúp đỡ mình trong việc tu tập. 

Kể ra thì ngoại cảnh hay nghiệp chướng có ảnh hưởng đến việc tu tập của chúng ta thật đấy. Nhưng nguyên nhân sâu xa nhất, nếu chúng ta chịu bình tâm tự xét mình, sẽ thấy rằng chúng ta đã quên mất hoặc chưa từng khởi phát bồ đề tâm. Kinh Hoa Nghiêm nói: "Quên mất bồ đề tâm mà thực hành các hạnh lành thì gọi là hành động của ma vương. Quên mất còn như vậy, huống hồ là chưa phát." Phát tâm bồ đề thật là quan trọng đối với việc tu tập, vì nó chính là động lực và tiêu hướng để tiến đến giải thoát tối thượng. Vì vậy, người tu học theo Phật, muốn chứng đắc đạo quả giải thoát giác ngộ, trước hết phải phát bồ đề tâm. 

Bồ đề là chữ phiên âm từ tiếng Phạn (Bodhi), có nghĩa là Đạo, hoặc giác ngộ. Vậy bồ đề tâm có nghĩa là tâm đạo hoặc tâm giác ngộ; và Phát bồ đề tâm tức là phát khởi thệ nguyện hướng đến mục tiêu giải thoát giác ngộ tối thượng, hoặc là đem cả thân và tâm của mình, quyết chí thành tựu đạo quả vô thượng bồ đề. 

Theo Thiền Sư Thật Hiền (hiệu Tĩnh Am) trong Phát Bồ Đề Tâm do ngài soạn viết, việc phát nguyện có 8 cách, trong đó có 4 cách chân chính cần phải theo và 4 cách không chân chính cần phải bỏ. Người học đạo nên nắm rõ cả 8 cách phát nguyện để tự xét xem sự phát tâm của mình thuộc loại nào, có đúng chánh pháp hay không. 

A. 4 CÁCH PHÁT TÂM KHÔNG CHÂN CHÍNH : 
1. Tà phát tâm : vì lợi lộc, vì háo danh, hoặc mong cầu phước báo cho mình mà phát tâm. 
2. Ngụy phát tâm : dù phát tâm mà tội lỗi không biết sám hối trừ bỏ, chỉ biết gìn giữ cái bề ngoài nhưng bên trong thì dơ bẩn, ban đầu thì siêng năng sau thì biếng nhác, có làm việc phước thiện thì cũng chỉ vì để được tiếng khen. 
3. Tiểu phát tâm : phát tâm vì chán cõi sinh tử, sợ hãi ba cõi, chỉ mong tự mình thoát ly, không dám nghĩ đến chuyện cứu độ người khác. 
4. Thiên phát tâm : thấy có chúng sinh và Phật ngoài tâm nên nguyện độ, nguyện thành; nhân ngã không xả, chấp chặt kiến văn và thành quả của mình mà phát tâm. 

B. 4 CÁCH PHÁT TÂM CHÂN CHÍNH : 
1. Chánh phát tâm : không ham danh lợi, không màng vui thú thế gian, chỉ mong cứu độ chúng sinh thoát ly sinh tử và chứng ngộ bồ đề mà phát tâm. 
2. Chân phát tâm : từng phút từng giây chỉ canh cánh trong lòng thệ nguyện thượng cầu hạ hóa (trên thì cầu Phật đạo, dưới thì mong hóa độ chúng sinh), Phật đạo lâu xa không khiếp sợ, chúng sinh khó độ không chán nản, vì quyết chí thành tựu mục tiêu tối hậu mà phát bồ đề tâm. 
3. Đại phát tâm : phát tâm độ hết chúng sinh, thành tựu đạo quả bồ đề rồi thì thệ nguyện mới viên mãn. 
4. Viên phát tâm : biết tự tánh là chúng sinh là Phật đạo, tất cả các pháp đều từ một tâm này mà có, nên phát bồ đề tâm, thực hiện tất cả hạnh nguyện và công đức, nhưng không vướng mắc vào các tướng nhị nguyên đối đãi, vượt lên trên tất cả mọi kiến chấp nhân-ngã bỉ-thử, vượt lên cả cái tâm thấy mình thực hành hạnh vô tướng. 
Ngoài việc phân biệt để chọn lựa (trạch pháp) bốn cách phát tâm chân chính, người học đạo còn cần phải biết rõ 10 lý do khiến mình phát tâm bồ đề. Đây là 10 lý do để phát cái tâm bồ đề chân chính :  

10 LÝ DO KHIẾN PHÁT KHỞI BỔ ĐỀ TÂM:  
1. Nhớ ơn nặng của Phật : Phật vì cái khổ của chúng ta mà trải bao kiếp tu hành khổ nhọc; chứng đạo rồi ngài không chán cõi sinh tử để vào Niết bàn mà tận tụy 49 năm thuyết pháp độ sinh, truyền bá giáo pháp cho chúng ta nương học mà thoát ly sinh tử. Chúng ta may mắn nghe được Phật Pháp là do trồng nhiều căn lành đời trước mà cũng nhờ lòng từ bi thương xót của Phật. Nay muốn trả ân Phật, chỉ có cách duy nhất là phát tâm rộng lớn, làm hạnh bồ tát, truyền bá Phật Pháp, giáo hóa chúng sinh. 
2. Nhớ ơn cha mẹ : cha mẹ sinh ra ta, chịu bao năm tháng cực nhọc đắng cay để nuôi lớn ta thành người; có được thân người mới có nhân duyên nghe hiểu được Phật Pháp; ân lớn đó của cha mẹ chỉ có thể trả được bằng cách dốc lòng tu học Phật Pháp, làm lợi ích cho khắp chúng sinh, và có như vậy thì cả cha mẹ hiện đời lẫn cha mẹ nhiều kiếp đều được công đức. 
3. Nhớ ơn thầy dạy : thầy ở thế gian dạy ta biết đọc, biết học, biết lễ nghĩa, còn thầy trong đạo dạy ta Phật Pháp để thoát lý sinh tử; nhờ lễ nghĩa và Phật Pháp mà có ý thức phân biệt đúng sai phải trái để tu sửa mình thành người đạo đức, biết làm lành tránh dữ, trừ bỏ ác nghiệp, gieo trồng công đức. Ân đó chỉ trả được bằng cách thệ nguyện làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 
4. Nhớ ơn thí chủ : nghĩ đến ân nặng của tất cả những ai đem đến cơm ăn, áo mặc, nhà ở và tất cả tiện nghi ta hưởng dụng ngày hôm nay; tất cả những nhu cầu vật chất ta có đều ít nhiều ảnh hưởng đến đời sống tu học của ta; ân này trùng trùng nhiều lớp, trực tiếp gián tiếp chồng lên nhau, khó lòng biết rõ; chỉ có hết lòng vận dụng cả từ bi và trí tuệ mà tu hành hai mặt phước-huệ mới mong đáp trả được. 
5. Nhớ ơn chúng sinh : ta với chúng sinh nhiều đời kiếp đã từng là cha mẹ nhau, có ân nghĩa ràng rịt nhau; nay ta được thân người lại được nghe Phật Pháp còn chúng sinh khác lại chịu cảnh khổ trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, hoặc sinh vào gia đình ngoại đạo tà kiến, thống khổ mà chẳng biết kêu cầu ai. Thương chúng sinh ấy, muốn trả cái ơn đã từng là cha mẹ hay thân thuộc của ta mà phát tâm bồ đề. 
6. Nhớ khổ sinh tử : ta và chúng sinh chỉ vì tham đắm trong ngũ dục mà hết kiếp này đến kiếp khác phải trôi lăn trong lục đạo luân hồi; lúc khổ đau thì mong được thoát nhưng sau đó thì quên ngay để rồi tiếp tục đắm nhiễm, sinh đi sinh lại trong tam đồ. Nay có cơ hội được nghe Phật Pháp nếu không lo thoát ly sinh tử thì chẳng biết kiếp nào mới thực hiện nổi. 
7. Trọng linh tánh của mình : ta và Phật cùng một thể tánh vắng lặng linh thiêng vậy mà Phật đã thành chánh giác từ lâu còn ta vẫn còn đầy ắp phiền não, u mê gây tạo biết bao nghiệp chướng để rồi bị ràng buộc trong cõi sinh tử. Đem hết thì giờ và công phu của mình để dẹp sạch vô lượng vô biên thứ phiền não kia thì tự tánh thanh tịnh mới được hiển lộ, như vậy mới không phụ ân giáo hóa của Phật mà cũng không phụ linh tánh của mình. 
8. Sám hối nghiệp chướng : dù nghiêm minh giữ giới, chúng ta chỉ có thể ngăn ngừa được những tội lỗi chưa tạo hoặc sám hối những tội lỗi vừa làm, nhưng còn bao nhiêu tội lỗi và nghiệp chướng kết tập từ vô lượng kiếp, nếu bây giờ không thành tâm vì mình, vì chúng sinh mà phát nguyện sám hối thì nghiệp chướng ấy làm sao trừ bỏ hết. 
9. Cầu sinh tịnh độ : phương pháp trì danh niệm Phật là phương pháp dễ dàng và chắc chắn nhất để được vãng sinh trong thời mạt pháp. Niệm Phật tức là nguyện làm Phật. Phát tâm bồ đề cũng là phát cái nguyện thành Phật. Phát tâm chưa đủ, còn phải tu tập, mà tu tập thì không gì tốt hơn niệm Phật. Phát tâm là gieo giống, niệm Phật là bón phân, tưới nước cho hạt giống ấy tăng trưởng. 
10. Làm cho Phật Pháp trường tồn : Phật Pháp là do ân nặng của đức Phật trải qua bao đời kiếp tu hành, chứng đạo, rồi truyền lại cho nhiều thế hệ tăng già đệ tử, lưu truyền đến chúng ta ngày hôm nay. Nhưng thời đại của chúng ta là thời đại mạt pháp (tức là thời kỳ Phật Pháp suy tàn) nên lòng người đa phần biếng nhác, ham danh trục lợi, chỉ cầu hình thức bề ngoài chứ không thực lòng tu tập giải thoát. Phật Pháp vì thế tuy còn đó mà không hiển hiện được một cách đúng mức. Cho nên bản thân mỗi người chúng ta phải phát cái nguyện rộng lớn, tu tập và duy trì Phật Pháp ngay từ giây phút này cho đến vô lượng kiếp sau, mỗi niệm mỗi niệm đều giữ thân tâm ứng hợp với tâm bồ đề, thì mới có cơ may cứu vãn được Phật Pháp cho muôn đời sau. 
Phương cách phát tâm và lý do phát tâm đã được nêu rõ, người đã biết thì ôn lại để nuôi dưỡng không để cho tâm bồ đề bị thối lui; người chưa biết thì học cho biết để từ đó làm phát khởi tâm bồ đề nơi mình. Tâm bồ đề đã phát, chí tu hành đã lập, thì ở nơi đâu, làm việc gì, nghĩ việc gì, cũng đều là Phật Pháp. 
(Quý vị nào muốn hiểu tường tận hơn, xin tìm đọc cuốn Phát Bồ Đề Tâm của ngài Thật Hiền, do Hòa thượng Thích Trí Quang dịch.) 
 
 

Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 06-2004
Down Load " Word Document" (WinZip File 372 KB)
(Hạ Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay In ra Giấy)

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
TVHS