Giới thiệu
Chương Bốn Pháp, Tăng Chi Bộ Kinh
Hòa
thượng Thích Minh Châu
Đây
là bài pháp thoại của Hòa thượng Minh Châu nhân ngày Đại
lễ Phật Đản 2525 (1981) tại Thiền viện Vạn Hạnh, Phú
Nhận, Sài Gòn, giới thiệu Tăng Chi Bộ Kinh, Tập II-A (bộ
cũ), gồm các bài kinh trong Chương Bốn Pháp.
Hôm
nay là Đại lễ Phật Đản 2525 (1981), Viện Phật Học Vạn
Hạnh chúng tôi cùng với các Phật tử trong nước và Phật
tử năm châu bốn biển đang tưng bừng đón mừng Đại lễ
với những nghi lễ trang nghiêm, với những cúng dường chân
thành và đúng theo truyền thống hàng năm, bao giờ cũng vậy,
đối với chúng tôi, cúng dường Pháp là cúng dường tối
thượng. Nhân Đại lễ Phật Đản năm nay, chúng tôi phát
hành Tăng Chi Bộ Kinh Tập II quyển A, đã được phát hành
nhân dịp lễ kỷ niệm Phật Thành Đạo vừa qua.
Tăng
Chi Bộ Kinh Tập II quyển A, tức là Bộ Anguttara Nikàya gồm
có 5 tập, sưu tập các kinh tùy theo số lượng từ 1 pháp
lên đến 11 pháp, và tập này chỉ gồm một chương, là chương
đề cập đến bốn pháp.
Trong
Tập II quyển A, chương bốn pháp gồm có 27 phẩm, mỗi phẩm
gồm 10 kinh, phẩm cuối gồm 11 kinh, như vậy số kinh tổng
cộng là 271 bài, đánh số từ 1 đến 271, cho tiện tham khảo.
Đề
tài được đề cập có thể nói là quá nhiều và quá phong
phú, đến nỗi một sự phân loại các đề được nói đến
thật không dễ dàng. Hôm nay, để giới thiệu Tăng Chi Bộ
Kinh Tập II quyển A, nhân Đại lễ Phật Đản 2525 (1981), chúng
tôi chỉ xin đề cập đến một số vấn đề mà chúng tôi
xem là quan trọng, còn các vấn đề khác lẽ dĩ nhiên cũng
rất quan trọng chúng tôi chỉ mong các độc giả tự mình
đọc lấy, tìm hiểu và hành trì. Chỉ có vậy mới đánh
giá đúng đắn Tập II quyển A, Tăng Chi Bộ Kinh và đi sâu
vào phần nội dung của Tập Kinh này.
*
Trước
hết, chúng tôi đề cập đến các bậc Như Lai nói chung, rồi
đến Thế Tôn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói riêng, những
định nghĩa đã được dùng để diễn tả các Ngài và nhất
là những đóng góp gì rất đặc biệt về những giáo lý
chánh yếu, những pháp môn giảng dạy đã giúp chúng sanh thoát
khỏi sự khổ đau.
Chúng
tôi phải hạn chế những tư liệu chỉ trong Tăng Chi Bộ Kinh
Tập II quyển A này mà thôi, có vậy mới làm nổi bật lên
nội dung súc tích của bộ kinh này và cũng là một hình thức
hay nhất để kỷ niệm Lễ Phật Đản 2525 năm. Cúng dường
Pháp bao giờ cũng là cúng dường tối thượng.
Một
vấn đề có thể làm nhiều người thắc mắc, trong quá khứ
cũng như trong hiện tại, là Đức Phật là ai, Ngài là thần
chăng, vị tiên chăng, Ngài là người như chúng ta chăng? Chúng
ta là Phật tử, chúng ta là những người tìm hiểu Đạo Phật,
chúng ta cần xem Đức Phật là ai, cho đúng với lời Phật
dạy? Một câu hỏi về một số vấn đề đã được Đức
Phật khéo giải đáp trong kinh số 36 về tùy thuộc thế giới.
Bà-la-môn
Dona thấy dấu chân Đức Phật có dấu bánh xe (pháp luân)
với đầy đủ tất cả chi tiết, khi Đức Phật đi trên con
đường giữa Ukkatthà và Setabbya, liền suy nghĩ đây không
phải là dấu chân của loài người, nên đến gần Đức Phật
và hỏi: "Có phải Ngài sẽ là vị Tiên, Ngài sẽ là Càn Thát
Bà, Ngài sẽ là Dạ Xoa, Ngài sẽ là loài người?" Với bốn
câu hỏi này Đức Phật tuần tự trả lời: "Ta sẽ không
phải là Tiên, Ta sẽ không phải là Càn Thát Bà, Ta sẽ không
phải là Dạ Xoa, Ta sẽ không phải là người."
Câu
trả lời làm cho Bà-la-môn Dona ngạc nhiên, và chúng ta cũng
dễ hiểu, vì nếu Đức Phật trả lời: "Ta sẽ là chư Thiên...
, hay Ta sẽ là loài người" tức là Đức Phật còn phải tái
sanh, còn phải sanh tử luân hồi. Cho nên Đức Phật mới trả
lời: "Ta sẽ không phải là chư Thiên, Ta sẽ không phải là
Càn Thát Bà, Ta sẽ không phải là Dạ Xoa, Ta sẽ không phải
là người." Nhưng câu trả lời đã làm cho Bà-la-môn Dona ngạc
nhiên khiến phải hỏi tiếp: "Vậy sở hành của Ngài là gì,
và tôn giả sẽ là gì?" Câu trả lời tiếp của Đức Phật
rất là đặc biệt:
- "Này
Bà-la-môn, đối những người chưa đoạn tận các lậu hoặc,
Ta có thể là chư Thiên với các lậu hoặc đã đoạn tận,
được chặt đứt từ gốc rễ, được làm thành như cây
Ta La, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không
thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đối với những
người chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là Càn Thát
Bà, Ta có thể là Dạ Xoa, Ta có thể là loài người, với
các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặt đứt từ gốc
rễ. Được làm thành như cây Ta La, được làm không thể
hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương
lai..."
Như
vậy, tùy thuộc chúng sanh được đề cập đến, đối với
chúng sanh là Chư Thiên chưa đoạn tận các lậu hoặc, Đức
Phật có thể là chư Thiên nhưng với các lậu hoặc đã đoạn
tận, không còn sanh tử luân hồi. Đối với loài người chúng
ta chưa đoạn tận các lậu hoặc, Đức Phật có thể là người,
nhưng là một con người đã đoạn tận các lậu hoặc. Nói
một cách khác, dầu thuộc loại chúng sanh hữu tình nào đang
còn có lậu hoặc, đang còn sanh tử luân hồi, Đức Phật
có thể là chúng sanh ấy, nhưng với các lậu hoặc đã đoạn
tận. Chúng ta là người, Đức Phật đối với chúng ta là
người, chỉ có sự sai khác, Đức Phật là người đã đoạn
tận các lậu hoặc, còn chúng ta là người, nhưng chưa đoạn
tận các lậu hoặc. Rồi Đức Phật cho chúng ta một thí dụ
xác định rõ ràng vị trí của Ngài trong thế giới loài người:
"Ví như này Bà-la-môn, bông sen xanh, bông sen hồng hay bông
sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên
khỏi mặt nước và đứng thẳng, không bị nước thấm ướt.
Cũng vậy này Bà-la-môn, sanh ra trong đời, lớn lên trong đời,
Ta sống chinh phục đời, không bị đời thấm ướt. Này Bà-la-môn,
Ta là Phật, hãy như vậy thọ trì."
Rồi
Đức Phật dùng một bài kệ phát họa hình ảnh của Ngài
trong đời:
"Với
lậu hoặc chưa đoạn,
Ta
có thể là Tiên,
Có
thể Càn Thát Bà,
Có
thể là loài chim,
Hay
đi đến Dạ Xoa,
Hay
vào trong thai người
Với
Ta, lậu hoặc tận,
Bị
phá hũy, trừ khử,
Như
sen trắng tươi đẹp,
Không
bị nước thấm ướt,
Đời
không thấm ướt Ta,
Do
vậy Ta được gọi,
Ta
là Phật, Chánh Giác,
Hỡi
này Bà-la-môn."
Đức
Phật đã sống trong đời, không bị đời uế nhiễm, nhưng
đã gọi là Như Lai (Tathàgata) tức có nghĩa là vị đã thật
sự hiểu đời, hiểu thế giới như thể nào mới không bị
đời uế nhiễm, như kinh thế giới số 23 đã nêu rõ:
"Này
các tỷ kheo, thế giới được Như Lai chánh đẳng giác, Như
Lai không hệ lụy với đời. Này các tỷ kheo, thế giới tập
khởi được Như Lai chánh đẳng giác. Thế giới tập khởi
được Như Lai đoạn tận. Này các tỷ kheo, thế giới đoạn
diệt được Như Lai chánh đẳng giác. Thế giới đoạn diệt
được Như Lai giác ngộ. Này các tỷ kheo, con đường đưa
đến thế giới đoạn diệt được Như Lai chánh đẳng giác.
Con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai
tu tập."
- "Cái
gì này các tỷ kheo, trong toàn thế giới với Thiên giới,
Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa Môn, Bà-la-môn,
chư Thiên và loài người, được thấy, được nghe, được
cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm
cầu, được ý tư sát, tất cả đều được Như Lai chánh
đẳng giác. Do vậy được gọi là Như Lai. Từ đêm, này các
tỳ kheo, Như Lai được chánh đẳng giác, đến đêm Ngài nhập
Niết bàn, trong thời gian ấy, điều gì Ngài nói, nói lên,
tuyên bố, tất cả là như vậy, không thể khác được. Do
vậy được gọi là Như Lai."
"Này
các tỷ kheo, Như Lai nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy.
Vì rằng nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy, nên được
gọi là Như Lai."
"Này
các tỷ kheo, trong toàn thể thế giới, Thiên giới, Ma giới,
cùng các quần chúng Sa môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người,
Như Lai là bậc Chiến Thắng, không bị ai chiến bại, toàn
trí toàn kiến, đại tự tại. Do vậy, được gọi Như Lai."
Như
kinh trên đã trình bày, Như Lai là một vị đã hiểu rõ thế
giới, như vậy là đã đạt đến chỗ tột cùng của thế
giới, mới có thể hiểu biết về thế giới. Nhưng phải
ở trong thế giới, mới có thể hiểu biết thế giới, phải
ở trong sinh tử mới có thể vượt khỏi sinh tử, như đã
được trình bày trong kinh Rohitassa số 45. Trong kinh này, thiên
tử Rohitassa hỏi Đức Phật: "Tại chỗ nào Bạch Thế Tôn,
không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ
bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), chúng con có
thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ
tận cùng của thế giới không?" Và Đức Phật đã trả lời
dứt khoát là không thể được. Rohitassa tán thán câu trả
lời của Đức Phật, khen rằng thật là vi diệu vì chính
thiên tử Rohitassa, bước đi với tốc độ nhanh như tên bắn
chớp nhoán, với bước chân từ biển Đông qua biển Tây,
đi như vậy luôn 100 năm không có dừng nghỉ, cũng phải chết
giữa đường, không có thể đạt được tận cùng thế giới.
Nhưng rồi Đức Phật dạy, chúng ta không cần đi đâu xa,
chính trên cái thân này của chúng ta, chúng ta có thể đạt
đến chỗ tận cùng thế giới. "Này hiền giả, Ta tuyên rằng
tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết,
không có từ bỏ đời này, không có khởi đời khác thời
không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến
chỗ tận cùng của thế giới. Nhưng này hiền giả, trong cái
thân dài độ mấy tấc này (byàmamatta) với những tưởng,
những tư duy của nó, Ta tuyên bố về thế giới tập khởi,
về thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế
giới đoạn diệt".
Và
với bài kệ sau đây, Đức Phật tóm tắc lời dạy của Ngài:
"Với
đi, không bao giờ
Đạt
tận cùng thế giới
Nếu
không, không đạt được
Chỗ
tận cùng thế giới
Thời
không có giải thoát
Ra
ngoài khỏi khổ đau.
Do
vậy, bậc có trí,
Hiểu
biết rõ thế giới,
Đi
tận cùng thế giới,
Với
Phạm hạnh thành tựu,
Bậc
đạt được an tịnh
Biết
tận cùng thế giới;
Không
mong cầu đời này,
Không
mong cầu đời sau."
Vì
vai trò quan trọng của cái thân của chúng ta, nên Đức Phật
đã dạy phải trừ thân kiến (sakkàyaditthi) giới cấm thủ
và nghi mới có thể chứng được quả Dự Lưu từ bỏ địa
vị phàm phu, bước vào địa vị hiền thánh. Do vậy, đôi
khi Đức Phật cũng rống tiếng rống của con sư tử về cái
thân năm uẩn của chúng ta, một tiếng rống làm chư Thiên
khiếp sợ vì tưởng rằng thân của chư Thiên là thường
còn, như kinh Con sư tử số 33 đã ghi nhận:
"Cũng
vậy này các tỷ kheo, Như Lai ...thuyết pháp: "Đây là thân
năm uẩn (sakkàya), đây là thân năm uẩn tập khởi, đây là
thân năm uẩn đoạn diệt; đây là con đường đưa đến thân
năm uẩn đoạn diệt. Này các tỷ kheo, có những chư Thiên
nào, tuổi thọ dài, có dung sắc, hưởng lạc nhiều, đã sống
lâu trong các lâu đài to lớn. Chư Thiên này, sau khi nghe Như
Lai thuyết pháp, phần lớn chúng trở thành sợ hãi, run sợ,
khiếp đảm. Chúng nghĩ: "Chúng ta là vô thường, này chư tôn
giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường còn. Chúng ta là
không thường hằng, này chư tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là
chúng ta thường hằng. Chúng ta không thường trú, này chư
tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường trú. Này chư
tôn giả, chúng ta là vô thường, không thường hằng, không
thường trú, bị thâu nhiếp trong một thân này."
Với
Đức Phật tự mình đã giác ngộ, khi Ngài mới thành chánh
giác, Ngài khởi lên một tư tưởng rất khiêm tốn: "Thật
là khó khăn, sống không cung kính, không vâng lời. Vậy Ta
hãy cung kính, đãnh lễ và sống y chỉ vào một Sa môn hay
Bà-la-môn..." Với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn chưa
đầy đủ, làm cho đầy đủ định uẩn chưa đầy đủ...
Làm cho đầy đủ tuệ uẩn chưa đầy đủ... Làm cho đầy
đủ giải thoát uẩn chưa đầy đủ. Ta hãy cung kính, đảnh
lễ và sống y chỉ vào một Sa môn hay Bà-la-môn nào khác."
Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên,
Ác Ma và Phạm Thiên, giữa quần chúng Sa môn và Bà-la-môn,
chư Thiên và loài Người, không có một Sa môn hay Bà-la-môn
nào khác, với giới ..., với định ..., với tuệ ... với
giải thoát đầy đủ hơn Ta mà ta có thể cung kính đảnh
lễ và sống y chỉ." Rồi này các tỷ kheo, Ta suy nghĩ như
sau: "Với Pháp này mà Ta đã chơn chánh giác ngộ, Ta hãy cung
kính, đảnh lễ và sống y chỉ pháp ấy." Như vậy Đức Phật
với tâm tư khiêm tốn muốn tìm một Sa môn hay Bà-la-môn để
nương tựa y chỉ, nhưng cuối cùng phải nương tựa y chỉ
vào Chánh Pháp. Thái độ này của Đức Phật giải thích vì
sao Đức Phật khuyên tôn giả Ananda chớ có sầu muộn sau
khi Đức Phật nhập diệt, vì các đệ tử Phật luôn luôn
có chánh pháp lãnh đạo, có chánh pháp làm chỗ y chỉ, có
chánh pháp làm chỗ nương tựa. Đức Phật có thể xem là
vị giáo chủ khuyên chúng ta không nên nương tựa, ỷ lại
cá nhân, Ngài chỉ khuyên chúng ta nên y chỉ vào chánh pháp,
nên nương tựa chánh pháp. Và như vậy chúng ta thật không
lấy làm lạ khi Đức Phật được tôn xưng là bậc tối thượng
trong thế giới các loài hữu tình như kinh các lòng tin số
34 đã xác định. Dầu cho loài hữu tình nào, này các tỷ
kheo, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc
hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi
phi tưởng, Thế Tôn bậc A-la-hán chánh đẳng giác được
xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào Đức Phật,
chúng đặt lòng tin vào tối thượng với những ai đặt lòng
tin vào tối thượng, chúng được quả Dị thục tối thượng.
Do
Ngài chiếm một địa vị tối thượng trong thế giới các
loài hữu tình, do sự chứng ngộ, giải thoát của Ngài là
thiết thực, hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, nên
Ngài sống ở đời, đạt được bốn sự không sợ hãi, như
kinh Vô sở úy số 8 đã trình bày. Ngài tuyên bố: "Có bốn
không sợ hãi này của Như Lai, này các tỷ kheo, do thành tựu
bốn không sợ hãi này, Như Lai tự nhận cho mình Địa ngưu
vương, rống tiếng rống con sư tử trong các hội chúng và
chuyển Pháp Luân".
Ngài
thấy rằng, không một ai có thể chỉ trích Ngài là chưa giác
ngộ một cách hoàn toàn, là chưa đoạn tận các lậu hoặc
một cách hoàn toàn, là các pháp Ngài thuyết là chướng đạo
pháp nhưng thật sự không có gì chướng ngại, và mục đích
về pháp Ngài tuyên bố là không thiết thực đưa người thực
hành đoạn tận được khổ đau. Trái lại, Ngài đã thực
sự giác ngộ hoàn toàn, đã thực sự đoạn tận dục lậu,
hữu lậu, vô minh lậu; các chướng đạo pháp mà Ngài tuyên
bố thật sự làm trở ngại cho người hành trì trên con đường
tu đạo; mục đích Ngài thuyết giảng và các phương pháp
hành trì do Ngài giới thiệu đã thực sự giúp cho hàng vạn,
hàng triệu người được giải thoát giác ngộ. Do vậy, Ngài
ung dung tự tại đi vào mọi hội chúng, không một chút sợ
hãi rụt rè, vì không có một ai có thể chất vấn, cật nạn
Ngài được. Ngài đã chứng được bốn không sợ hãi của
những bậc thật sự giác ngộ.
Với
vị trí vô thượng của Ngài, với sự giác ngộ tuyệt vời
của Ngài, với bốn không sợ hãi của Ngài, cho nên Ngài đã
thành tựu bốn pháp vi diệu chưa từng có, như đã được
diễn tả trong kinh Vi diệu số 128.
"Này
các tỷ kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán chánh đẳng giác xuất
hiện, có bốn pháp vi diệu, chưa từng có này xuất hiện."
"Này
các tỷ kheo, quần chúng ưa thích chấp giữ, thích thú chấp
giữ, hoan hỷ chấp giữ. Khi pháp không chấp giữ được Như
Lai thuyết giảng, chúng khéo nghe, lắng tai, an trú tâm với
chánh trí..."
"Này
các tỷ kheo, quần chúng ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu
mạn, hoan hỷ kiêu mạn. Khi pháp không kiêu mạn được Như
Lai thuyết giảng, chúng khéo nghe, lắng tai, an trú tâm với
chánh trí..."
"Này
các tỷ kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú
không an tịnh, hoan hỷ không an tịnh. Khi pháp an tịnh được
Như Lai thuyết giảng, chúng khéo nghe, lắng tai, an trú tâm
với chánh trí..."
"Này
các tỷ kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng,
bị trói buộc che đậy. Khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục
vô minh, chúng khéo nghe, lắng tai, an trú tâm với chánh trí..."
"Này
các tỷ kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán chánh đẳng giác xuất
hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện."
Đây thật sự là ảnh hưởng vi diệu của chánh pháp. Chúng
ta chưa nghe chánh pháp thì thôi, nhưng đã nghe được chánh
pháp thời tâm tư chúng ta dần dần biến đổi, bản tánh
ưa thích chấp giữ được nhẹ dần tánh chấp giữ, bản
tánh kiêu mạn chúng ta vơi bớt kiêu căng ngạo mạn, bản
tánh giao động của chúng ta trở thành an tịnh lắng dịu
và bản tánh vô minh vô trí được trở thành sáng suốt, giác
ngộ. Khả năng cảm hóa của chánh pháp thật sự là hy hữu
vi diệu. Khả năng cảm hóa của Đức Phật thật sự là hy
hữu vi diệu."
*
Nay
chúng ta bước qua một lãnh vực khác, lãnh vực các đề tài
Đức Phật đã thuyết giảng, một mặt chúng ta thấy rõ được
sự sai khác như trời vực giữa lời dạy của Sa môn, Bà-la-môn
ngoại đạo và lời dạy của Đức Phật. Một mặt chúng
ta càng nhận chân một cách thấu triệt sâu sắc những pháp
môn giải thoát giác ngộ, chính Đức Phật tự mình hành trì
kinh nghiệm trên bản thân, những pháp môn ấy không những
là siêu việt xuất chúng với tánh chất độc đáo của chúng,
chính chúng đã mở rộng tầm mắt nhìn thấy của chúng ta
và giới thiệu cho chúng ta những pháp môn thật sự giác ngộ
và giải thoát.
Trong
một câu chuyện giữa các du sĩ ngoại đạo với Đức Phật
như được ghi chép trong kinh Các sự thật Bà-la-môn số 185,
khi được nghe các du sĩ bàn luận về các sự thật Bà-la-môn,
Đức Phật đã đóng góp ý kiến của Ngài về vấn đề này,
và những sự thật Ngài đóng góp thật sự là những nguyên
tắc, những nguyên lý để hiểu biết để thực hành, để
sống trọn vẹn:
"Ở
đây, này các du sĩ, Bà-la-môn nào nói như sau: "Không được
làm hại các loài hữu tình", người Bà-la-môn nào nói như
vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy không
nghĩ đến "Sa môn", không nghĩ đến Bà-la-môn, không nghĩ đến:
"Ta hơn các người khác", không nghĩ đến "Ta bằng các người
khác", không nghĩ đến: "Ta là hạ liệt". Lại nữa, do thắng
trí sự thật hàm chứa ở đây, người ấy thực hành lòng
thương tưởng, lòng từ mẫn đối với các loài hữu tình.
"Lại
nữa này các du sĩ, Bà-la-môn nói như sau: "Mọi dục là vô
thường, khổ, chịu sự biến hoại..." Người Bà-la-môn nói
như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy
không nghĩ đến "Sa môn", không nghĩ đến "Bà-la-môn", không
nghĩ đến "Ta hơn các người khác", không nghĩ đến "Ta bằng
các người khác", không nghĩ đến "Ta là hạ liệt". Lại nữa
do thắng tri sự thật hàm chứa ở đây, người ấy thực
hành nhằm chán, ly tham, đoạn diệt đối với các dục".
"Lại
nữa, này các du sĩ, người Bà-la-môn nào nói như sau: "Tất
cả hữu là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại". Người
Bà-la-môn nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do
vậy, vị ấy không nghĩ đến: "Sa môn", không nghĩ đến "Bà-la-môn",
không nghĩ đến: "Ta hơn các người khác", không nghĩ đến:
"Ta bằng các người khác", không nghĩ đến: "Ta là hạ liệt".
Lại nữa, do thắng tri sự thật hàm chứa ở đấy, người
ấy thực hiện nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với các
hữu.
"Lại
nữa, này các du sĩ, người Bà-la-môn nói như sau: "Ta không
là bất cứ ai, bất cứ thuộc ai, bất cứ là gì. Trong ấy
không có cái gì được gọi ta là của Ta, bất cứ ở đâu,
bất cứ là gì? "Người Bà-la-môn nói như vậy là nói sự
thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy không nghĩ đến "Sa môn",
không nghĩ đến "Bà-la-môn", không nghĩ đến: "Ta hơn các người
khác", không nghĩ đến: "Ta bằng các người khác", không nghĩ
đến "Ta là hạ liệt". Lại nữa, do thắng tri sự thật hàm
chứa ở đây, người ấy thực hành con đường không có sự
vật gì".
Trước
hết bốn sự thật do Đức Phật tuyên bố này, cho chúng ta
một cái nhìn thiết thực, chính xác về cuộc đời và dạy
cho chúng ta những hành động phù hợp: "Chúng ta không được
làm hại các loài hữu tình; chúng ta phải hiểu các dục,
các hữu là vô thường; chúng ta nên loại trừ các sở hữu.
Với những cái nhìn, với những hành động chính xác phù
hợp với các sự thật ấy, chúng ta sẽ không còn tự cao
tự đại, tự ty mặt cảm, không còn phân biệt giữa mình
và người. Và nhờ có một nhận thức thiết thực về bốn
sự thật này, chúng ta mới phát khởi lòng từ bi đối với
các loài hữu tình, thực hành sự nhàm chán ly tham đối với
các dục, các hữu, và thực hành con đường không có sự
vật gì."
Cuộc
đối thoại kế tiếp là giữa Bà-la-môn Vassakàre với Đức
Phật về vấn đề Đại Tuệ (kinh Vassakàre số 35). Theo Vassakàre,
một người thành tựu bốn pháp được xem là bậc Đại Tuệ,
là bậc Đại Nhân. Tức là nghe nhiều, biết ý nghĩa những
điều đã được nghe. Có chánh niệm, nhớ đến điều đã
làm, đã nói từ lâu. Trong các công việc của gia chủ, có
thiện xảo không thụ động. Thành tựu với sự quán sát
về phương tiện vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức.
Đầy đủ bốn đức tánh như vậy, Bà-la-môn Vassakàre xem
vị ấy là bậc Đại Tuệ, là bậc Đại Nhân. Nhưng Đức
Phật trình bày bốn pháp, tác thành bậc Đại Tuệ, bậc Đại
Nhân rất là sai khác.
Theo
Đức Phật, "Người nào hướng đến hạnh phúc cho nhiều
người, hướng đến an lạc cho nhiều người. Với người
này, nhiều người được an lập trên thánh lý, tức là hiền
thiện pháp tánh, thiện pháp tánh. Với tâm tư nào vị ấy
nghĩ cần phải tầm tư, vị ấy tầm tư tầm tư ấy. Với
tư duy nào vị ấy nghĩ cần phải tư duy, vị ấy tư duy tư
duy ấy. Như vậy vị ấy đạt được tâm tự tại trong các
đường hướng tầm tư. Đối với bốn thiền thuộc tăng
thượng tâm, hiện tại lạc trú, vị ấy đạt được không
khó khăn, đạt được không mệt nhọc, đạt được không
phí sức. Do đoạn diệt các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện
tại, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và
an trú, vô lượng giải thoát." Đức Phật không bài xích,
không tùy hỷ quan điểm của Vassakàre, Ngài chỉ trình bày
quan điểm của mình, nhưng sau khi Vassakàre gạn hỏi như muốn
thách thức, Đức Phật đã trả lời cho Vassakàre rõ là bốn
pháp tánh thành bậc Đại Tuệ này, chính Đức Phật đã thành
tựu một cách viên mãn trọn vẹn. Thật vậy, Đức Phật
là vị đã đem lại hạnh phúc an lạc cho rất nhiều chúng
sanh, đã an trú các chúng sanh trên thiện pháp, đã giúp đỡ
chúng sanh thực hành các điều lành về thân, về lời, về
ý. Đức Phật là vị đã hoàn toàn tự tại trong đường
hướng tầm tư, suy tư những gì cần phải suy tư, không suy
tư những gì không cần phải suy tư, tự tại trong những suy
tư, tư tưởng của mình; đã chứng được bốn thiền một
cách ung dung tự tại và đã đoạn trừ các lậu hoặc, chứng
được vô lậu tâm giải thoát tuệ giải thoát. Ngài nói đến
bốn pháp tác thành bậc Đại Tuệ, những pháp chính Ngài
đã thực hành trọn vẹn. Và để kết luận, Đức Phật đã
nói lên bài kệ:
"Ai
trong mọi chúng sanh
Hiểu
rõ được giải thoát,
Khỏi
cạm bẫy thần chết.
Vì
hạnh phúc nhân thiên;
Tuyên
bố về chánh lý,
Tuyên
bố về chánh pháp.
Quần
chúng thấy nghe vậy,
Liền
hoan hỷ tịnh tín.
Thiện
xảo, đạo phi đạo,
Việc
nên làm đã làm,
Võ
lậu bậc giác ngộ
Với
thân này thân cuối,
Ngài
được gọi tôn xưng
Bậc
Đại Tuệ, Đại Nhân".
Tiếp
đến là một cuộc đàm luận nữa giữa Bà-la-môn Jànussoni
với Đức Phật, vị này đến Đức Phật và tuyên bố ngay
rằng: "Thưa Tôn giả Gotama, con nói như sau, thấy như sau: "Không
có một ai bản tánh bị chết mà không sợ hãi, không rơi
vào run sợ khi nghĩ đến cái chết." (Kinh Không sợ hãi, số
184).
Đức
Phật với kinh nghiệm của Ngài, tuyên bố rằng có hai hạng
người, có hạng người bản tính bị chết, sợ hãi run sợ
khi nghĩ đến cái chết, nhưng có người bản tính bị chết,
nhưng không sợ hãi, không run sợ khi nghĩ đến cái chết.
Và bốn hạng người sau đây, khi chết đến cảm thấy sợ
hãi hoảng sợ: "Những ai không ly tham đới với các dục,
những ai không ly tham đối với cái thân không ly tham muốn,
không ly tham ái, không ly khát ai, không ly nhiệt não, không
ly tham ái. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho
người ấy, suy nghĩ như sau: "Thực sự các dục khả ái sẽ
từ bỏ Ta, hay Ta từ bỏ những dục khả ái... Thật sự thân
khả ái, sẽ từ bỏ Ta, hay Ta từ bỏ thân khả ái. "Nó sầu
muộn than van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh." Như
vậy, hai hạng người này, hạng người chưa ly tham đối với
các dục...chưa ly tham đối với thân, hai hạng người này,
bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến
chết."
"Lại
nữa hạng người không làm điều lành, không làm điều thiện,
không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều thiện,
không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo,
làm điều phạm pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi
lên cho người ấy. Người ấy cảm thọ chứng bệnh nặng
ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự Ta không làm điều lành, không
làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác,
làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp.
Tại
sanh thú nào, các người không làm điều lành, không làm điều
thiện, không che chở cho kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều
hung bạo, làm điều phạm pháp đi đến, sau khi chết, Ta đi
đến sanh thú ấy. "Người ấy sầu muộn, than van, khóc lóc,
đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn đây là người
bản tánh bị chết sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến
chết."
- "Lại
nữa này Bà-la-môn, ở đây có hạng người nghi ngờ, do dự,
không đi đến kết luận đối với diệu pháp. Rồi một chứng
bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy cảm
thọ bệnh nặng trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự
Ta có nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với
diệu pháp. "Người ấy sầu muộn, than van, khóc lóc, đập
ngực rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là bốn hạng
người, bản tánh bị chết sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ
đến cái chết."
Trái
lại bốn hạng người sau đây, tuy bản tánh bị chết, nhưng
không sợ hãi, không run sợ khi nghĩ đến cái chết:
"Ở
đây, này Bà-la-môn, có hạng người ly tham đối với các
dục...ly tham đới với thân, ly ham muốn, ly luyến ái, ly khát
ái, ly nhiệt não, ly tham ái. Rồi một chứng trầm trọng khởi
lên cho người ấy cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy suy
nghĩ như sau: "Thật sự các dục khả ái sẽ từ bỏ Ta, hay
"Ta sẽ từ bỏ các dục khả ái ... Thật sự thân khả ái
sẽ từ bỏ Ta", hay "Ta sẽ từ bỏ thân khả ái này." Người
ấy không sầu muộn, không than van, không khóc lóc, không đập
ngực, không rơi vào bất tỉnh. "Này Bà-la-môn, đây là hạng
người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run
sợ khi nghĩ đến chết."
"Lại
nữa này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không làm ác,
không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm
điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi. Rồi
một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người
ấy cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau:
"Thật sự Ta không làm ác, không làm điều hung bạo, không
làm điều phạm pháp; làm điều lành, làm điều thiện, có
che chở cho kẻ sợ hãi. Tại sanh thú nào, các người không
làm các điều ác, không làm điều hung bạo, không làm điều
phạm pháp, làm điều thiện, làm điều lành, có che chở cho
kẻ sợ hãi đi đến. Sau khi Ta chết, Ta đi đến sanh thú ấy.
Người ấy không sầu muộn, không than van, không khóc lóc,
không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn,
đây là hạng người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không
run sợ khi nghĩ đến chết."
"Lại
nữa này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không có nghi ngờ,
không có do dự, đi đến kết luận đối với diệu pháp.
Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy.
Người ấy cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy suy nghĩ
như sau: "Thật sự Ta không có nghi ngờ, không có do dự, đi
đến kết luận đối với diệu pháp! Người ấy không có
sầu muộn, không có than van, không có khóc lóc, không có đập
ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là hạng
người bản tánh bị chết không sợ hãi, không rơi vào run
sợ khi nghĩ đến cái chết."
Có
những vấn đề xem thật là tầm thường, nghĩa là nói lên
những điều mình đã nghe, đã thấy, nhưng câu trả lời của
Đức Phật bao giờ cũng diễn đạt trí tuệ sâu sắc của
Ngài, rất khác với câu trả lời của Vassakàra (Kinh Điều
đã được nghe số 183). Bà-la-môn Vassakàra thưa với Đức
Phật: "Thưa Tôn giả Gotama con nói như sau, thấy như sau: "Khi
người nào nói lên điều mình thấy: "Ta thấy như vậy", do
vậy người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều
mình nghe: "Tôi nghe như vậy." Do vậy người ấy không có lỗi
gì. Khi người nào nói lên điều mình cảm giác; "Tôi cảm
giác như vậy." Do vậy người ấy không có lỗi gì. Khi người
nào nói lên điều mình thức tri: "Tôi thức tri như vậy."
Do vậy người ấy không có lỗi gì. "Câu trả lời của Đức
Phật rất là đặc biệt. Ngài tuyên bố, Ngài không nói rằng
tất cả được thấy, được nghe, được cảm giác, được
thức tri là nên nói ra hay không nói ra. "Nhưng này Bà-la-môn,
phàm nói lên điều thấy gì...điều nghe gì...điều cảm gì...
điều thức tri gì, các pháp bất thiện tăng trưởng, pháp
thiện tổn giảm, Ta nói rằng điều thấy như vậy...điều
nghe như vậy...điều cảm giác như vậy... điều thức tri
như vậy... điều nghe như vậy...điều cảm giác như vậy...điều
thức tri như vậy không nên nói ra. Và này Bà-la-môn, phàm
nói ra điều gì, thấy gì...điều nghe gì...điều cảm giác
gì...điều thức tri gì...các pháp bất thiện tổn giảm, các
pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thấy như vậy...điều
nghe như vậy...điều cảm giác như vậy...điều thức tri như
vậy...điều thức tri như vậy nên nói ra!"
Như
vậy Đức Phật khuyên chúng ta chỉ nên nói lên những gì
khiến thiện pháp tăng trưởng, khiến bất thiện pháp tổn
giảm, và dứt khoát không nên nói lên những gì khiến thiện
pháp tổn giảm, khiến bất thiện pháp tăng trưởng.
*
Trong
thời Đức Phật tại thế, khi Ngài mới thành chánh đẳng
chánh giác, Ngài bị một số Bà-la-môn trưởng lão chất vấn
Ngài như sau: "Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi được nghe như
sau: "Sa môn Gotama không có kính lễ, không có đứng dậy, không
có lấy nghế mời ngồi các bậc trưởng thượng đã đi quá
nửa cuộc đời, đã đạt đến cuối mức tuổi đời. Thưa
Tôn giả Gotama, có phải sự tình là như vậy không? Nếu Tôn
giả Gotama không có kính lễ, không có đứng dậy, không có
lấy ghế mời ngồi các bậc Bà-la-môn già cả, trưởng lão
, các bậc trưởng thượng, đã đi quá nửa cuộc đời, đã
đạt cuối mức tuổi đời, sự tình như vậy, thưa Tôn giả
Gotama là không được tốt đẹp." Câu trả lời của Đức
Phật cho các trưởng lão Bà-la-môn nêu rõ quan điểm về trưởng
lão và về thanh niên của Đức Phật. Ngài nói: "Này các tỷ
kheo nếu trưởng lão là 80 tuổi hay 90 tuổi, hay 100 tuổi đời,
và nếu vị ấy nói phi thời, nói phi chân, nói phi nghĩa, nói
phi pháp, nói phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ,
lời nói không hợp thời, không hợp lý, không có giới hạn,
không liên hệ đến mục đích, thời vị ấy chỉ được
gọi là vị trưởng lão ngu si. Nếu là một vị tuổi trẻ,
này các tỷ kheo, một thanh niên còn non trẻ, tóc đen nhánh,
trong tuổi hiền thiện của đời, còn trong tuổi thanh xuân,
và vị ấy nói đúng thời, nói lời chân thật, nói lời có
nghĩa, nói lời đúng pháp, nói lời đúng luật, nói lời đáng
được gìn giữ, nói lời hợp thời cơ, hợp lý, có giới
hạn, liên hệ đến mục đích, thời vị ấy được gọi
là trưởng lão hiền trí."
Rồi
Đức Phật nói lên bốn pháp tác thành trưởng lão (xem Tăng
Chi II, kinh số 22):
- "Ở
đây này các tỷ kheo, vị tỷ kheo có giới, sống chế ngự
với sự chế ngự các giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi
chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận
và học tập trong các học pháp. Là vị nghe nhiều, thọ trì
điều đã được nghe, tích tụ điều đã nghe; những pháp
sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề
cao phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Các pháp như
vậy, vị ấy nghe nhiều, thọ trì đọc tụng bằng lời, quán
sát với ý, thể nhập với chánh kiến. Đối với bốn thiền,
thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú đạt được không
khó khăn, đạt được không mệt nhọc, đạt được không
phí sức. Do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại
tự mình với thắng trí chứng ngộ chứng đạt và an trụ
vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các tỷ kheo,
bốn pháp này tác thành vị trưởng lão:
"Ai
với tâm cống cao
Nói
nhiều lời phù phiếm
Với
tư duy không định
Như
thú không ưa pháp,
Xa
địa vị trưởng lão,
Ác
kiến, thiếu kính trọng.
Và
ai đủ giới hạnh,
Nghe
nhiều, trí biện tài,
Sống
chế ngự bậc trí,
Đối
với tất cả pháp.
Vị
ấy với trí tuệ,
Quán
thấy chơn ý nghĩa.
Đạt
cứu cánh các pháp,
Không
hoang vu, biện tài.
Đoạn
tận sanh và chết,
Viên
mãn, hành Phạm hạnh,
Vị
ấy Ta gọi tên,
Trưởng
lão, không lậu hoặc
Do
đoạn trừ lậu hoặc
Được
gọi là Trưởng Lão."
*
Trong
đời Đức Phật, Ngài cũng bị nhiều hiểu lầm và xuyên
tạc. Chúng ta thấy trong kinh trước, Đức Phật đã bị xuyên
tạc không có kính lễ các bậc trưởng thượng và Đức Phật
đã giải thích quan điểm của mình đối với vấn đề trưởng
lão và thanh niên. Trong bài kinh Bhaddiya số 193, Đức Phật
lại bị xuyên tạc và bị huyễn thuật sư đã dùng huyễn
thuật lôi cuốn đệ tử các ngoại đạo. Licchavi Bhaddiya đến
yết kiến Đức Phật và hỏi: "Bạch Thế Tôn, những ai nói
như sau: "Sa môn Gotama là huyễn thuật sư, biết được huyễn
thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo. Những người
ấy Bạch Thế Tôn, có phải nói đúng ý kiến của Thế Tôn,
không có xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật. Có phải
chúng trả lời về pháp hợp với chánh pháp. Và ai là vị
đồng pháp, theo một quan điểm, không có lý do để chỉ trích
Bạch Thế Tôn, chúng con không muốn xuyên tạc Thế Tôn."
Đức
Phật liền khuyên Licchavi Bhaddiya chớ có tin mười điều:
"Này Bhaddiya, chớ có tin vì nghe báo cáo; chớ có tin vì nghe
truyền thống; chớ có tin vì nghe tin đồn; chớ có tin vì
được kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận;
chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì
đánh giá hời hợt các dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp
với định kiến; chớ có tin vì phát xuất nơi uy quyền; chớ
có tin vì vị Sa môn là bậc Đạo sư của mình."
Rồi
Đức Phật khuyên: "Bhaddiya khi nào biết được các pháp này
là bất thiện, là có tội, bị người có trí chỉ trích,
nếu thực hiện và chấp nhận, đưa đến bất hạnh lâu dài,
thời hãy từ bỏ các pháp ấy. Muốn biết các pháp ấy là
bất thiện, cần nhận xét các pháp ấy có liên hệ đến
tham, sân, si, hung bạo, thời các pháp ấy đem lại bất hạnh
và cần phải từ bỏ. Rồi Đức Phật cũng dùng phương pháp
tương tự, khuyên không nên dựa vào mười lòng tin như trên,
cần phải tự mình biết các pháp ấy là thiện, là không
có tội, được người trí tán thán, và nếu thực hiện và
chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc thời hãy an trú và
thực hiện các pháp ấy. Tiêu chuẩn để biết các pháp ấy
là thiện pháp là liên hệ đến không tham, không sân, không
si, không hung bạo, làm các thiện pháp như không sát sanh, không
trộm cướp, không đi lại vợ người, không nói láo, khích
lệ người khác cũng làm như vậy. "Rồi Đức Phật đi đến
kết luận: "Này Bhaddiya, tất cả các bậc chân nhân tịch
tịnh ở đời khích lệ đệ tử như sau: "Hãy đến này các
đệ tử. Hãy nhiếp phục tham! Hãy sống nhiếp phục tham!
Do sống nhiếp phục tham, ngươi sẽ không làm nghiệp do tham
sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục sân! Hãy sống
nhiếp phục sân! Do sống nhiếp phục sân, ngươi sẽ không
làm nghiệp do sân sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp
phục si! Hãy sống nhiếp phục si! Do sống nhiếp phục si,
ngươi sẽ không làm nghiệp do si sanh, về thân, về lời, về
ý! Hãy nhiếp phục hung bạo! Hãy sống nhiếp phục hung bạo!
Do sống nhiếp phục hung bạo, ngươi sẽ không làm nghiệp
do hung bạo sanh, về thân, về lời, về ý."
Khi
nghe Đức Phật giảng đến đây, Licchavi Bhaddiya liền xin quy
y ba Ngôi Báu để trở thành đệ tử Đức Phật. Nhưng Đức
Phật hỏi, trong suốt bài thuyết pháp của Đức Phật, có
bao giờ Đức Phật khuyên Licchavi Bhaddiya trở thành đệ tử
của Đức Phật hay không và Đức Phật sẽ trở thành vị
đạo sư cho Bhaddiya hay không? Bhaddiya trả lời là không bao
giờ Đức Phật có nói như vậy. Bậc Đạo sư đến đây
mới kết luận: "Như vậy, này Bhaddiya, những Sa môn, Bà-la-môn
nào nói như sau, tuyên bố như sau: "Là một huyễn thuật sư,
Sa môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ
tử ngoại đạo! "Những vị ấy là không thiện, trống không,
nói láo, xuyên tạc với điều không thật!"
Khi
nghe Đức Phật kết luận như vậy, Bhaddiya nói lên lời tán
thán là huyễn thuật dụ dỗ này của Sa môn Gotama thật là
hiền thiện và mong rằng tất cả bà con huyết thống của
mình và tất cả những người Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ
Xá và Thủ Đà đều được huyễn thuật dụ dỗ này cám
dỗ, vì những sự cám dỗ này, mọi người mọi loài sẽ
đoạn tận các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp
và như vậy được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài!
*
Thực
sự mà nói, Đức Phật không có cám dỗ ai, Ngài không có
dụng tâm thâu phục đệ tử của ai. Ngài cũng không khuyên
ai nhắm mắt tin Ngài. Ngài chỉ trình bày những tiêu chuẩn
cho mọi người tự mình tìm hiểu thế nào là bất thiện
để đoạn tận, thế nào là thiện pháp mới đem lại hạnh
phúc an lạc cho mọi người.
Trong
kinh Xa xăm số 47, Đức Phật nêu rõ khoảng cách biệt xa vời
giữa pháp của hạng người bất thiện và pháp của hạng
người thiện:
"Này
các tỷ kheo, có bốn sự này, rất xa, rất xa với nhau. Trời
và đất này các tỷ kheo là rất xa, rất xa với nhau ...Bờ
biển bên này, này các tỷ kheo, với bờ biển bên kia là rất
xa, rất xa với nhau. Từ chỗ mặt trời mọc lên, này các
tỷ kheo, đến chỗ mặt trời lặng xuống, là rất xa với
nhau... Pháp của hạng người bất thiện, này các tỷ kheo,
với các pháp của hạng người thiện, là rất xa, rất xa
với nhau..." và Đức Phật kết thúc bài kệ:
"Rất
xa là bầu trời,
Cũng
rất xa quả đất,
Người
ta nói rất xa
Là
bờ biển bên kia
Từ
chỗ mặt trời mọc,
Chói
sáng tỏa ánh sáng,
Đến
chỗ mặt trời lặn,
Rằng
xa thật là xa.
Người
ta nói xa hơn,
Là
pháp của bậc Thiện,
Với
pháp kẻ bất thiện
Thật
xa, xa hơn nhiều.
Hòa
hợp với bậc Thiện,
Thường
hằng không hoại diệt.
Khi
nào còn đứng vững
Vẫn
như vậy kiên trì.
Còn
hòa hợp bất thiện,
Rất
mau bị phá hoại,
Do
vậy pháp bất Thiện,
Xa
vời pháp kẻ ác."
Trong
kinh Upaka số 188, Đức Phật tuyên bố rất rõ ràng là các
bậc Như Lai, với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với
vô lượng thuyết pháp, chỉ với mục đích nêu rõ các pháp
bất thiện để đoạn tận, và các pháp thiện để tu tập:
- "Này
Upaka, đây là bất thiện. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng
câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của
Như Lai: "Đây là bất thiện. Này Upaka, bất thiện này cần
phải đoạn tận. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với
vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Như Lai: "Đây
là pháp bất thiện này cần phải đoạn tận." "Đây là thiện",
Này Upaka, ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng
thuyết pháp của Như Lai: "Đây là pháp thiện! Thiện pháp
này cần phải tu tập, này Upaka, Ta nêu rõ như vậy với vô
lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp
của Như lai. Đây là thiện này cần phải tu tập."
Đã
nói đến thiện và bất thiện, Đức Phật trình bày tiếp
về nghiệp thiện bất thiện, và trong kinh các nghiệp với
chi tiết, số 232, Đức Phật phân tích có bốn loại nghiệp:
Nghiệp đen quả đen, nghiệp trắng quả trắng, nghiệp đen
trắng quả đen trắng, nghiệp không đen trắng quả không đen
trắng, nghiệp đưa đến nghiệp đoạn diệt.
"Và
này các tỷ kheo, thế nào là nghiệp đen quả đen? Ở đây
này các tỷ kheo, có người làm thân hành có tổn hại, làm
khẩu hành có tổn hại, làm ý hành có tổn hại. Người ấy,
do làm thân hành có tổn hại...do làm khẩu hành... do làm ý
hành có tổn hại, sanh ở thế giới có tổn hại. Do người
ấy sanh ra ở thế giới có tổn hại, các cảm xúc có tổn
hại được cảm xúc. Người ấy, được cảm xúc với những
cảm xúc có tổn hại, nên cảm xúc những cảm thọ có tổn
hại, thuần nhất khổ, như những chúng sanh trong địa ngục.
Này các tỷ kheo, đây là nghiệp đen quả đen."
"Và
này các tỷ kheo, thế nào là nghiệp trắng quả trắng? Ở
đây, này các tỷ kheo, có người làm thân hành không có tổn
hại, làm khẩu hành không có tổn hại, làm ý hành không có
tổn hại. Người ấy, do làm thân hành không có tổn hại,
do làm khẩu hành không có tổn hại, do làm ý hành không có
tổn hại, sanh ra ở thế giới không có tổn hại. Do người
ấy sanh ra ở thế giới không có tổn hại, các cảm xúc không
có tổn hại được cảm xúc. Người ấy, được cảm xúc
với những cảm xúc không có tổn hại, nên cảm thọ những
cảm thọ không có tổn hại, thuần nhất lạc, như chư Thiên
ở Biến tịnh thiên. Này các tỷ kheo, đây là nghiệp trắng
quả trắng."
"Và
này các tỷ kheo, thế nào là nghiệp đen trắng quả đen trắng?
Ở đây, này các tỷ kheo, có người làm thân hành có tổn
hại và không tổn hại; người ấy làm khẩu hành..., làm
ý hành có tổn hại và không tổn hại. Người ấy do làm
thân hành..., do làm khẩu hành..., do làm ý hành có tổn hại
và không tổn hại nên sanh vào thế giới có tổn hại và
không tổn hại, các cảm xúc có tổn hại và không tổn hại
được cảm xúc. Người ấy được cảm xúc với những cảm
xúc có tổn hại và không tổn hại, nên cảm thọ những cảm
thọ có tổn hại và không tổn hại xen lẩn, pha trộn lạc
và khổ. Ví như một số người và chư Thiên, một số chúng
sanh ở đọa xứ. Này các tỷ kheo, đây gọi là nghiệp đen
trắng và quả đen trắng."
"Và
này các tỷ kheo, thế nào là nghiệp không đen trắng quả
không đen trắng?
Tại
đây, này các tỷ kheo, phàm có tư tâm sở nào để đoạn
tận nghiệp đen quả đen này; phàm có tư tâm sở nào để
đoạn tận nghiệp trắng quả trắng này; phàm có tư tâm sở
nào để đoạn tận nghiệp đen trắng quả đen trắng này,
này các tỷ kheo, đây được gọi là nghiệp không đen trắng
quả không đen trắng, nghiệp đưa đến nghiệp đoạn diệt
này. Này các tỷ kheo, có bốn nghiệp này đã được Ta chứng
ngộ với thắng trí và thuyết giảng."
*
Với
Đức Phật là vị đã giác ngộ, biết tâm tư tánh tình của
các loài hữu tình, của loài người nên Ngài thường hay phân
loại các chúng sanh, theo những xu hướng đặc biệt. Như kinh
Thuận dòng số 5, Đức Phật đã phân loại có bốn hạng
người tùy theo thuận hướng hay nghịch hướng trên con đường
đưa đến giải thoát. "Có bốn hạng người này, này các
tỷ kheo, hiện hữu có mặt ở đời... Hạng người đi thuận
dòng, hạng người đi ngược dòng, hạng người tự đứng
lại, và vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bờ bên kia, đứng
trên đất liền.
Và
này các tỷ kheo, thế nào là hạng người đi thuận dòng?
Ở đây, này các tỷ kheo, có người thọ hưởng các dục
và làm ác nghiệp. Này các tỷ kheo, đây là hạng người đi
thuận dòng. Và này các tỷ kheo, thế nào là hạng người
đi ngược dòng? Ở đây, này các tỷ kheo, có hạng người
không thọ hưởng các dục, không làm ác nghiệp. Với khổ
với ưu, nước mắt đầy mặt, khóc than, sống phạm hạnh
viên mãn thanh tịnh. Này các tỷ kheo, đây là hạng người
đi ngược dòng. Và này các tỷ kheo, thế nào là hạng người
tự đứng lại? Ở đây, này các tỷ kheo, do diệt tận năm
hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đây nhập Niết
Bàn, không còn trở lui đời ấy nữa. Này các tỷ kheo, đây
là hạng người tự đứng lại. Và này các tỷ kheo, thế
nào là vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bờ bên kia đứng
trên đất liền? Ở đây, này các tỷ kheo, có hạng người
do hoại diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình
với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu
tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các tỷ kheo, đây gọi
là vị Bà-la-môn, đã vượt qua đến bờ bên kia, đứng trên
đất liền. Bốn hạng người này, này các tỷ kheo, hiện
hữu có mặt ở đời."
"Những
ai sống ở đời
Không
chế ngự các dục
Không
từ bờ ly tham,
Thọ
hưởng các dục vọng
Chúng
đi đến sanh già,
Đến
rồi lại đến nữa.
Bị
khát ái trói buộc
Chúng
đi thuận dòng đời.
"Do
vậy, bậc có trí,
Ở
đời, trú chánh niệm,
Không
thọ hưởng các dục,
Không
hành trì điều ác,
Dầu
chịu sự khổ đau,
Từ
bỏ các dục vọng,
Chúng
được gọi hạng người
Đi
ngược lại dòng đời.
"Nhưng
ai quyết đoạn tận,
Năm
phiền não kiết sử,
Bậc
hữu học viên mãn,
Không
có bị thối thất,
Đạt
được tâm điều phục,
Các
căn được định tỉnh.
Vị
ấy được gọi là
Người
đã tự đứng lại.
"Đối
với pháp thắng liệt,
Vị
ấy được giác tri
Đã
được quét, quạt sạch,
Các
pháp được chấm dứt
Vị
ấy bậc trí giả,
Phạm
hạnh được thành tựu,
Được
tên gọi danh xưng
Bậc
đã đi đến nơi
Chỗ
tận cùng thế giới
Bậc
đã đến bờ kia!"
Trong
kinh Gậy Thúc Ngựa, số 113, Đức Phật đề cập đến bốn
hạng người hiền thiện thuần thục, có những phản ứng
đối với những đau khổ ở đời, và tùy theo mức độ mạnh
yếu, nặng nhẹ khác nhau, có những giao động kích thích,
tinh tấn, thắng trí được sự thật.
Trước
hết, Đức Phật giới thiệu có bốn loại người đối với
Gậy thúc ngựa. Có con vừa thấy bóng cậy gậy thúc ngựa
đưa lên, liền biết ngay người cưỡi ngựa muốn sai bảo
con ngựa phải làm gì, liền đáp ứng ngay ý muốn của người
cưỡi ngựa. Có con phải đợi khi cây gậy thúc ngựa đâm
vào da, có con phải đợi khi đâm vào thịt và có con phải
đợi khi cây gậy thúc ngựa đâm vào xương mới đáp ứng
ý muốn của người cưỡi ngựa. Cũng vậy, ở đời có bốn
hạng người thiện, hạng thứ nhất vừa nghe tại một làng
hay thị trấn kia có người đàn bà hay người đàn ông bị
khổ đau hay bị mạng chung, liền bị giao động kích thích,
như lý tinh cần. Và nhờ tinh cần, vị ấy với trí tuệ chứng
ngộ được tối thắng sự thật. Hạng thứ hai không có phản
ứng tốt đẹp khi chỉ nghe có người đàn bà hay người đàn
ông bị đau khổ hay mệnh chung, phải chợ khi tự mình chứng
kiến mới có phản ứng tu hành tinh tấn. Hạng thứ ba không
có phản ứng khi nghe hay tự mình thấy, chỉ có phản ứng
khi có người bà con hay người đồng một huyết thống khổ
đau hay mệnh chung. Còn hạng thứ tư không có phản ứng khi
nghe tại một làng hay thị trấn kia có người đàn bà hay
người đàn ông bị đau khổ hay mệnh chung, không có phản
ứng khi tự mình thấy một người đàn bà hay người đàn
ông khổ đau hay bị mệnh chung, không có phản ứng khi có
người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau
hay bị mệnh chung. Hạng người thứ tư này, chỉ khi tự mình
cảm xúc những cảm thọ về thân khổ đau, nhói đau, chói
đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý,
đoạt mạng sống, vị ấy mới bị giao động kích thích.
Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với
thân vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng. Với
trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập thấy được sự thật
ấy. Ví như con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị
cây gậy thúc ngựa đâm vào xương mới bị giao động kích
thích, và mới đáp ứng ý muốn của người cưỡi ngựa.
*
Thường
thường chúng ta xem Đức Phật là bậc Đạo sư chỉ dạy
những phương pháp tu hành siêu thế cho các vị xuất gia đã
chọn lựa con đường thoát siêu trần. Thật sự mà nói, một
số lớn kinh điển ghi nhận những lời dạy siêu trần thoát
tục ấy. Nhưng như chúng ta đã thấy trong kinh Thế giới số
23 ghi rõ Đức Phật là vị đã hiểu biết thế giới nhưng
không bị đời uế nhiễm. Vì Ngài đã hiểu biết thế giới,
đã hiểu rõ tâm tư của chúng sanh, nên với sự giác ngộ,
với trí tuệ sáng suốt của Ngài, Đức Phật đã chỉ dạy
rất nhiều kinh điển, nói về bổn phận của người gia chủ
trong gia đình. Trong Tăng Chi Bộ kinh Tập II quyển A có rất
nhiều kinh điển đề cập đến vấn đề này, nhưng vì bài
giảng quá dài và thời gian có hạn chúng tôi chỉ xin trích
một kinh mà thôi, tức là kinh Bốn nghiệp công đức số 61.
Đức
Phật nói với Anàthapindika (Cấp Cô Độc) có bốn pháp khả
lạc, khả hỷ, khó được ở đời. Một là được tài sản
đúng pháp, hai là được tiếng tốt đồn về mình cùng với
bà con, ba là được sống lâu, thọ mạng được kéo dài và
thứ tư là sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cỏi
trời. Đây là bốn nguyện vọng thông thường của con người
ở đời. Rồi Đức Phật dạy cho bốn phương pháp để đạt
được bốn pháp khả lạc, khả hỷ trên, tức là đầy đủ
lòng tin, đầy đủ giới, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí
tuệ. Đầy đủ lòng tin là tin ở sự giác ngộ của Như Lai.
Đầy đủ giới nghĩa là sống không sát sanh, không trộm cắp,
không tà dâm, không nói láo, không uống rượu. Đầy đủ
bố thí là sống ở gia đình, nhưng không bị gian tham chi phối,
sẳn sàng bố thí sẳn sàng để được yêu cầu, vui thích
san sẽ vật bố thí! Đầy đủ trí tuệ nghĩa là biết được
tham ái sân hận, hôn trầm thụy miên, nghi hoặc là uế nhiễm
của tâm, nên từ bỏ năm uế nhiễm ấy, như vậy được
gọi là trí tuệ, có trí tuệ rộng lớn.
Rồi
Đức Phật hướng dẫn người gia chủ tác thành bốn hành
động, với tài sản thu hoạch được, do nổ lực tinh tấn,
tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra, đúng
pháp, thâu hoạch đúng pháp. Với tài sản ấy người gia chủ
chân chánh đem lại an lạc cho mình, đem lại an lạc cho cha
mẹ, đem lại an lạc cho vợ con, cho các người phục vụ,
cho người làm công, an lạc cho các bạn bè thân hữu. Như
vậy là trường hợp thứ nhất. Người gia chủ đạt được
sự hưởng thọ đúng pháp xứ.
Lại
nữa, với tài sản ấy người gia chủ làm cho mình được
an toàn chống lại những tai họa từ lửa đến, từ nước
đến, từ vua đến, từ ăn trộm đến, từ các thừa tự
thù nghịch đến. Như vậy là trường hợp thứ hai, người
gia chủ đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.
Lại
nữa, với tài sản ấy người gia chủ tổ chức năm loại
hiến cúng, hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến
cúng cho các vong linh quá khứ, hiến cúng cho vua, hiến cúng
cho chư Thiên. Đây là trường hợp thứ ba. Người gia chủ
đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.
Lại
nữa, với tài sản ấy người gia chủ đối với những vị
Sa môn, Bà-la-môn sống từ bỏ kiêu mạn phóng dật, an trú
trên nhẫn nhục, nhu hòa nhiếp phục tự mình, an lạc tự
mình, làm lắng dịu tự mình, người gia chủ tổ chức sự
cúng dường tối thượng thuộc về cỏi trời, đem đến quả
lạc Dị Thục, đem đến Thiên giới. Đây là trường hợp
thứ tư, người gia chủ đạt đến sự hưởng thọ tối thượng.
Rồi Đức Phật kết luận: "Này gia chủ, nếu tài sản của
ai, được tiêu dùng không đúng với bốn hành động này,
những tài sản ấy được gọi là tài sản đi đến không
lợi ích, đi đến không thành đạt, đạt được sự hưởng
thọ không đúng phương xứ. Nếu những tài sản của ai, này
gia chủ, được tiêu dùng với bốn hành động này, những
tài sản ấy được gọi là những tài sản đi đến lợi
ích, đi đến thành đạt, đạt được sự hưởng thụ đúng
phương xứ. Rồi Đức Phật nói lên bài kệ:
"Tài
sản ta thọ hưởng
Gia
nhân được nuôi dưỡng
Chính
nhờ các tài sản,
Do
Ta tránh tai họa
Ta
cúng dường tối thượng,
Làm
năm loại hiến vật,
Hộ
trì bậc trì giới,
Bậc
tự điều, Phạm hạnh.
Mục
đích gì bậc trí,
Trú
nhà, cần tài sản,
Mục
đích ấy Ta đạt
Được
làm không hối hận,
Người
nào nhớ nghĩ vậy,
An
trú trên thánh pháp,
Đời
này được tán thán,
Đời
sau được hoan hỷ,
Trên
cảnh giới chư Thiên."
Trong
một kinh khác, kinh Sống chung số 53, Đức Phật dạy cho các
người gia chủ có bốn loại sống chung: "Đê tiện nam sống
chung với đê tiện nữ, đê tiện nam sống chung với thiên
nữ, thiên nam sống chung với đê tiện nữ, và thiên nam sống
chung với thiên nữ.
Và
Đức Phật định nghĩa cho chúng ta hiểu rõ thế nào là đê
tiện nam sống chung với đê tiện nữ. "Ở đây, này các gia
chủ, người chồng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh
trong dục vọng, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu, ác
giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế
xan tham chi phối.
Còn
người vợ cũng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh
trong dục vọng, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu, ác
giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế
xan tham chi phối.
"Và
này các gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với
thiên nữ?"
"Ở
đây này gia chủ, người chồng sát sanh...mắng nhiếc chửi
rủa các Sa môn, Bà-la-môn. Còn người vợ từ bỏ sát sanh,
từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm
say rượu men, rượu nấu với tâm không bị cấu uế xan tham
chi phối, không có nhiếc mắng chủi rủa các Sa môn, Bà-la-môn.
Như vậy, này các gia chủ, là đê tiện nam sống chung với
thiên nữ."
"Và
này các gia chủ, thế nào là thiên nam sống chung với một
đê tiện nữ?"
"Ở
đây, này các gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh...không
có nhiếc mắng chửi rủa các Sa môn, Bà-la-môn. Nhưng người
vợ là người sát sanh, lấy của không cho...nhiếc mắng chửa
rủa Sa môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các gia chủ, là thiên
nam sống chung với đê tiện nữ."
"Và
này các gia chủ, thế nào là thiên nam sống chung với thiên
nữ?"
"Ở
đây, này các gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh...không
nhiếc mắng chửi rủa các Sa môn, Bà-la-môn và người vợ
cũng là người không sát sanh...không nhiếc mắng chửi rủa
các Sa môn, Bà-la-môn."
"Này
các gia chủ, có bốn loại chung sống này."
*
* *
Kính
thưa quý vị,
Vì
thời giờ bị hạn chế, chúng tôi chỉ có thể trích dẫn
một số Kinh trong Tương Chi Bộ Kinh tập II quyển A để giới
thiệu phần nào nội dung của bộ Kinh này. Như chúng tôi đã
thưa trước, tập II quyển A này chỉ đề cập đến bốn
pháp mà thôi, nhưng nội dung thật quá phong phú, quá dồi dào,
khiến chúng tôi rất khó lựa chọn cho được đầy đủ.
Số kinh được đề cập là 27, nhưng Kinh nào cũng phản chiếu
trí tuệ tuyệt vời của một bậc giác ngộ, kinh nào cũng
để lại ấn tượng của Bậc Toàn Năng Toàn Trí, đã thật
sự Chánh đẳng Chánh giác thế giới, thế giới tập khởi,
thế giới đoạn diệt và con đường đưa đến thế giới
đoạn diệt. Một điều kỳ diệu nữa trong lời dạy của
Đức Phật là đối tượng thuyết pháp của Ngài không có
xa lạ gì, chính là cái thân dài mấy trăm tầm này, cái thân
gọi là năm uẩn, không phải cái thân thuộc 2525 năm về trước,
mà chính là cái thân hiện tại của chúng ta, với sắc tướng
như thế này, với cảm thụ như thế này, với tưởng tượng
như thế này, với hành như thế này, với các thức như thế
này. Chính trên cái thân có mấy tầm này, có tư tâm sở làm
chủ yếu (cetanà). Với tư tâm sở, thân làm điều ác, miệng
nói điều ác, ý nghĩ ác, thời cảnh giới địa ngục, súc
sanh hiện ra. Nếu với tư tâm sở, thân tâm điều lành miệng
nói lời lành, ý suy nghĩ lành, thời thế giới chư Thiên hiện
ra ngay trong hiện tại. Với tư tâm sở ấy, nếu chúng ta sát
sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, uống
rượu men rượu nấu, chúng ta trở thành đê tiện nam, đê
tiện nữ. Trái lại, chúng ta giữ trọn năm giới cấm, chúng
ta trở thanh thiên nam thiên nữ. Cũng chính với cái thân mấy
tầm này, chúng ta sống lành mạnh, chí thiện, hành trì bốn
thiền, hiện tại lạc trú, hướng đến tâm giải thoát, tuệ
giải thoát, thời chính cái thân này của chúng ta tỏa rộng
ra giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương,
giải thoát tri kiến hương. Lời dạy của Đức Phật chỉ
cho chúng ta rõ đâu là con đường ác cần phải từ bỏ, đâu
là con đường thiện cần phải thực hành, đâu là giới định
tuệ cần phải tu tập để hướng tiến trên con đường đạo.
Với sự giải thoát và giác ngộ của Ngài, những lời dạy
của Ngài bao giờ cũng thấm nhuần giải thoát và giác ngộ,
cũng là những sức mạnh hướng dẫn đến giác ngộ giải
thoát.
Viện
Phật Học Vạn Hạnh chúng tôi với tâm niệm đề cao và phổ
biến chánh pháp, luôn luôn cố gắng để phiên dịch Kinh Tạng
Pàli, xuất bản và phát hành dịch tạng này trong các ngày
lễ lớn, đặc biệt là ngày Phật Đản. Những Kinh tạng
này được sưu tầm và phổ biến trước khi Đạo Phật chia
thành Nam Tông và Bắc Tông, Đại Thừa và Tiểu Thừa, chứa
đựng những lời dạy thực sự nguyên thủy, không rơi vào
những chia ly của các học phái, những phát triển của Luận
Tạng.
Chúng
tôi có thể nói sự chia rẽ thành các học phái khác biệt
như Thượng Tọa Bộ, Đại Chúng Bộ, Nhất Thiết Hữu Bộ
v.v... Nam Tông, Bắc Tông v.v... bắt nguồn từ văn học Jàtaka
(Bổn Sanh), văn học Luật Tạng (Vinaya) và văn học Luận Tạng
(Abhidhamma). Do vậy Kinh Tạng (Pàli Suttanta) nay đã được thế
giới học Phật xem là những giáo lý căn bản chung cho cả
Đại Thừa và Tiểu Thừa. Phiên dịch KinhTạng Pàli và phổ
biến rộng rãi Kinh Tạng này, vừa là sự đóng góp của chúng
tôi để xây dựng một Đại Tạng Kinh Việt nam, vừa là một
cử chỉ cúng dường của chúng tôi dâng lên Chánh Pháp nhân
ngày Đại Lễ Phật Đản.
NAM
MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT