|
ĐỨC
PHẬT VÀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ
Một
lời dạy không phải là lời của Phật
Kurt
Schmidt
(bài
tiểu luận trong cuốn :“Leer ist die Welt“ (“Thế giới rỗng
không“) của Kurt Schmidt, 1953, nxb Christiani Konstanz)
Thái
Kim Lan chuyển từ Đức ngữ.
Lời
người dịch:
Tiểu
luận của Kurt Schmidt, trích trong tác phẩm “Leer ist die Welt“
(Thế giới rỗng không) của tác giả.
Tác
phẩm “Thế gìới rỗng không“ gồm 13 tiều luận về các
vần đề tôn giáo, triết học, đạo đức học, ngôn ngữ
học và lịch sử triết học liên quan đến Phật giáo của
nhà nghiên cứu Phật giáo Đức Kurt Schmidt, một trong những
người tiên phong (từ những năm 20) nghiên cứu Phật
giáo sâu sắc, nghiêm túc và trung thực tại Âu châu. Mặc
dù ngày hôm nay Phật giáo không còn xa lạ với tư tưởng
Âu châu và những nghiên cứu về Phật giáo càng ngày càng
được đào sâu và phổ biến khắp nơi trên thế giới,, những
thành quả nghiên cứu và suy tư của Kurt Schmidt vẫn là những
viên ngọc qúi cống hiến và soi sáng lời dạy của Đức
Phật và hệ thống tư duy của tư tưởng Âu châu. Tôi hi vọng
lần lược có thể trình bày những nghiên cứu khúc chiết
về tương quan giữa triết học Phật giáo và cơ cấu tư tưởng
phương Tây qua các hệ thống triết học điển hình của các
triết gia kinh điển phương Tây như I. Kant, G.W.F. Hegel, F. Nietzsche
v.v.
Theo
truyền thuyết, không lâu trước khi nhập niết bàn, Đức
Phật đã trả lời Ananda, thị giả theo hầu cận Phật nhiều
năm, khi vị này xin Phật chỉ dẫn cách đối xử cho các vị
tỳ kheo mỗi lần gặp phụ nữ . Theo truyền thuyết, lúc ấy
Phật đã dạy : “Không được nhìn !“ Trả lời câu hỏi
tiếp theo nếu trong trường hợp đã lỡ nhìn thấy ngưòi
phụ nữ rồi thì phải ứng xử như thế nào, Phật lại dạy
, cũng theo truyền thuyết : “Không được bắt chuyện !“
Trả lời câu hỏi thứ ba, các tỳ kheo phải đối xử như
thế nào, khi chẳng đặng đừng câu chuyện đã được bắt
đầu với người phụ nữ, Phật lại khuyên – cũng theo truyền
thuyết : “Hãy giữ vững tâm trí !“
Trong
kinh Đại Niết bàn, - bản kinh lớn tường thuật về giai
đoạn cuối đời và cái chết của Đức Phật có ghi đoạn
đối thoại trên. Đoạn này không thật, mà là một thêm thắt
của người đời sau. Điều đó có thể chứng minh được.
Đáng
nghi ngờ trước hết là vị trí mà ở đó cuộc đối thoại
trên được ghi lại ở trong kinh. Liền ngay trước đó là
lời tường thuật Đức Phật đã an ủi lời kêu van Ananda
rằng sau lúc nhập diệt của đấng toàn hảo các tỳ
kheo sẽ không còn có nương tựa kiết tập bằng cách nêu
lên 4 địa điểm chiêm bái, ở đó những người sùng đạo
về sau sẽ lũ lượt kéo đến : đó là nơi Đức Phật hạ
sanh, cây Bồ đề là nơi Đức Phật đã chứng ngộ chân lý,
khu rừn Isipatana (Lộc uyển) tại Banares, nơi Đức Phật
thuyết pháp lần đầu tiên và khu rừng Sala thông thọ tại
Kusinara, nơi Đức Phật nhập niết bàn – và ngay sau vị trí
nói trên là lời tường thuật về việc Đức Phật đã yêu
cầu các đệ tử của ngài không nên lo lắng về nghi lễ
tẩm táng cho ngài mà nên để cho các cư sĩ lo việc ấy. Hai
chuỗi tư tưởng trước và sau này liên kết với nhau một
cách không gượng ép, còn sự hướng dẫn của Đức Phật
về cách hành xử với phụ nữ xen vào giữa phá vỡ sự liên
hệ của hai sự kiện nói trên. Điều này đã đủ cho thấy
rằng đoạn văn về phụ nữ đã được thêm vào về sau.
Thật
thế, những sự ghi xen vào như thế được tìm ra khá nhiều
ngay chính trong kinh Đại Niết Bàn (so sánh tiểu luận về
“Lịch sử và huyền thoại trong kinh Đại Niết Bàn“ trong
quyển sách này ). Cho nên thật ra cũng không có gì lạ lùng
khi nhận định rằng những lời dạy về cách đối xử với
phụ nữ đều là những lời thêm thắt của người đời
sau đưa vào. Quả nhiên giả thuyết ấy có thể chứng minh
được từ sự khảo sát chính đoạn văn. Đoạn văn đó như
sau :
Katham
mayam bhante mâtugâme patipajjâmâti. Adassanam ânandâ ti. Dassane
bhagavâ sati katham patipajjitabbanti. Anâlâpo ânandâti. Âlapantena
pana bhante katham patipajjabbani . Satí ânandâ upatthâpetabbâti .
1.
đoạn văn bắt đầu bằng mấy chữ : “Katham mayam bhante“.
Cũng với cụm từ ấy bắt đầu đoạn văn sau, ở đó
dòng ý tưởng của đoạn văn (về bốn thánh tích) trước
đoạn về phụ nữ dược tiếp tục. Những cụm đồng âm
đều đều như thế luôn luôn đáng nghi ngờ ; nó có thể
giải thích như vầy : vào những thời trước, khi kinh
tập còn được truyền miệng từ người thầy đến học
trò, vị giáo thọ, thường là một tỳ kheo lớn tuổi, thường
đọc to đoạn văn cho học trò học thuộc lòng, lắm khi ông
ta bị cụm đồng âm thu hút, xướng to lên một câu mà ông
đã học thuộc ở đâu khác cùng với cụm từ khởi đầu
kia; cùng lúc ông ta chợt nhớ ra câu đúng của bài kinh nên
cứ việc đọc tiếp một mạch. Những học trò thì chỉ việc
nhắc lại câu xen vào không đúng chỗ mà thầy đã xướng,
giữ lại trong trí nhớ và truyền lại sau đó cho người
học trò khác, khi họ trở thành giáo thọ. Theo cách ấy mà
những lời kia có thể rơi vào vị trí đã nói ở trên.
Nhưng khả năng cũng có thể xảy ra là một vị giáo thọ,
ví dụ như Kassapa (Ca Diếp), muốn giữ đúng giáo luật một
cách nghiêm khắc quá đáng, đã cố tình thêm vào những lời
trên và gán cho đó là lời của Đức Phật, hầu tăng thêm
quyền uy cho chúng.
2.
Ngoài ra mỗi khi Ananda trình Đức Phật một câu hỏi, cụm
từ được đưa ra trong ĐNBKinh thường thường là : “Atha
kho âyasmâ ânando bhagavantam etad avoca“ – “Khi ấy trưởng
giả Ananda đã thưa với Đấng Chánh đẳng giác như vầy“.
Câu dẫn nhập này không có ở đoạn văn về phụ nữ nói
trên.
3.
Từ ngữ patipajjâma đập vào mắt. Như là thể cách hiện
tại, nó không có ý nghĩa, như là thể cách mệnh lệnh nó
lại không hợp vào trong câu hỏi. Ít nhất phải có một thể
cách tương lai : đó là patipajjissâma, nhưng đúng hơn thì nó
phải là một thuộc từ trạng từ patipajjitabbam như trong những
câu kế tiếp. Nhưng dĩ nhiên nếu như thế thì vần mayam lại
không hợp, và nếu không có từ mayam thì người ta đã không
thể đưa đoạn văn nói trên vào một cách dễ dàng như thế.
4.
Trong kinh Đại Niết Bàn Ananda bạch Phật với chữ bhante có
nghĩa là “Ông, Ngài“, nhưng trong đoạn này lại có chữ
vocativ (xưng tụng) : bhagavâ “đấng chí tôn“. Cách tôn xưng
này không tìm thấy trong toàn Kinh DNB ngoài đoạn nói trên.
5.
Từ âlapentena là một dụng từ (Intrumentalis) trong lúc ở đây
là phải có một thuộc từ trường sở cách (Locativ). Sự
lẫn lộn Intrumentalis với Locativ thường hay xảy ra trong tiếng
Pali trẻ hơn (tân Pali), nhưng trong tiếng Pali cổ, mà Kinh ĐNB
được ghi lại, thì lại rất hiếm hoi.
6.
Theo luật biến cách động từ (flexion) thì từ âlapantena thuộc
vào tiếng tân pali. Biến cách của phân từ hiện tại ( Partizipien
praesentis) theo thể biến cách a cũng đã thấy ở trong các
tạng kinh nhưng theo hiểu biết của tôi thì chỉ có trong thể
Chủ từ (Nominativ) hay đối tượng (accusativ). Như thế trong
ĐNB người ta chờ đợi phải đọc : âlapatâ (Instr.) hay đúng
hơn âlapati (locativ, trường sở cách)
Nếu
chỉ có một trong những điểm nghi ngờ nói trên xuất hiện
đơn lẻ thì ta còn có thể cho rằng đó chỉ là một điều
sơ suất trong sự truyền lại lời dạy của Đức Phật và
có thể bỏ qua, nhưng những điểm nghi ngờ này lại tìm thấy
toàn thể cùng một lúc ở đoạn nói trên cho ta có đủ bằng
cớ thấy được đoạn văn nói trên không thật là lời của
Phật. Đoạn văn ấy đã được một vị thuộc trường phái
chống phụ nữ và theo khổ hạnh cực đoan đem lén vào và
đã đưa vào thời điểm sau sự biên soạn kinh ĐNB một khoảng
thời gian khá lâu, khi mà ngôn ngữ Pali đã biến đổi.
Đức
Phật đã không bao giờ phát ngôn như thế. Ngài đã nói thế
nào về phái nữ, ta có thể tìm thấy trong câu kệ của 42
Bài không thuộc kinh tạng Pali mà bằng tiếng sanskrit, những
lời thật đẹp, mà Karl Seidenstuecker đã chuyển dịch từ
bản tiếng Hán trong tập “Buddhistische Evangelien“ của ông.
Những lời ấy như sau :
“Khi
nói với một người phụ nữ, hãy làm điều ấy với sự
trong sáng của con tim. Hãy tự nói với chính mình : “Ở trong
thế giới đầy phiền não này tôi muốn giống như một đoá
huệ trong sạch, không bị vây tanh mùi bùn trong đầm hoa đang
mọc. Nếu người phụ nữ là một vị già nua, hãy xem như
là mẹ. Nếu người ấy là một bà chủ nhân đáng kính, hãy
đối xử như một bà chị. Nếu là một người xuất thân
thấp kém, hãy xem họ như là em gái của mình. Nếu người
phụ nữ còn ngây thơ trẻ con, hãy đối xử tế nhị và lịch
sự“
Đây
mới chính là - dù không hoàn toàn đúng theo từng chữ, nhưng
chắc chắn theo đúng với tinh thần - những lời dạy đích
thực của Đức Phật.
Thái
Kim Lan dịch Việt
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 05-2004
Down
Load " Word Document" (WinZip File 291 KB)
(Hạ
Tải Đem Về Nhà Để Xem Sau hay In ra Giấy)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân

|