Những
Vấn Ðề Chung Quanh Danh Hiệu
Bồ
Tát Quán Thế Âm
GS.TS
Chun Fang Yu
Tâm
Hà Lê Công Ða chuyển ngữ
LND.
Một trong những phương pháp nghiên cứu mới nhất do Daniel
Overmyer đề xướng (1998) trong lãnh vực khoa học nhân văn
hiện đang được các nhà học giả áp dụng được gọi là
« THF » (Text, History & Field Work), tức là phối hợp sử
dụng các sử liệu và văn bản kèm theo với việc đi khảo
sát thực tế. Áp dụng phương pháp này, và xem đó như là
một phương cách hữu hiệu trong việc nghiên cứu lịch sử
tôn giáo Trung Quốc, GS/TS. Chun Fang Yu (Vu Phương Quân), Khoa
Trưởng Phân Khoa Tôn Giáo Ðại Học The State University of New
Jersey, HK, trong một tác phẩm mới nhất của bà, nhan đề
« Quán Âm » đã cống hiến cho chúng ta một công trình nghiên
cứu xuất sắc và đầy đủ nhất từ trước đến nay liên
quan đến Bồ Tát Quán Thế Âm.
Ðây
là một phần trong chương Hai của tác phẩm nói trên. Sau khi
điểm qua những danh hiệu của Bồ Tát và căn cứ vào những
sử liệu, kinh điển còn tồn tại, tác giả đã lý giải
cho ta biết nguồn gốc, xuất xứ, tiến trình chuyển hóa và
ý nghĩa của danh hiệu Quán Thế Âm, một vị Bồ Tát đã
chiếm trọn vẹn cảm tình cũng như được sự sùng bái của
hàng trăm triệu người trong vùng Tây Á -cả trong lẫn ngoài
Phật giáo. Trân trọng giới thiệu cùng độc giả và qúy
đạo hữu, những người yêu thích Bồ Tát Quán Thế Âm, một
trích đoạn trong tác phẩm nói trên. Tiêu đề phần này là
của người dịch. LCD.
Người
Trung Hoa có thể đã không biết đến Bồ Tát Quán Thế Âm
nếu như kinh điển của Phật giáo đã không được dịch
qua Hán văn. Kinh điển vì thế được xem như là phương tiện
đầu tiên mà từ đó tín ngưỡng thờ phượng Quán Âm được
xây dựng và chuyển hóa. Thế nhưng cho dù tính cách quan trọng
của kinh điển thường được giới Phật tử ưu tú xem như
khuôn vàng thước ngọc, quả là một điều ngây thơ nếu
cho rằng tất cả kinh văn đều được các Phật tử thuần
thành nghiên cứu đọc qua hoặc bất cứ những gì vạch ra
trong kinh điển đều được tất cả mọi tín đồ hoàn toàn
tuân thủ. Khi nghiên cứu Phật giáo một cách tổng quát, hay
cụ thể hơn đối với trường hợp Bồ Tát Quán Thế Âm,
chúng ta phải để ý đồng đều đến hai khía cạnh, một
bên là bức tranh lý tưởng xuất hiện trong sách vở, một
bên là mặt thực tế của quần chúng đang thực hành được
minh họa bởi những khắc họa, lịch sử mỹ thuật, lễ nghi
tế tự cũng như trong văn chương nghệ thuật. Gregory Schopen
đã từng nêu rõ rằng, khi những nhà nghiên cứu về Phật
giáo (cũng như nghiên cứu về tôn giáo nói chung) chỉ hoàn
toàn dựa vào kinh điển, kết quả thường là méo mó nếu
không nói là hoàn toàn sai lạc (1). Trên một bình diện khác,
chỉ khi nào chúng ta biết được Bồ Tát Quán Âm đã được
trình bày như thế nào trong kinh điển nguyên thủy chúng ta
mới đánh giá đúng mức tiến trình chuyển hóa đặc biệt
mà vị Bồ Tát này đã trãi qua tại Trung quốc. Bằng vào
việc khảo sát kỷ lưỡng những khoảng cách giữa một Quán
Âm Trung hoa và hình ảnh ban đầu của Ngài trong kinh điển
ta mới có thể có được những hiểu biết một cách tường
tận về vị Bồ Tát này.
Ðã
có một số lượng khá lớn kinh sách Phật giáo nói về Bồ
Tát Quán Âm. Cụ thể như học giả Hậu Ðằng Ðại Dụng
(Goto Daiyo) đã liệt kê ra khoảng hơn 80 bộ kinh trong đó có
sự xuất hiện của Bồ Tát (2). Danh sách này không phải ngưng
lại ở đây bởi vì chỉ nội những kinh điển Mật tông
liên quan đến Bồ Tát cũng đã lên tới 88, chiếm hết 506
trang trong bộ Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng Kinh (Taisho, vol.
20), bộ Tam Tạng kinh điển Trung quốc ấn bản mới nhất
được in tại Nhật bản vào năm 1922-23. Khi chúng ta khảo
sát những kinh điển này, một điều rất dễ nhận ra là
vai trò của Bồ Tát không phải lúc nào cũng đồng nhất,
giống nhau.
Những
vai trò của Avalokitesvara rất đa dạng, từ một nhân vật
khiêm nhường trong đoàn tùy tùng thị giả bao quanh Ðức Phật
Thích Ca đến một ngôi sao độc chiếm trên bầu trời riêng
rẻ như là một đấng cứu rỗi toàn năng. Những khuôn mặt
của Bồ Tát trong kinh điển, cũng như trong mỹ thuật và các
phương tiện thể hiện khác đã nói lên những tiếng nói
khác nhau, đa năng và đa diện. Từ khiêm nhường đến quan
trọng, ta có thể liệt kê ra bốn vai trò chính như sau:
(1)
như là một nhân vật mờ nhạt trong phối cảnh;
(2)
vị thị giả chính và là vị Phật tương lai kế vị Phật
Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang (A Di Ðà);
(3)
người tiết lộ những phương thức cứu độ hiệu quả thông
qua việc niệm danh hiệu của Bồ Tát hoặc nói ra những câu
thần chú đặc biệt do yêu cầu của Ðức Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni, Bồ Tát đã nổi bật như một nhân vật chuyên giải
cứu khổ nạn và đôi khi còn được biết đến như là một
vị Phật quá khứ.
(4)
một linh thần độc lập chuyên cứu khổ cứu nạn.
Mặc
dù các vai trò 2, 3 và 4 đều xuất hiện tại Trung Quốc (vai
trò 1 không được chú ý đến) nhưng chỉ có vai trò 4 là
đóng vai tuồng chủ yếu. Những vai trò khác nhau mà Bồ Tát
Avalokitesvara thể hiện trong kinh điển có thể đã phản ảnh
tầm vóc quan trọng của Bồ Tát ngày càng gia tăng. Mặt khác
chúng cũng có thể đã phản ảnh những khuynh hướng của
các truyền thống giáo phái khác nhau tôn thờ Bồ Tát. Người
ta thấy có ít nhất ba khuynh hướng tín ngưỡng khác biệt:
Tôn thờ Bồ Tát như là một nhân vật Ðại Từ Ðại Bi chuyên
cứu độ chúng sanh được thể hiện qua kinh Pháp Hoa; xem ngài
như là vị thị giả chính của Phật A Di Ðà trong các kinh
sách Tịnh Ðộ; là vị thánh giả có quan hệ với hòn đảo
thánh địa Bồ Ðà Lạc Ca (Potalaka) trong huyền thoại Phật
giáo được đề cập đến trong kinh Hoa Nghiêm. Ba truyền thống
tín ngưỡng này đã hoàn toàn phát triển độc lập với nhau.
Trong các kinh điển Mật tông, đảo Bồ Ðà Lạc Ca được
mô tả như là nơi trụ xứ của Bồ Tát Avalokitesvara.
Trong
khi nghiên cứu các kinh điển, tôi đã sử dụng phương pháp
phân loại học dựa vào sự gia tăng tầm mức quan trọng của
Bồ Tát thay vì liệt kê và đặt chúng phụ thuộc vào các
truyền thống tông phái Phật giáo Trung Quốc chẳng hạn như
kinh Pháp Hoa với Thiên Thai tông, kinh Hoa Nghiêm với Hoa Nghiêm
tông, kinh Vô Lượng Thọ và Quán Vô Lượng thọ kinh với
Tịnh Ðộ tông, hoặc Tâm Kinh và Thủ Lăng Nghiêm với Thiền
Tông. Mặc dù nếu chúng ta liệt kê theo hình thức này có
thể là một bằng chứng cho thấy rằng Quán Âm Bồ Tát đã
được tôn thờ bởi hầu hết các tông phái chính của Phật
giáo Trung Quốc, tuy nhiên không phải là không có lý do cho
thấy tại sao đây không phải là cách thức xếp loại tốt.
Trước tiên bởi vì trong khi những kinh sách này được kể
như là những kinh điển cơ bản của các tông phái đó, giới
tăng sĩ Trung quốc –chưa kể đến những Phật tử bình thường-
đã không hề học tập kinh điển gắn liền với tông phái
của họ. Những kinh điển này cùng với một số kinh điển
Mật tông khác đã được ưa chuộng bởi tất cả những người
sùng mộ Quán Âm không phân biệt tông phái, thế cho nên quả
là điều gượng ép vô nghĩa khi cột chúng vào một sự phân
chia giả tạo. Hơn thế nữa, như đã trình bày trước đây,
khuynh hướng tổng hợp các tông phái khác biệt ngày càng
mạnh mẽ kể từ thời Tống trở đi, bởi vậy tốt nhất
là ta không nên áp đặt một sự phân chia tông phái triệt
để theo mô hình Nhật Bản đối với thực tế Trung Quốc
(3).
Phương
pháp phân loại học ở đây đặt căn bản trên vị trí và
vai trò của Bồ Tát. Nó giúp cho ta hiểu được lý do tại
sao người Trung quốc đã lựa chọn và đặt trọng tâm trên
một số kinh điển đặc biệt nào đó, bởi vì những kinh
điển này trước tiên đã làm nổi bật vai trò trung tâm của
Bồ Tát Quán Âm như là một nhân vật cứu khổ cứu nạn.
Trong khi quan tâm đến những vai tuồng khác biệt của Bồ
Tát tôi đồng thời cũng lưu ý đến những danh hiệu và hình
tướng của Ngài đã được mô tả trong những kinh sách này.
Bồ
Tát Quán Âm
Nhân
Vật Trong Ðoàn Tuỳ Tùng Thị Giả của Ðức Phật.
Một
trong những bộ kinh sớm nhất đề cập đến Bồ Tát dưới
danh hiệu Quán Âm là “Thành Thủ Quang Minh Ðịnh Ý Kinh”,
một cuốn kinh trong hệ Bát Nhã do ngài Chi Diệu dịch ra Hán
Văn vào năm 185. Bồ Tát Quán Âm là người cuối cùng trong
số ba mươi vị Bồ Tát được gọi là “minh sĩ” (4). Ðây
là một trong những cuốn kinh được dịch ra Hán văn sớm
nhất, chưa đầy 40 năm sau khi nhà sư người An Tức, An Thế
Cao, đến Lạc Dương vào năm 148 thực sự mở đầu phong trào
truyền pháp vào Trung Hoa (5). Phải nói rằng người khai sơn
phá thạch đóng góp công đầu trong việc dịch thuật kinh
điển từ Phạn ngữ qua Hán văn là ngài Chi Ca Lâu
Sấm (Lokaksema), sống cùng thời với ngài Chi Diệu. Trong số
những bộ kinh này, nhà học giả chuyên nghiên cứu về công
trình dịch thuật của Chi Ca Lâu Sấm, Paul Harrison (1993), hiện
nay chỉ chấp nhận chín bộ kinh là xác thực. Khi nghiên cứu
những cuốn kinh này, người ta khám phá ra một điều khá
thích thú là: Bồ Tát Avalokitesvara đã không hề thấy xuất
hiện trong bất cứ cuốn kinh nào, dù chỉ đóng một vai trò
rất khiêm nhượng. Hầu như Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi và thỉnh
thoảng Di Lặc Bồ Tát thường là vị thượng thủ dẫn đầu
những Bồ Tát tham dự pháp hội. Cũng chẳng có gì là khó
hiểu tại sao Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi mà không phải Bồ Tát
Avalokitesvara được nhắc nhở đến, vì tất cả những cuốn
kinh này đều thuộc hệ Bát Nhã vốn xem trọng trí tuệ mà
Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là đại biểu trong khi Bồ Tát Avalokitesvara
là đại biểu của từ bi. Avalokitesvara được gọi là Khuy
Âm trong kinh Ugrapariprccha (6) do nhà dịch giả người An Tức,
An Huyền (ca.180). Trong kinh Duy Ma Cật do cư sĩ Chi Khiêm dịch
(ca. 220-252) cũng gọi ngài bằng một danh xưng tương tự (7).
Trong hai cuốn kinh này, Bồ Tát Avalokitesvara đã xuất hiện
cùng với khoảng năm mươi vị Bồ Tát khác. Và rồi Ngài
đóng một vai trò quan trọng hơn khi cùng với Bồ Tát Ðại
Thế Chí trở thành hai vị Bồ Tát hàng đầu được nói đến
trong các kinh điển về cõi Tây Phương Cực Lạc của vị
Phật Ðại Thừa, A Di Ðà, cụ thể là trong cuốn kinh Vô Lượng
Thọ Phật với đoạn văn liên hệ nói về Bồ Tát Avalokitesvara
như sau:
Có
hai Bồ Tát tối tôn đệ nhứt oai thần quang minh chiếu khắp
cõi Ðại Thiên.
-
Bạch đức Thế Tôn Hai Bồ Tát ấy danh hiệu là gì?
-
Nầy A Nan! Bồ Tát thứ nhứt hiệu là Quán Thế Âm, Bồ Tát
thứ hai hiệu là Ðại Thế Chí. Hai Bồ Tát ấy ở cõi nước
Ta Bà nầy tu Bồ Tát hạnh, lúc mạng chung chuyển sanh về
nước An Lạc.
-
Nầy A Nan! Có chúng sanh nào sanh về nước An Lạc, thân của
họ đều đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, thành mãn trí
huệ thâm nhập diệu pháp, thần thông vô ngại, các căn sáng
suốt mau lẹ. Người căn trí chậm lụt nhứt thì thành tựu
hai pháp nhẫn. Người căn trí lanh lợi thì được vô lượng
vô sanh pháp nhẫn.
Hán
dịch: Tào Nguỵ, Pháp Sư Khương Tăng Khải
Việt
dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Ðây
là một trong những cuốn kinh Ðại Thừa được dịch sang
Hán Văn sớm nhất. Cuốn kinh này đã được dịch cả thảy
12 lần trong đó năm dịch bản vẫn còn tồn tại cho đến
ngày nay. Dịch giả của những bản văn này đến nay vẫn
còn là nguồn tranh cãi (8). Trong số những bản văn còn tồn
tại, bản dịch sớm nhất được xem như là của Ngài Chi
Ca Lâu Sấm với tựa đề Phật Thuyết Vô Lượng Thanh Tịnh
Bình Ðẳng Giác Kinh (9) trong đó Quán Âm và Thế Chí luôn
luôn là hai vị Bồ Tát thị giả của Ðức Phật A Di Ðà
có năng lực hóa hiện khắp mười phương cõi Phật. Kinh này
không nhấn mạnh đến biểu tượng ánh sáng nhưng tuyên xưng
rằng, “Ngay trong thế gian, nếu các thiện nam và các thiện
nữ, gặp lúc cấp nạn, rơi vào khủng bố, quay về nương
tựa, Bồ Tát Quán Âm, đều được giải thoát”. Tuy
nhiên trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh, mà bản dịch
theo truyền thống cho là của ngài Khang Tăng Ngãi người nước
Khang Cư vào năm 252 (10) đã đề cập đến vầng hào quang
oai nghiêm của hai vị Bồ Tát này với “oai thần quang minh,
chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới.” Năm 1160, một
tín đồ thuần thành của Tịnh Ðộ tông, cư sĩ Vương
Nhật Hưu, đã kết tập bộ Ðại A Di Ðà Kinh bao gồm tất
cả những kinh điển Hán tạng liên quan, trong đó cũng đã
nhấn mạnh đến vầng hào quang và năng lực cứu độ của
Bồ Tát:
Phật
A Di Ðà cùng tất cả hàng Bồ Tát và Thanh Văn trong cõi nước
Tịnh Ðộ từ trên đỉnh đầu phóng quang đến khắp mọi
hướng. Các chúng Thanh Văn trong cõi Phật ấy, ánh sáng nơi
mình phóng xa bảy trượng còn các Bồ Tát có thể phóng
quang đến vô số hàng vạn ức do tuần. Trong số này có hai
vị Bồ Tát tôn qúy vào bậc nhất. Một vị là Quán Thế
Âm và vị kia là Ðại Thế Chí luôn luôn kế cận Ðức Phật
và đỡ đần ngài trong mọi công việc. Phật A Di Ðà và hai
vị Bồ Tát cùng bàn bạc mọi chuyện hiện tại và tương
lai của quốc độ mười phương thế giới. Khi Ðức Phật
muốn sai phái họ đến các cõi Phật khác, các Ngài có thể
ứng hiện đến đó ngay lập tức bằng đôi chân thần kỳ
như là của một vị Phật. Các Ngài cũng có thể phân thân
hóa hiện đến cõi Ta Bà này để độ chúng. Mặc dầu các
Ngài hiện diện ở đây thế nhưng không bao giờ vắng mặt
ở cõi Tây phương Tịnh Ðộ.
Nguồn
cảm hứng từ cuốn kinh này đã được phản ánh ngay vào
mỹ thuật. Một trong những bức tượng Tây phương Tam Thánh
sớm nhất có niên đại vào khoảng 420C.E. đã được tìm
thấy tại hang động 169 Bỉnh Linh Tự, Tây bộ Cam Túc. Danh
hiệu của các vị Bồ Tát đã được khắc rõ ràng trên vòng
khung trang trí. Trong hình người ta thấy Bồ Tát Quán
Thế Âm đứng ở bên trái của Phật A Di Ðà trên tay cầm
một bông sen đang nở. Ðiều này là một minh chứng cho sự
khởi đầu của tín ngưỡng Tịnh Ðộ tại Trung Quốc. Ðược
cổ vũ nồng nhiệt bởi đại sư Huệ Viễn (344-416), nguồn
cảm hứng Tịnh Ðộ đã bắt đầu được phản ánh qua mỹ
thuật thể hiện niềm tin vào cả Phật A Di Ðà, Bồ Tát Quán
Âm cũng như cảnh giới tuyệt vời của Tây Phương Tịnh Ðộ.
Một văn bia được khai quật tại tu viện Vạn Phật, thuộc
địa phận Thành Ðô tỉnh Tứ Xuyên không xác định niên
đại nhưng được tìm thấy cùng với những văn bia khác có
niên đại trong khoảng từ 530 đến 580 C.E., mặt trước khắc
họa hình hai vị Bồ Tát mà chiếc đầu đã bị hư bể (có
thể là Quán Âm và Thế Chí, hai vị thị giả của Phật A
Di Ðà) và mặt sau ngay trung tâm là hình Phật A Di Ðà, trong
đó cảnh giới Tịnh Ðộ được thể hiện bằng một hoa
viên với những con sông đào tượng trưng cho ao tái sanh nơi
mà những người sanh về cảnh giới Tây phương đang bơi lội
giữa những bông sen đang hé nở. Khoảng chừng năm mươi năm
sau, cũng chung nguồn cảm hứng tái sanh về Tây phương Tịnh
Ðộ đã đưa đến những sáng tạo nghệ thuật tương tự
tại miền Bắc, cụ thể là tại hang động số 2, phía
nam Thưởng Ðường Sơn dưới thời Bắc Tề (550-577) cũng
đã khắc họa một cảnh tượng tái sanh vào Tịnh Ðộ tương
tự như tại Tứ Xuyên (11). Những tranh khắc họa về cảnh
giới Tịnh Ðộ và Tây Phương Tam Thánh đã trở thành những
đề tài chính của mỹ thuật Trung hoa trong những thời kỳ
tiếp theo sau đó.
BỒ
TÁT QUÁN ÂM,
VỊ
PHẬT TƯƠNG LAI KẾ VỊ PHẬT A DI ÐÀ
Một
vài kinh điển Hán tạng trong thời kỳ sơ khởi đều chia
xẻ một chủ đề chính là Bồ Tát Quán Âm được Phật thọ
ký trở thành một vị Phật tương lai. Hai trong số những
cuốn kinh này nay đã không còn tồn tại nhưng căn cứ vào
tiêu đề, người ta thấy có nội dung tương tự như trong
Quán Thế Âm Bồ Tát Thọ Ký Kinh, do nhà sư người nước
Vu Ðiền, Dharmodgata, dịch vào năm 453 (12). Trong cuốn kinh này
Ðức Thích Ca Mâu Ni đã tiết lộ rằng vào thời quá khứ
xa xưa Ngài là một vua sống dưới thời một vị Phật mà
cõi Phật này còn bao la rộng lớn hơn là của Phật A Di Ðà.
Trong khi nhà vua đang thiền định ở trong vườn thượng uyển
rồi nhập vào tam muội thì hai cành sen mọc lên từ lòng đất
vươn dài đến hai bên tả hữu của vua và hai đồng nam được
sinh ra từ những đóa sen này. Một người là Quán Âm và người
kia là Thế Chí. Sau khi Ðức Phật A Di Ðà nhập niết bàn
và cũng là lúc chấm dứt thời kỳ Chánh Pháp, Bồ Tát Quán
Âm sẽ thành Phật hiệu là Phổ Quang Công Ðức Sơn Vương
Như Lai (13). Trong kinh Bi Hoa (Karuna Pundarika Sutra) do ngài Ðàm
Vô Sấm dịch vào khoảng năm 414-426 cũng kể lại một câu
chuyện tương tự. Ở đây, Quán Thế Âm nguyên là Thái tử
trong số một ngàn hoàng tử, con của một vị chuyển luân
thánh vương. Nhưng rồi Ngài đã phát hạnh nguyện Bồ Tát
với vị Phật Bảo Tạng và được thọ ký trở thành vị
Phật kế tục Phật A Di Ðà mang cùng một danh hiệu tương
tự như trên (Quang Minh Công Ðức Sơn Vương Như Lai) (14).
Mối
liên hệ giữa Phật A Di Ðà và Bồ Tát được trình bày trong
những kinh điển này phảng phất mối quan hệ thế tập trong
chế độ quân chủ hay cụ thể hơn, mối quan hệ huyết thống
giữa cha và con. Chính màu sắc vương giả và liên hệ huyết
thống này đã gây ấn tượng mạnh mẽ và rất phù hợp với
cảm quan của người Trung Hoa, thế cho nên một trong những
cuốn kinh do người bản địa sáng tác sớm nhất, Quán Thế
Âm Bồ Tát Vãng Sanh Tịnh Ðộ Bổn Nguyện Kinh, đã được
xây dựng chung quanh chủ đề này. Ðược đề cập đến trong
cuốn Mục Lục kết tập vào khoảng năm 265-316 với dịch
giả khuyết danh, cuốn kinh này đã giới thiệu hình ảnh Ðức
Thích Ca Mâu Ni như là người cha, và A Di Ðà là mẹ cùng hai
người con trai là Quán Thế Âm và Ðại Thế Chí. Tô đậm
chung quanh những tình tiết liên quan đến cái chết đau thương
của người mẹ hiền và sự đối xử độc ác của người
kế mẫu, câu chuyện đã nói lên một nhận thức khá độc
đáo của người bản địa về mối liên hệ giữa những
nhân vật trung tâm trong các kinh điển Phật giáo.
Quán
Âm và Quán Thế Âm do đó là những danh hiệu được dùng
luân phiên trong những dịch bản kinh điển sớm nhất. Một
số các nhà học giả trong đó có Ðinh Phước Bảo (1874-1952)
cho rằng Quán Âm là một danh xưng rút gọn của Quán Thế
Âm chỉ được dùng dưới triều đại nhà Ðường để tránh
phạm húy vì tên tộc của Hoàng đế Ðường Thái Tông (627-649)
là Lý Thế Dân (15). Ðiều này rõ ràng là không có cơ sở
bởi vì trong thực tế danh hiệu Quán Âm đã xuất hiện trước
cả Quán Thế Âm và danh hiệu này đã trở nên nổi tiếng
khi được ngài Cưu Ma La Thập dùng trong bản dịch kinh Pháp
Hoa vào năm 406. Trong tất cả những kinh điển ban đầu này,
người ta không thấy đề cập đến hình tướng dung mạo
cũng như ý nghĩa về danh hiệu của Bồ Tát. Về điểm sau,
chúng ta cần đi sâu vào kinh Pháp Hoa để tìm những lý giải.
BỒ
TÁT QUÁN ÂM
Vị
Bồ Tát Chuyên Cứu Khổ Cứu Nạn
Một
trong những bộ kinh quan trọng tuyên xưng vai trò của Bồ Tát
Quán Âm là kinh Pháp Hoa. Bộ kinh này đã được dịch sang
Hán văn cả thảy sáu lần trong đó ba dịch bản vẫn còn
tồn tại đến bây giờ. Năm 1992 nhà học giả Nhật Bản
Karashima Seishi đã đem đối chiếu những bản dịch Hán Văn
này với nguyên bản Phạn ngữ và những bản dịch Tạng văn.
Bản dịch đầu tiên là của ngài Ðàm Ma La Sát, người xứ
Nhục Chi, vào năm 286 mang tựa đề là Chánh Pháp Hoa Kinh. Phẩm
thứ 23 của bộ kinh này có tên là Phổ Môn dành riêng để
nói về Bồ Tát Avalokitesvara, dưới danh hiệu là Quang Thế
Âm (Abhalokasvara). Ðây là vị Bồ Tát chuyên cứu khổ ban vui,
có năng lực cứu vớt con người ra khỏi bảy khổ nạn, giải
phóng họ ra khỏi tam độc tham, sân, si cũng như giúp những
người sinh đẻ hiếm muộn được toại nguyện khi muốn cầu
xin con trai hay con gái. Sau đây là đoạn kinh văn liên hệ đến
danh hiệu Bồ Tát:
Phật
bảo ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát: " Nếu có chúng sanh đối diện
với vô lượng trăm nghìn muôn ức các khổ não, hoạn nạn,
nghe đến danh hiệu Quang-Thế-Âm Bồ-Tát tức thì liền được
giải thoát, xa rời mọi khổ nạn. Do nhân duyên đó mà gọi
là Quang-Thế-Âm.
Nếu
có người nhớ tưởng đến danh hiệu Quang-Thế-Âm Bồ-Tát
này, dầu rớt vào trong biển lửa lớn, phủ trùm hết thảy
đồi núi ruộng đồng, đốt cháy hết rừng bụi, nhà cửa,
ngọn lửa kia sẽ chẳng cháy được khi y nghe đến danh hiệu
Bồ-Tát Quang Thế Âm.
Nếu
có người đi vào sông lớn, đang kinh hoàng trước giòng cuồng
lưu chảy xiết, khi niệm đến danh hiệu Quang Thế Âm này
và nhất tâm tìm về nương tựa vào Bồ Tát, năng lực siêu
phàm của Ngài liền cứu giúp cho khỏi chìm đắm và đưa
đến nơi chốn an toàn.
Nếu
có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm san-hô, hổ-phách,
trân châu các thứ báu… vào trong biển lớn, giả sử gió
lớn thổi ghe thuyền của kia sắp bị nhận chìm bởi quỉ
La-sát, trong ấy nếu có nhẫn đến một người thầm nghĩ
đến năng lực của Bồ Tát và xưng danh hiệu của Ngài, thì
các người đó đều được thoát nạn. (Ðoạn tiếp theo mô
tả năng lực của Bồ Tát cứu độ con người ra khỏi các
ác nạn: Gió bảo, khí giới, quỷ mị, tù đày, và đạo tặc,
tất cả đều do niệm đến danh hiệu của Bồ Tát).
Cảnh
giới của Quang Thế Âm là vô cùng vô tận vì ở đó có đầy
đủ năng lực siêu phàm của Bồ Tát. Bởi Ngài tràn đầy
ánh sáng (quang), do nhân duyên đó mà có tên gọi là Quang Thế
Âm. (16).
Bản
dịch Pháp Hoa đầu tiên này đã cho thấy một điều rất
rõ rằng, nghe và niệm đến danh hiệu của Bồ Tát là lý
do chính để những người tin vào Ngài sẽ được cứu độ
và vì Bồ Tát có liên hệ rất mật thiết với ánh sáng,
thế nên Ngài đã được gọi là “Quang Thế Âm”. John Holt
trong “Buddha in the Crown” đã đưa ra nhận xét rằng, một
trong những nét đặc trưng nổi bật trong các kinh điển nói
về Bồ Tát Avalokitesvara là biểu tượng ánh sáng (1991:31-34).
Mối quan hệ giữa Bồ Tát và “âm thanh” đã không được
đề cập đến. Honda Yoshihide đã đưa ra một luận cứ khả
tín rằng danh hiệu Quang Thế Âm có ý nghĩa tương tự như
“Tiên Âm Sanh”. Ðây là danh hiệu của một vị Bồ Tát
tương ứng với Bồ Tát Avalokitesvara trong Phóng Quang Bát Nhã
kinh (17) do nhà sư xứ Vu Ðiền, Vô La Xoa (Moksala), dịch vào
năm 291, năm năm sau bộ Chánh Pháp Hoa kinh. Trong cả hai bộ
kinh đều có đề cập đến việc Bồ Tát phóng quang hoặc
giải thoát thế gian thông qua ngôn ngữ hoặc âm thanh vi diệu.
Âm thanh mang năng lực giải thoát là một phẩm chất đặc
biệt của Bồ Tát không phải là loại “âm thanh” thông
thường thốt ra bởi những than thở khổ đau của nhân
thế. (18)
Bản
dịch kế tiếp còn được lưu hành hiện nay là của ngài
Cưu Ma La Thập, nhà dịch giả nổi tiếng người nước Khâu
Tư mang tên là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, được hoàn tất vào
năm 406. Bản kinh này cùng với một bản dịch thứ ba có tựa
đề Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh do Ngài Xà La Quật
Ða (Jnanagupta) và Ðạt Ma Cấp Ða (Dharmagupta) dịch vào năm
601 đã trình bày một cái nhìn khác biệt so với bản dịch
cũ. Hai bản dịch sau này đã trở thành cơ sở diễn giải
chính thống về danh hiệu của Bồ Tát trong khắp vùng Tây
Á. Trong cả hai bản dịch, danh hiệu của Bồ Tát được gọi
là Quán Thế Âm. Phẩm Phổ Môn là phẩm thứ 25 trong bản
dịch của Cưu Ma La Thập còn bản dịch của Xà La Quật Ða
và Ðạt Ma Cấp Ða thì thuộc phẩm thứ 24. Nguyên thủy cả
hai bản dịch của ngài Ðàm Ma La Sát và Cưu Ma La Thập đều
không có phần Kệ Tụng ở cuối kinh duy chỉ có bản dịch
của Ngài Xà La Quật Ða và Ðạt Ma Cấp Ða là có phần này.
Trong ba cuốn kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì bản dịch của ngài
Cưu Ma La Thập là phổ thông nhất tại Trung quốc, do đó sau
này người ta đã thêm vào phần Kệ Tụng. Trong bản kinh này
khi Bồ Tát Vô Tận Ý hỏi Phật lý do tại sao Bồ Tát Quán
Thế Âm lại mang danh hiệu như thế, Phật đã trả lời: “Thiện-nam-tử!
Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các
khổ não, nghe Quán-Thế-Âm Bồ-Tát này một lòng xưng danh.
Quán-Thế-Âm Bồ-Tát tức thì xem xét tiếng tăm kia, đều
được giải thoát.” (Watson 1993:298-99- Bản Việt dịch của
HT Thích Trí Tịnh, Phẩm Phổ Môn). Trong bản kinh này đã nêu
lên một yêu cầu duy nhất cho một người muốn được cứu
vớt là chỉ cần xưng danh hiệu của Bồ Tát. Câu văn cốt
lõi được viết bằng chữ in nghiêng ở trên đã không có
trong bản dịch của ngài Ðàm Ma La Sát: Bồ Tát xem xét, lắng
nghe hoặc nhận ra âm thanh thốt ra bởi những người niệm
danh hiệu của Ngài. Danh hiệu “Quán Thế Âm” như vậy đã
mang một ý nghĩa khá rõ ràng.
Những
nhà chú giải Trung Hoa đã lý giải danh hiệu của Bồ Tát
bằng cách nhấn mạnh đến sự liên hệ giữa khả năng quán
xét, nhận biết với những âm thanh kêu cầu đến danh hiệu
Ngài của những tín đồ. Tăng Triệu (374-414) một môn đệ
hàng đầu của ngài Cưu Ma La Thập, trong “Chú Giải về Kinh
Duy Ma Cật” đã viết: “Ngài Cưu Ma La Thập nói rằng bất
cứ ai đối diện với hiểm nguy, họ nên trì niệm danh hiệu
và nương tựa vào Bồ Tát Quán Thế Âm. Khi Bồ Tát nghe được
tiếng kêu, người đó sẽ được giải thoát. Bồ Tát còn
được gọi là Quán Thế Niên hay Quán Tự Tại” (19). Một
điểm đáng lưu ý là ngài Cưu Ma La Thập đã biết đến danh
hiệu Quán Tự Tại, tuy nhiên trong bản dịch kinh Pháp Hoa đã
không hề sử dụng đến danh hiệu này. Ðại sư Cát Tạng
(549-629), người sáng lập Tam Luận Tôn khi chú giải về kinh
Diệu Pháp Liên Hoa đã đưa ra lời giải thích về danh hiệu
Quán Thế Âm như sau: “Quán là trí tuệ có khả năng
xem xét nhận biết và Thế Âm là cảnh giới được nhận
biết. Khi cảnh giới và trí tuệ nhập làm một, ta có danh
hiệu Quán Thế Âm” (20). Ngài đồng thời cũng lập lại
lời giảng của ngài Pháp Vân (467-529) trước đây khi chú
giải về kinh Diệu Pháp Liên Hoa đã lý giải danh hiệu của
Bồ Tát qua bốn điểm: “Quán Thế Âm có thể được hiểu
theo bốn ý nghĩa. Trước tiên là Quán Thế Âm, có nghĩa là
Ngài giải thoát khỏi khổ nạn khi quán xét tiếng kêu cầu
của thế gian. Thứ hai là Quán Thế Thân có nghĩa là Ngài
giải thoát khi quán xét thân nghiệp của chúng sanh. Thứ ba
là Quán Thế Ý có nghĩa là Ngài giải thoát khi quán xét ý
nghiệp của chúng sanh. Thứ tư là Quán Thế Nghiệp, bao gồm
tất cả ba danh hiệu trên. Nếu bạn hỏi tôi tại sao chỉ
dùng có mỗi danh hiệu Quán Thế Âm, thưa bạn, tạo khẩu
nghiệp là điều quá dễ dàng nhưng thực hành các hạnh lành
bằng thân và ý là điều khó. Hơn thế nữa, trong cõi Ta Bà
này, chúng ta kính ngưỡng Ðức Bổn Sư bằng âm thanh tiếng
nói của mình. Ðó là lý do tại sao Quán Thế Âm trở thành
danh hiệu chính thức.” (21).
Quán
Vô Lượng Thọ Phật Kinh được coi như là một trong ba bộ
kinh cốt tủy của tông phái Tịnh Ðộ (cùng với Phật Thuyết
Vô Lượng Thọ Kinh –còn gọi là Ðại Kinh, Phật Thuyết
A Di Ðà kinh-còn gọi là Tiểu Kinh). Một trong những bản dịch
của bộ kinh này từ lâu được coi như là do ngài Cương Lương
Da Xá (ca. 424-453), một tăng sĩ người vùng Trung Á, dịch vào
năm 430. Tuy nhiên đây là vấn đề mà các học giả đương
đại đang còn nêu lên nghi vấn. Trước tiên người ta thấy
tên tuổi của ngài Cương Lương Da Xá đã không được liệt
kê trong bộ danh mục Xuất Tam Tạng Ký Tập, kết tập bởi
Tăng Hữu (445-518) vào năm 515. Trong cuốn mục lục này
Tăng Hữu đã ghi tác giả của bộ kinh này là khuyết danh.
Một học giả nghiên cứu chuyên sâu về đề tài này, Sueki
Fumihito (22) cho biết là đã có rất nhiều ý kiến liên quan
đến nguồn gốc của bộ kinh. Mặc dù nhiều học giả tin
rằng bộ kinh này được kết tập tại Ấn Ðộ (23), nhưng
một số khác lại tin rằng nó được kết tập tại Trung
Á (24), chưa kể là những người khác cho là tại Trung Quốc
(25).
Gần
đây nhất, đa số các học giả đã có khuynh hướng đồng
ý rằng bộ kinh này là một thành phẩm của nhiều giai đoạn.
Mặc dù bộ kinh được hình thành sơ khởi tại vùng Trung
Á, cụ thể là Qoco (Kao Ch’ang) xứ Turfan, nhưng sau đó đã
được kết tập với những thêm thắt mới tại Trung Quốc
(26). Bộ kinh này đã nêu ra mười sáu chủ đề liên quan về
Quán. Chủ đề thứ mười đặc biệt liên quan đến Quán
Thân Tướng Ðức Quán Thế Âm (Quán Thế Âm Quán). Trong phẩm
kinh này đã hướng dẫn hành giả quán tưởng về thân tướng
của Bồ Tát với rất nhiều chi tiết tỉ mỉ khiến một
số học giả cho rằng nó đã được dựa vào một hình mẫu
sẵn có (27). Chi tiết miêu tả về hình tượng, đặc biệt
nơi thiên quang giữa đỉnh đầu có một vị hoá Phật –
thông thường là Phật A Di Ðà- có thể được xem như là
một kiểu mẩu cho các nghệ nhân sau này dùng để phân biệt
Bồ Tát cùng với những vị khác. Biểu tượng ánh sáng của
Bồ Tát được đề cập đến trong kinh Pháp Hoa càng
được miêu tả đậm nét hơn trong bộ kinh này: “Trong thân
quang của Bồ Tát hiện tất cả sắc tướng của ngũ đạo
chúng sanh. Bồ Tát đầu đội thiên quang bằng chất báu Tỳ
Lăng Già Ma ni. Nơi thiên quang có một vị Hoá Phật đứng,
cao hai mươi lăm do tuần” (28). (Bản Việt dịch, Hòa Thượng
Thích Thiền Tâm).
Bộ
kinh này có mối liên hệ rất gần gũi với năm bộ kinh cùng
có chủ đề quán tưởng xuất phát từ vùng Trung Á –có
thể là Turfan- được dịch sang Hán Văn vào khoảng cuối thế
kỷ thứ tư và giữ thế kỷ thứ năm (29). Nội dung của cả
năm cuốn kinh này đều chỉ cho hành giả cách thức thiền
quán như thế nào để có thể tạo ra hình ảnh của Phật
hay Bồ Tát bằng nỗ lực tập trung tư tưởng là chủ yếu
chứ không cần phải nhờ đến một thần lực bên ngoài.
Khi thiền giả thấy được hình ảnh của Tam Thánh cũng có
nghĩa là họ đã được cứu độ. Hành giả cũng được cho
biết là trước giờ lâm tử, Phật A Di Ðà cùng với Bồ
Tát Quán Âm và Thế Chí sẽ hiện ra tiếp dẫn họ về cõi
Tây Phương Tịnh Ðộ. Quán trong trường hợp này vì thế
mang ý nghĩa quán tưởng chứ không phải là quan sát, nhận
biết hay xem xét.
Một
bộ kinh khác, Thủ Lăng Nghiêm, theo truyền thống người ta
tin là do ngài Bát Thích Mật Ðế (Paramiti) dịch ra Hán văn
vào năm 705. Tuy nhiên vấn đề này nay vẫn còn là một nghi
vấn vì một số các nhà học giả đương đại cho là bộ
kinh này đã được kết tập tại Trung Quốc (30). Trong kinh
Lăng Nghiêm, Bồ Tát đã được gọi bằng danh hiệu Quán Thế
Âm hay Quán Âm, tuy nhiên danh hiệu này đã được lý giải
một cách khác biệt. Ðây là cách giải thích thứ ba về ý
nghĩa của danh hiệu Quán Âm. Trong bộ Kinh này, Bồ Tát bắt
đầu bằng cách cho đại chúng biết ngài đã đạt được
thiền định tam muội là do nhờ quán chiếu về tánh nghe,
dưới sự chỉ dạy bởi bổn sư của Ngài là một vị Phật
cũng mang danh hiệu là Quán Thế Âm:
Ban
đầu, ở trong tính-nghe, vào được dòng viên-thông, không
còn tướng sở-văn nữa. Trần-tướng đã vẳng-lặng, hai
tướng động, tĩnh rõ thật không sinh. Như vậy thêm lần,
các tướng năng-văn, sở-văn đều hết. Không dừng lại nơi
chỗ dứt hết năng-văn, sở-văn mà tiến lên nữa, thì năng-giác,
sở-giác, đều không. Không-giác tột bậc viên-mãn, các tướng
năng-không, sở-không đều diệt. Sinh-diệt đã diệt, thì
bản-tính tịch-diệt hiện-tiền. (31) (bản Việt dịch Tâm
Minh Lê Ðình Thám).
Cái
tiếng được nói đến trong kinh Lăng Nghiêm không phải là
tiếng kêu cầu danh hiệu Bồ Tát của những tín đồ trì
tụng mà là bất cứ thanh âm nào, khi ta quán tưởng sâu xa
vào thực chất của chúng đều dẫn đến thực chứng Tánh
Không. Mặc dù cuốn kinh đề cập đến năng lực cứu vớt
chúng sanh ra khỏi nhiều khổ nạn cùng với mười bốn pháp
thí vô úy của Bồ Tát, nhưng nguyên do của việc làm này
thì lại khác biệt với kinh Diệu Pháp Liên Hoa: “Ta không
tự quán cái tiếng, mà quán cái tâm năng-quán, nên khiến
cho chúng-sinh khổ-não thập phương kia, quán cái âm-thanh, thì
liền được giải-thoát.”. (Luk 1966:139 -bản Việt dịch Tâm
Minh Lê Ðình Thám) (32). Bồ Tát một lần nữa đi đến kết
luận bằng cách liên hệ danh hiệu của mình với sự thiền
quán về tánh nghe: “Bạch Thế-tôn, đức Phật Như-lai kia,
khen tôi khéo được pháp-môn viên-thông, ở trong Đại-hội,
thụ-ký cho tôi cái hiệu là Quán-Thế-Âm; do tôi thấy-nghe
thấu-suốt mười phương, nên danh-tiếng Quán-Âm cùng khắp
thập phương thế-giới".” (33) (bản Việt dịch Tâm Minh Lê
Ðình Thám). Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Quán như thế không
có nghĩa là xem xét hay lắng nghe tiếng kêu cầu giúp đỡ
của những người tín ngưõng vào Ngài, cũng không phải là
quán tưởng về thân tướng của Bồ Tát mà là đi sâu vào
bản tánh của thanh âm để thực chứng rằng chúng hoàn toàn
trống rỗng.
Bây
giờ chúng ta tiếp tục khảo sát về sự xuất hiện danh hiệu
của Bồ Tát theo thứ tự niên đại. Ngài Bồ Ðề Lưu Chi
trong bản dịch Pháp Hoa Kinh Luận năm 508 đã tổng hợp hai
danh hiệu của Bồ Tát và gọi là Quán Thế Tự Tại. Danh
hiệu Quán Tự Tại được chính thức dùng lần đầu tiên
trong bản dịch Ðại Bát Nhã Ba La Mật Ða Kinh, năm 663,
của Ngài Huyền Trang, cũng như trong bản dịch Hoa Nghiêm
80 phẩm của ngài Thực Xoa Nan Ðà, năm 695-699 (khác với bản
dịch 60 phẩm của ngài Giác Hiền vào năm 420 trong đó Bồ
Tát được gọi là Quán Thế Âm). Khuy Cơ (632-682), đại đệ
tử của ngài Huyền Trang trong bộ luận Bát Nhã Tâm Kinh U
Tán đã giải thích ý nghĩa của danh hiệu Quán Tự Tại và
đứng trên quan điểm của thầy mình, phê phán những người
sử dụng danh hiệu Quán Thế Âm là sai lầm:
Bồ
Tát đắc quả vị hiện tại vì đã thực hành lục độ ba
la mật trong quá khứ. Bởi Bồ Tát quán xét thâm sâu vạn
pháp bằng trí tuệ bát nhã thế nên Ngài đã đạt đến mười
cảnh giới tự tại. Thứ nhất Ngài đã làm chủ được sinh
tử vì có thể kéo dài hay rút ngắn thọ mạng tùy ý. Thứ
hai Ngài đã làm chủ được tâm vì không còn vướng bận
trong vòng sinh tử. Thứ ba Ngài làm chủ được giàu sang vì
có thể biến hiện ra của cải theo ý muốn đó là kết quả
của việc thực hành hạnh bố thí ba la mật trong quá
khứ. Thứ tư Ngài làm chủ được nghiệp quả vì Bồ tát
luôn luôn làm các hạnh lành và khuyến khích mọi người cũng
làm theo như thế. Thứ năm Ngài làm chủ được đời sống
hiện tại đi đến bất cứ nơi đâu thong dong tự tại, do
kết quả cuả việc thực hành hạnh trì giới ba la mật. Thứ
sáu Ngài làm chủ được kiến thức siêu việt để có thể
ứng hiện tùy duyên do kết quả của việc thực hành hạnh
nhẫn nhục ba la mật. Thứ bảy, Ngài là chủ của các hạnh
nguyện từ đó có thể mang hạnh phúc đến bất cứ nơi đâu
mà Ngài quán chiếu do kết quả của thực hành tinh tấn ba
la mật. Thứ tám, Ngài là chủ tể của quyền lực siêu nhiên
với năng lực siêu phàm không thể nghĩ bàn kết quả của
thiền định ba la mật. Thứ chín Ngài là chủ của nguồn
tuệ giác do nương vào tiếng nói, âm thanh mà đạt đến trí
tuệ viên mãn. Thứ mười, Ngài là một vị Pháp chủ
vì những hiểu biết của Ngài luôn luôn đúng theo kinh điển
và đây là kết quả của việc thực hành trí tuệ ba la mật.
Ngài tuy là vị Bồ Tát nhất sanh bổ xứ nhưng đã trải qua
quá trình thực chứng rốt ráo như một vị Phật. Không có
bất cứ nơi chốn tối tăm nào mà hào quang của Ngài không
thể chiếu rọi tới. Do đó mà Ngài có danh hiệu là Quán
Tự Tại. Nếu ai gọi Ngài là Quán Âm đều sai lạc cả chữ
lẫn nghĩa. (34)
Nhưng
dù thế nào đi nữa, mặc cho những phê phán của cả ngài
Huyền Trang lẫn Khuy Cơ, người ta vẫn thích gọi Bồ Tát
là Quán Thế Âm hay Quán Âm. Ðồng thời cũng không có một
chứng cớ nào xác minh rằng sự phiên dịch danh hiệu này
của những dịch bản trước đây là lầm lẫn. Thế thì tại
sao các dịch giả kinh điển đã cho vị Bồ Tát này mang hai
danh hiệu khác nhau? Thực ra sở dĩ có những danh hiệu khác
biệt bằng tiếng Trung Hoa là do tên của Bồ Tát đã được
dịch ra từ hai từ ngữ phát âm khác nhau. Quán Thế Âm được
dịch từ chữ Avalokitasvara trong khi Quán Tự Tại là phiên
âm của chữ Avalokitesvara. Pháp Vân, người kết tập một
cuốn từ điển thuật ngữ Phật giáo, Phiên Dịch Danh Nghĩa
Tập, đã giải thích rằng hai danh hiệu này là kết quả của
hai bản kinh có nguồn gốc khác nhau được mang vào Trung quốc
(35). Trong một bài tham luận liên quan đến vấn đề này xuất
bản vào năm 1927, học giả Mironov đã xác nhận những nhận
định của ngài Pháp Vân đưa ra từ thế kỷ thứ năm là
đúng đắn. Sau khi khảo sát những mảnh thủ bản Phạn ngữ
của kinh Diệu Pháp Liên Hoa do Otani khám phá tại Ðông bộ
Turkestan hoặc Tân Cương, ông viết: “Một trong ba bộ của
các mảnh thủ bản do căn cứ vào cấu trúc ngữ pháp của
thời cổ có thể được xác định niên đại vào khoảng
cuối thế kỷ thứ năm, ông đã tìm thấy ba mảnh của phẩm
thứ hai mươi bốn tuyên xưng Bồ Tát Avalokitesvara. Bởi vì
chỉ trên một mảnh lá nhỏ mà danh hiệu của Bồ Tát được
viết là Avalokitasvara đến 5 lần, ta khó có thể tin rằng
đây là chuyện nhầm lẫn trong khi ghi chép. Như vậy, có vẻ
như người ta đã tìm ra cái khâu chính trong vấn đề không
ăn khớp giữa hai truyền thống Ấn Ðộ và Trung Hoa. Không
còn hoài nghi gì nữa, Avalokitasvara là danh hiệu nguyên thủy
của Bồ Tát và rồi sau này đã được thay thế bằng Avalokitesvara.”
(36) Căn cứ trên khám phá này, học giả Hậu Ðằng Ðại
Dụng đã nêu giả thuyết rằng danh hiệu Avalokitasvara đã
được dùng trong các kinh điển mang vào Trung quốc có xuất
xứ từ Kucha như các bộ kinh mà ngài Cưu Ma La Thập và các
nhà truyền giáo vùng Trung Á đã dịch ra Hán văn, trong khi
đó danh hiệu Avalokitesvara được tìm thấy trong nguồn kinh
điển gốc gác từ Ấn Ðộ do ngài Huyền Trang mang về trong
chuyến Tây du thỉnh kinh nổi tiếng của Ngài. (37)
Những
nhà dịch giả kinh điển Hán văn như thế đã tiếp cận danh
hiệu Bồ Tát đến từ hai nguồn khác nhau. Và rồi một điều
khá lý thú là cho dù bị chống đối mạnh mẽ bởi ngài Huyền
Trang, danh hiệu Quán Âm hay Quán Thế Âm đã trở thành phổ
cập cả trong vùng Tây Á. Những nhà chú giải, như được
đề cập trước đây cũng đã đưa ra những lời giải thích
hoàn toàn tán đồng về ý nghĩa “âm thanh” như là một
phần nội dung chính trong danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế
Âm.
CHÚ
THÍCH:
1.
Schopen 1997:1-14: Bones, Stones, and Buđhist Monks: Collected Papers
on the Archaeology, Epigrapy, and Texts of Monastic Buddhism in India.
Honolulu: University of Hawaii Press.
2.
Goto Daiyo (Hậu Ðằng Ðại Dụng 1958:283-88): Kanzeon Bosatsu no
kenkyu. (The Study of Kuan Shih Yin Bodhisattva.) Tokyo.
3.
Xem thêm cùng tác giả Vu Quân Phương: The Renewal of Buddhism in
China: Chu-hung and the late Ming Synthesis. Newyork: Columbia University
Press. 1981. and “Buddhism in the Ming” In Cambridge History of China
edited by Frederick Mote and Denis Twitchett, 893-952. Cambridge: Cambridge
University Press. 1998.
4.
Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng Kinh (1924-1935) (T 15:451c). Hiệu
đính bởi Takakusu Junjiro và WatanabeKaigyoku. 100 vols. Tokyo:Taisho
issaikyo kankokai.
5.
Eric Zurcher đã xem bộ kinh này như là một phần trong nhóm
nhỏ của những kinh điển Trung quốc nguyên thủy tiêu biểu
cho “khuynh hướng đại chúng hóa” mà “những đặc tính
chung là bao gồm một số lượng đáng kể những trộn lẫn
cổ điển, những thuật ngữ mang phong các riêng, và trên tất
cả, thực tế cho thấy là những dịch giả này đã cố gắng
hết sức để phiên dịch mọi thứ sang Hán văn kể cả những
danh từ riêng.” Zurcher tin rằng đặc tính sau cùng này
cho thấy “cái ý hướng muốn phục vụ giới thưởng ngoạn
thuộc một bầu khí văn hoá đại chúng chứ không thuộc giới
chuyên môn”. (1991:290).
6.
Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng Kinh (T12:15b).
7.
Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng Kinh (T 14:519b).
8.
Xem Fujita Kotatsu. 1970. Ghensi Jodo-shiso no kenkyu (A Study of Early
Pure Land Bud dhism. Tokyo:Iwanami Shoten. (Fujita 1970:13-115).
9.
Do tiếng tăm của ngài Chi Ca Lâu Sấm, những gán ghép sai lạc
cho ngài là dịch giả của bộ kinh này trở thành một vấn
nạn nhức nhối. Cuốn danh mục cổ xưa và có thẩm quyền
nhất, Xuất Tam Tạng Ký Tập, kết tập bởi ngài Tăng Hữu
(515) đã không liệt kê dịch giả của bộ kinh này là Chi
Ca Lâu Sấm. Một số học giả cho rằng bộ kinh này thực
ra là do ngài Ðàm Ma La Sát (265-313) dịch, còn bản dịch của
ngài Chi Ca Lâu Sấm thì đã bị thất lạc. Nếu đúng như
thế thì bộ kinh Ðại A Di Ðà (Ðại Kinh) do cư sĩ Vũ Chí
Khiêm dịch (220-252) có thể được xem như là bản dịch sớm
nhất còn tồn tại của kinh điển Trung quốc. Bukkyo daijiten
5:4851b.
10.
Những nhà học giả đương đại đồng thời cũng đặt vấn
đề về sự gán ghép này: “Bây giờ có vẻ như cái được
gọi là bản dịch của ngài Khương Tăng Ngãi là cả một
công trình tập thể của bộ phận phiên dịch do danh tăng
dịch giả đời Ðường (sic), Phật Ðà Bạt Ðà La (359-429
C.E.), chủ trì”. (Gómez 1996:126)
11.
Xem Howard, Angela: “Buddhist Cave Sculpture of the Northern Qi Dynasty:
Shaping a New Style, Formulating New Iconographies.” Archive of Asian
Art 49:7-25. (Howard 1996a:16-17, Howard et al. forthcoming; Yuan 1991).
12.
Một trong những bộ kinh này là Quang Thế Âm Ðại Thế Chí
Thụ Giác Kinh do ngài Ðàm Ma La Sát dịch vào khoảng năm 265,
và một bộ khác là Quán Thế Âm Thụ Ký Kinh do cư sĩ Nhiếp
Ðạo Chân dịch vào khoảng năm 300. Mặc dù chúng đã bị
thất lạc, nhưng những tựa đề vẫn còn được lưu lại
trong bộ Xuất Tam Tạng Ký Tập của ngài Tăng Hữu (515).
13.
Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng Kinh (T12:356a-357a)
14.
Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng Kinh (T3:185-86).
15.
Xem Tay, C. N. 1976 “Kuan Yin: The Cult of Half Asia,” History of Religion
16 (2):147:77, Reissued separately, 1987, as book with the same title in
English and Chinese. Taipei :Wisdom Torch. (Tay 1976:17).
16.
Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng Kinh (T9:129a).
17.
Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng Kinh (T 8:1b).
18.
Honda Yoshihide (Honda 1930: 15-17, 27): « Kannon yakugo ko » (Investigation
on the Translations of the Names of Kuan Yin). Nara 13 (Special Issue on
the Study of Kannon).
19.
(HTC 27:350a). Tân Biên Vạn Tự Tục Tạng Kinh. 1977. 150 vols.
Reprint of Dainippon Zoku Zokyo (Ðại Nhật Bổn Tục Tạng Kinh).
Taipei. Hsin-wen-feng.
20.
Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng Kinh (T34:624c).
21.
(HTC 42:381a): Tân Biên Vạn Tự Tục Tạng Kinh.
22.
Sueki Fumihito (Mạt Mộc Văn Mỹ Sĩ) 1986a : On the Various Versions
of the Visualization Sutra. Toyo Bunka 66. 1986b : Studies on the Visualization
Sutra. Toyo Bunka Kenkyusho Kiyo 101.
23.
Hayashima Kyosei 1964: “On the Meditation on Purity and Karma Taught
in the Pure Land School”. Also Hirakawa Akira. 1984: “The Creation
of the Visualization Sutra and the Meditation on Purity and Karma”.
24.
Kasugai Shinya (Xuân Nhật Tỉnh Trinh Dã) 1953: “Various Problems
Concerning the Visualization Sutra” , and also Fujita Kotatsu 1985: “Lectures
on the Visualization Sutra”.
25.
Tsukinowa Kenryu (Nguyệt Luân Hiền Long) 1971: “Critical Studies
on the Buddhist Scriptures”. Tokyo. Hyakka-en.
26.
Yamada Meiji (Sơn Ðiền Minh Trị) 1976: “Investigating the Visualization
Sutra: Amitayus Buddha and the Amitabha Buddha”. Ryukoku daigaku ronshu
408:76-95; also Pas Julian 1977: “The Kuan Wu liang shou Fo Ching: Its
Origin and Literary Criticism.” In Buddhist Thought and Asian Civilization,
edited by Leslie Kwamura and Keith Scott, 194-218. Emeryville, California:
Dharma Publishing.
27.
Pas Julian 1995:38: “Visions of Sukhavati: Shan-tao’s Commentary on
the Kuan Wu Liang shou Fo Ching”. New York: State of New York University
Press.
28.
Takakusu, J. translator, 1969. The Amitayur-dhyana-Sutra. In Buddhist Mahayana
Texts. New York: Dover, reprint.
29.
Năm bộ kinh khác là Phật Thuyết Quán Hư Không Tạng Bồ Tát
Kinh (T no. 409), Phật Thuyết Quán Phật Tam Muội Hải Kinh (T
no. 643), Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Ðâu
Suất Thiên Kinh (T no. 452); Phật Thuyết Quán Phổ Hiền Bồ
Tát Hình Pháp Kinh (T no.277); và Phật Thuyết Quán Dược Vương
Dược Thượng Nhị Bồ Tát Kinh. (T. no 1161) (Pas 1995:42-43).
30.
Mochizuki Shinko (Vọng Nguyệt Tín Hưởng), 1946: “On the History
of the Establishment of Buddhist Canon”. Kyoto: Hozokan.
31.
Charles Luk (Lu K’uan Yu), translator. The Surangama Sutra. London: Rider:135.
32.
Charles Luk đã chú giải về ý nghĩa của đoạn kinh văn này
như sau: “Bằng cách không tự quán cái tiếng, mà quán cái
tâm năng-quán, tức là cái tánh nghe, Bồ Tát đã vượt ra
ngoài cả lục căn lẫn lục trần và như thế đã thực chứng
được Phật tánh của mình vốn bao gồm cả mọi loại chúng
sanh. Triển khai niềm tin thuần túy vào Ngài bằng cách niệm
danh hiệu Bồ Tát, hoặc tập trung quán tưởng về Bồ Tát,
hành giả đạt đến tình trạng nhất tâm, hoà nhập với
bản tánh Bồ đề của Bồ Tát và trở nên đồng nhất với
ngài, từ đó giải thoát mọi khổ nạn vốn không hề hiện
hữu trong cảnh giới tuyệt đối.” (Lu K’uan Yu [Charles Luk]:1966:139).
33.
Charles Luk (Lu K’uan Yu), translator. The Surangama Sutra. London: Rider:142.
34.
HTC (Tân Biên Vạn Tự Tục Tạng Kinh.) 41:439a.
35.
Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng Kinh (T54:1062a).
36.
Mironov, N. D.: “Buddhist Miscellanea” 241-79. The Journal of the Royal
Asiatic Society of Great Brittain and Ireland (April 1927).
37.
Goto Daiyo (Hậu Ðằng Ðại Dụng): “The Study of Kuan Shih Yin
Bodhisattva.” Tokyo. 1958:9.