CUỘC
HÀNH TRÌNH CUỐI CÙNG CỦA ÐỨC PHẬT
VỚI
NHỮNG THỐNG KHỔ MUÔN ÐỜI CỦA NHÂN LOẠI
Thích
Phước An
Những
khi mà tâm hồn tôi bị hoang mang va dao động trước những
thống khổ của con người do chính con người gây ra, những
lúc đó tự nhiên những câu thơ của Bùi Giáng, những câu
thơ mà một thời tôi đã từng say sưa đọc lại có dịp
sống dậy trong tâm hồn buồn bã của tôi:
Sông
ơi em bỏ sa mù
Ði
thiêm thiếp cõi quân thù gọi nhau
(Mưa
nguồn)
Tôi
đọc đi đọc lại để tự nhắc nhở với chính mình rằng,
sự đau khổ của mình chẳng có nghĩa gì hết trước sự
đau khổ lớn lao mà Bùi Giáng (hay tất cả những người nghệ
sĩ chân chính nói chung), với bao nhiêu mộng ước cho cuộc
đời nhưng khi đối mặt thực sự với cuộc đời thì những
giấc mộng đẹp đó lập tức bị cuộc đời bóp chết một
cách phũ phàng:
Rồi
tôi lớn lên đi vào đời chân bước
Cỏ
mùa Xuân bị giẫm nát không hay
(Mưa
nguồn)
Nhưng
tại sao con người lại tự gây đau khổ với con người?
Có
lẽ không có lời giải đáp nào chính xác hơn là lời giải
đáp của một con người cùng quê hương với Ðức Phật.
Người đó không ai khác hơn chính là Mahatma Gandhi:
“Trái
đất có đủ lương thực để nuôi dưỡng con người, nhưng
không đủ để nuôi dưỡng lòng tham quá độ của con người”.
Chính
vì thế cho nên khi giới thiệu Triết học Ấn độ cho thế
giới, Radhakrisnan, triết gia và đồng thời cũng là tổng thống
của Ấn độ đã tóm tắt 3.000 năm lịch sử tư tưởng Ấn
độ bằng 10 chữ như sau:
“Hãy
sống và hãy để cho người khác sống với...” [1]
Xin
được tiếp tục trở lại về giấc mộng của thi nhân. Trước
năm 1975, tại Việt Nam có lẽ Bùi Giáng là một trong những
người dịch và viết nhiều nhất về Martin Heidegger (1889 -
1976) triết gia Ðức. Người ta còn nói rằng, nếu không hiểu
được Heidegger thì không thể hiểu được cõi thơ của Bùi
Giáng.
Chúng
ta có thể tạm bỏ qua những vấn đề như Sein (Hữu thể)
hoặc Dasein (Tại - thể - tính) gì đó ...v.v... Tức là
những vấn đề hóc búa của triết học mà Heidegger đã bỏ
cả đời để trầm tư. Theo tôi, chỉ cần đọc câu nổi
tiếng sau đây của Heidegger, một câu tương đối là dễ hiểu
nhất, thì ta có thể hiểu lý do vì sao mà Bùi Giáng lại dịch
và viết nhiều về Heidegger đến như vậy:
“Trên
Trái đất, Heidegger viết, đã xảy ra một tình trạng đen
tối của thế giới. Những biến cố chính yếu của tình
trạng đen tối ấy là, sự vắng mặt của các Thần linh,
sự hủy diệt của Trái đất, sự đoàn ngũ hóa loài người,
sự ưu đãi những gì quá tầm thường”[2].
Trong
tác phẩm Heidegger giảng giải thơ Hoelderlin mà Bùi Giáng đã
dịch sang tiếng Việt là Lời Cố quận, được nhà xuất
bản An Tiêm phát hành khoảng đầu thập niên 70, nghĩa là
những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh tại Việt Nam.
Trong
lời nói đầu cho bản dịch, sau khi đã trích lại hai câu
thơ của Huy Cận là:
Tâm
tình một nẻo quê chung
Người
về cố quận muôn trùng ta đi...
Mà
Bùi Giáng bảo là đã vô tình đọc được trên một bài báo
từ thuở còn trai trẻ. Từ ấy, nghĩa là sau khi đọc được
hai câu thơ cho đến khi dịch Lời Cố quận của Heidegger,
thì đã hơn 30 năm, mà Bùi Giáng gọi là “ba chục năm nước
chảy dưới cầu và bom đạn bò lên mặt đất” rồi ông
băn khoăn tự hỏi:
“Không
biết mẫu thân Cố quận đã lưu lạc nơi nào?”[3].
Câu
hỏi trên của Bùi Giáng khiến ta liên tưởng đến câu hỏi
lơ lửng trong bài thơ có tên là Andenken (Hoài tưởng) của
Hoelderlin mà ta được biết rằng khi về già sống cô độc
một mình trong rừng Hắc Lâm (Rodtnau) của Ðức quốc, Heidegger
đã thường đọc lên trong nỗi hiu quạnh và chờ đợi:
“Những
người bạn hữu của tôi bây giờ ở đâu? Hỡi bạn Bellermin.
Với
những kẻ đồng hành của anh ấy?
Nhiều
người lưỡng lự rụt rè lên đường trở về suối nguồn”.
(Phạm
Công Thiện dịch)
Những
cái gọi là “Nẻo quê chung”, “mẫu thân Cố quận” hay
“Suối nguồn” ấy ở nơi đâu? Ai là người sẽ chỉ đường
cho nhân loại để lên đường trở về?
Ðọc
Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại cùng nhiều bài viết
khác của Bùi Giáng từ gần nửa thế kỷ nay thì ta thấy
Bùi Giáng thường nhắc đến Ðông phương sơ thủy hay Hy Lạp
uyên nguyên. Trong chỗ sơn cùng thủy tận, thì Hy Lạp uyên
nguyên của các triết gia tiền Socrates cũng chính là cõi đạo
của Ðông phương. Nhưng rồi vì những trận gió biển dâu,
những thảm họa lịch sử đã khiến con người quên mất
đường trở về để nghe lại tiếng gọi sơ đầu ấy của
Như Lai.
Và
Bùi Giáng đã diễn tả sự lang thang mất lối ấy qua hai câu
thơ.
Hỏi
tên? Rằng biển xanh dâu
Hỏi
quê? Rằng mộng ban đầu đã xa
Vậy
ai sẽ là người chuẩn bị cho cuộc trở về cội nguồn này?
Người
đó chắc chắn không ai khác hơn là ông Pháp vân địa Bồ
Tát Martin Heidegger, theo cách gọi của Bùi Giáng. Chuẩn bị
bằng cách nào? Trong Con đường ngã ba, Bùi Giáng viết:
“Heidegger
chỉ khoác nhẹ một nửa bàn tay đủ lật nhào hai ngàn năm
rưỡi tư tưởng triết học Tây phương và dựng lên một
cái gì chưa có danh hiệu để chỉ định”.
Thật
là ngớ ngẩn với hầu hết chúng ta, điều mải chạy theo
cuộc sống đời thường thì cái “cõi gì chưa có danh hiệu
để chỉ định” ấy, lại chỉ có một mình thi nhân ám
ảnh và lặng lẽ đi tìm kiếm giữa một xã hội xô bồ và
huyên náo lợi danh này:
“Cô
là ai? Cô từ nghìn thu cổ lục trở về hay từ màu hoa trên
ngàn trở lại? Nhưng dù là ai thì cũng được, không sao. Nè,
tôi đọc tặng cô một bài thơ. Cô nghe nhé: Em cho phép ta
ngồi đây hỏi lại. Và gọi về trăng mùa cũ lang thang. Màu
trời đó để ngàn sương hớt hãi. Xuống li ti là dựng vội
con đường”[4].
Bùi
Giáng đã có lần dừng lại bên đường để hỏi một cô
gái lạ mà ông không hề quen biết như vậy.
Sở
dĩ tôi có hơi dài dòng về Bùi Giáng một chút như vậy, vì
từ hơn nửa thế kỷ nay tại Việt Nam ai cũng phải công nhận
rằng, Bùi Giáng là thi sĩ duy nhất đã dám hiến dâng trọn
vẹn cuộc đời mình cho cuộc “Lữ” của thi ca. Không
cửa, không nhà, không tiền, không bạc, ngay cả một chỗ
cố định để ngả lưng cũng không có luôn.
Nhưng
Bùi Giáng (hay tất cả những nghệ sĩ chân chính nói chung)
có than thân trách phận? Có nghèo khổ thật không? Chắc chắn
là không. Vì lý do đơn giản là họ không đi tìm kiếm sự
giàu sang bên ngoài, mà họ tìm kiếm sự giàu sang từ trong
chính họ, họ có niềm vui bất tuyệt từ sự giàu sang này:
Cõi
đông bắc một mình tôi bước tới
Miệng
ca ngâm tìm kiếm mộng Tây Nam
Ði
suốt xứ khắp miền ngang lối dọc
Hồn
chiêm bao một thế giới muôn vàn”,
Như
vậy, làm thơ, viết văn hay dịch sách triết lý đối với
những nghệ sĩ chân chính không phải để nổi danh hay khoe
khoang kiến thức uyên bác của mình, mà như một lần Bùi
Giáng đã tâm sự:
“Kẻ
chán chường thi ca mà cứ phải làm thơ. Mình chỉ là một
thứ đười ươi, bắt chước tiên thiên mà không thể bắt
chước được, vui vậy mà...”[5].
Ðúng
là như vậy rồi, tôi nhớ có một lần ông say sưa nói về
Khổng Tử, nói về Nguyễn Du, chợt ông ngừng lại và nói
với tôi:”Ông năm nay bao nhiêu tuổi, mới có hai mươi mấy
tuổi, đầu chưa ráo máu mà làm sao ông hiểu được Nguyễn
Du, hiểu được Khổng Tử?”.
Lúc
đầu tôi tự chống chế tại sao mình không có quyền hiểu
khi mình còn trẻ. Nhưng rồi sau những biến cố xảy ra trên
đất nước cũng như trên thế giới tôi mới chợt nhận ra
rằng, nếu Nguyễn Du đã phải chứng kiến những biến động
phủ phàng của lịch sử dân tộc từ hậu bán thế kỷ 18
đến cuối thế kỷ thì mới viết nổi truyện Kiều, thì
tôi cũng vậy. Làm sao có thể hiểu được những gì Nguyễn
Du viết dù chỉ là hai câu thơ mở đầu truyện Kiều thôi:
Trải
qua một cuộc bể dâu
Những
điều trông thấy mà đau đớn lòng...
Nếu
chính mình không chứng kiến cuộc phân ly lớn lao của dân
tộc giữa thập niên 70.
Còn
Khổng Tử? Dù không dám nói ra lời, nhưng trong thâm tâm tôi
vẫn nghĩ rằng, Khổng Tử chỉ để cho những tâm hồn cổ
lổ sĩ, những người thích làm thầy đời, hay khuyên răn
người khác phải làm thế này, phải làm thế kia. Nhưng bây
giờ chỉ cần đọc câu truyện ngắn giản dị trong Lễ ký,
thì tôi đã thấy Khổng Tử vĩ đại quá rồi:
“Một
vị đại thần ở nước Lỗ, cho hai người con lại học ông.
Do đó mà ông được giới thiệu với triều đình Chu ở Lạc
Dương; nhưng ông lánh xa chỗ cung điện mà thích đi thăm Lão
Tử lúc đó đã gần chết. Khi trở về Lỗ, thấy tổ quốc
ông bị tàn phá vì nội loạn, ông cùng với môn sinh qua nước
Tề. Ði qua một miền núi non hiểm trở, hoang vu, ông ngạc
nhiên thấy một bà Lão, khóc trên nấm mộ. Ông sai Tử Lộ
lại hỏi nguyên do. Bà lão đáp:”Cha chồng tôi bị cọp vồ
nơi đây, rồi tới chồng tôi cũng vậy, bây giờ con trai tôi
cũng bị nạn đó”. Khổng Tử hỏi chỗ nguy hiểm như vậy
sao không đi ở chỗ khác, bà Lão đáp:”Vì ở đây không
có bọn quan lại hà khắc”. Khổng Tử quay lại bảo các
môn sinh:
“Các
con nhớ đấy! Chính sách hà khắc còn khốc hại hơn là cọp!”[6].
Thật
là khó tưởng tượng được rằng, chỉ một câu nói ngắn
gọn “Các con nhớ đấy! Chính sách hà khắc còn khốc hại
hơn là cọp!” được phát ra từ một ngôi làng xa xôi ở
Trung Quốc cách đây hơn 20 thế kỷ. Vậy mà đến nay đầu
thế kỷ 21 vẫn còn giữ nguyên giá trị. Chỉ có khác một
điều là, cọp thì đang đứng bên bờ tuyệt chủng, bởi
sự săn đuổi tàn ác của con người. Bởi vậy, ngày nay con
người không còn sợ cọp nữa mà chỉ sợ chính sách hà khắc
do chính con người tạo ra mà thôi. Xin được trích một câu
nói nữa của Khổng Tử trong luận ngữ:
“Quý
Khương (một đại phu nước Lỗ) hỏi về cách cai trị “Tôi
muốn giết ít đứa vô đạo cho dân chúng sợ mà hóa ra lương
thiện (hữu đạo). Ngài nghĩ nên không?”. Khổng Tử đáp:”Ông
muốn cai trị thì cần chi phải giết người. Ông hướng về
điều thiện thì dân sẽ hóa ra thiện. Ðức của người quân
tử cầm quyền cũng như gió, mà tiểu nhân thì như cỏ. Gió
thổi thì cỏ rạp”[7].
Nếu
ngày nay nhân loại đang tự hào vì đang sống trong thế giới
văn minh, thì nhất định không còn cách nào khác hơn là cách
giải quyết của Khổng Tử. Nghĩa là không ai có quyền nhân
danh bất cứ một lý do nào để giết hại con người một
cách bừa bãi được.
Sử
gia Will Durant, một người rất thán phục Khổng Tử có nhận
xét như thế này:”Trong đạo Khổng có cái gì cố chấp,
nghiêm khắc trái với sự xung động tự nhiên của con người;
nếu ta có thể thi hành đúng đạo ấy thì tâm hồn sẽ cằn
cỗi đi...”. Nhưng sau đó sử gia lại bảo rằng:”Không
nên trách Khổng Tử về tất cả những nhược điểm ấy;
không ai lại đòi hỏi một triết gia phải suy tư cho hai chục
thế kỷ. Trong một đời người làm sao có thể tìm được
con đường đưa tới trí thức cho hết thảy các đời sau.
Mà rất ít người làm nhiệm vụ ấy một cách đầy đủ
như Khổng Tử”[8].
Từ
lời nhận xét trên của Will Durant về Khổng Tử – chúng
ta có thể trở về xem thử nếu áp dụng Ðạo Phật vào thế
giơi hôm nay có làm cho tâm hồn con người ”cố chấp, nghiêm
khắc hay cằn cỗi” không?
Trong
kinh Rohitassa trong Samyutta Nikaya, Ðức Phật tuyên thuyết:
“Trong
chính cái xác thân dài một trượng này, cùng với tri giác
và tư tưởng. Như Lai tuyên bố thế gian, nguồn gốc của
thế gian, sự chấm dứt thế gian và con đường dẫn đến
sự chấm dứt thế gian”.
Thế
có nghĩa là sứ mạng của Ðạo Phật có tính cách toàn diện
và triệt để hơn là giải phóng mọi thống khổ của kiếp
người. Vì danh từ thế gian (Loka) trong lời dạy trên của
Ðức Phật là ám chỉ sự đau khổ”[9].
Trong
bài pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển ở thành Ba La Nại,
Ðức Phật đã tóm lược những đau khổ mà đã mang lấy
thân phận con người thì không ai tránh khỏi như:
“Sanh
là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sống chung
với người mình không ưa thích là khổ, xa lìa với người
mình thương yêu là khổ, mong muốn mà không được là khổ.
Tóm tại chính cái thân ngũ uẩn này là khổ”[10].
Nếu
cái khổ do chính sách hà khắc của các quan lại gây ra chỉ
xảy ra một số nước ở thời phong kiến trước kia và một
số nước chậm tiến ngày nay thì cái khổ mà Ðức Phật
đã nêu ra trong bài pháp đầu tiên ở trên thì bất cứ thời
nào xã hội nào, dù xã hội đó tiến bộ hay lạc hậu, bao
dung hay hà khắc thì cái khổ đó vẫn không thể nào thay đổi
được. Hay nói một cách khác hễ ta còn cái thân ngũ uẩn
này thì vẫn phải chịu cái khổ đó, nên ta có thể gọi
đó là cái khổ muôn đời của con người.
Nếu
Khổng Tử được cho là nhà hiền triết thực tế nhất trong
những bậc hiền triết của Ðông Phương qua câu nói Chưa
biết sự sống, sao biết sự chết (Vị tri sanh, yển tri tử)
thì ta cũng có đủ lý luận để nhìn Ðức Phật như một
nhà thực tiễn nhất, có thể là thực tiễn hơn cả Khổng
Tử nữa. Vì có cái gì thực tế hơn khi Ðức Phật khuyến
cáo chúng ta rằng, đau khổ hay hạnh phúc, quý tộc hay tiện
dân, tự do hay nô lệ, triền phược hay giải thoát, tất cả
đều do ta quyết định lấy từ “trong cái xác thân dài một
trượng này”.
Nói
như vậy, không có nghĩa là Ðức Phật chẳng quan tâm gì đến
vấn đề cải tạo xã hội. Trái lại, mỗi khi có dịp đề
cập đến những vấn đề nóng bỏng của xã hội thì Ðức
Phật đều bày tỏ ước muốn của Ngài cho một xã hội tốt
đẹp hơn. Một xã hội tốt đẹp nghĩa là một xã hội mà
“trong đó dân chúng không bị đàn áp, bóc lột, đánh đập,
tù đày, sưu cao thuế nặng, và chịu những hình phạt dã
man”[11]
Làm
thế nào để thực hiện một xã hội tốt đẹp, nghĩa là
một xã hội không có những điều xấu như trên?
Ðức
Phật đã nói rõ trong một bài thuyết Pháp có tên là Mười
nhiệm vụ của nhà vua (Thập vương pháp) được thuật lại
trong Jàtaka (Chuyện tiền thân).
Trong
đó có những điều khoản mà ngày nay vẫn còn là những vấn
đề nóng bỏng và nhức nhối cho nhiều quốc gia như “Người
cai trị không có thèm khát và bám víu nào đối với tài sản,
tiền của, mà phải làm sao cho dân được no ấm” hay điều
thứ 8 “bất hại” (avihimsa), không chỉ có nghĩa là không
hại ai, mà còn có nghĩa là người cai trị phải cố tạo
hòa bình bằng cách tránh và ngừa chiến tranh, hay dính dáng
đến bạo động và sát hại sinh mạng”. Nhưng quan trọng
nhất là điều thứ 10 “Không đối lập, không ngăn cản
(avirodha), nghĩa là nhà cai trị không được đi ngược lại
với ý nguyện của toàn dân, không được ngăn cản bất cứ
biện pháp nào đưa đến sự lợi lạc cho toàn dân. Nói cách
khác là nhà cai trị phải thuận theo ý chí của toàn dân”[12].
Ðiều
cần nói thêm ở đây là, lịch sử dường như luôn luôn có
sự trùng hợp thú vị. Không phải Ðông Phương thôi mà xấp
xỉ thời đó những triết gia Cổ đại Hy Lạp của Tây Phương
cũng đều băn khoăn đi tìm một mô thức để làm sao cho xã
hội con người tốt đẹp hơn. Ðó là trường hợp của Platon
(428-374) trước Công Nguyên, người mà truyền thuyết cho rằng
sau khi thầy là Socrate chết đã đến tận bờ sông Hằng để
học đạo với các đạo sĩ và triết gia Ấn Ðộ. Quan điểm
của Platon về một quốc gia lý tưởng là “chúng ta không
thể mơ tưởng những quốc gia hoàn hảo nếu chúng ta chưa
có những con người hoàn hảo”[13]. Bởi vậy những quốc
gia hoàn hảo phải do một triết gia cai trị, vì “thuật trị
nước vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, nó đòi hỏi
nhiều tận tâm và học hỏi. Chỉ những triết gia mới thích
hợp trong việc trị nước. Khi nào triết gia trở thành quốc
vương và tất cả những quốc vương trên thế giới đều
trở thành triết gia thì những tệ đoan của xã hội sẽ được
chấm dứt”[14].
Tất
nhiên trong bối cảnh xã hội và chính trị vào thời điểm
đó, thì cả một quốc gia đều tùy thuộc vào một người.
Sự hưng thịnh hay suy vong đều do một người định đoạt.
Vậy cho nên cũng là một việc đương nhiên khi Platon muốn
người lãnh đạo phải là một triết gia, còn Khổng Tử là
một bậc quân tử, vì theo Khổng Tử, đức của của người
quân tử (hay triết gia thì có lẽ cũng như vậy) như gió (quân
tử chi đức phong) còn dân đen thì lại được ví như cỏ
(tiểu nhân chi đức thảo) mà cỏ thì tất nhiên sẽ nằm
rạp xuống khi có cơn gió mạnh thổi đến (thảo thượng
chi phong, tất yểu).
Chính
vì cái tầm nhìn hạn chế như vậy nên sức mạnh của cả
một dân tộc đã bị bỏ quên. Có lẽ, Ðức Phật là người
đầu tiên trong lịch sử của nhân loại lưu tâm đến cả
hai. Ngoài những đức tính cần thiết cho một nhà cai trị,
mà thời đó gọi là Vua (Ràja) ra, Ngài còn chỉ cho ta thấy
sức mạnh của cả một dân tộc nằm ở đâu?
Trong
một bài Pháp mà Ðức Phật đã thuyết giảng cho Vassakàra
(Vũ xá) đại thần của nước Ma Kiệt Ðà (Magadha) để thuyết
phục ông vua nổi tiếng hiếu chiến nhất thời bấy giờ
là A Xà Thế (Ajàtasattu) bãi bỏ ý định xua quân tiêu diệt
dân Bạt Kỳ (Vajji).
Ðây
là bài kinh mà có lẽ đến ngày hôm nay nhiều quốc gia cần
tín giải thọ trì hằng ngày, nếu muốn cho quốc gia của
mình hưng thịnh:
“
Như vầy tôi nghe. Một thời Ðức Thế Tôn ở tại Vương
Xá (Ràjagaha) trên đỉnh Linh Thứu (Gijjhakùta) lúc bấy giờ
A Xà Thế, con bà Vi Ðề Hi (Ajàtasattu Vedehiputta) vua nước
Ma Kiệt Ðà muốn chinh phục dân Bạt Kỳ (Vajji). Vua tự nói:”Ta
chinh phạt dân Vajji này, dù chúng có uy quyền, có hùng mạnh.
Ta quyết làm cỏ dân Vajji; ta sẽ tiêu diệt dân Vajji, ta sẽ
làm cho dân Vajji bị hoại vong”.
Rồi
Ajàtasattu Vedehiputta vua nước Magadha nói với Bà La Môn Vassakàra,
đại thần nước Magadha:
“Này
Bà La Môn, hãy đi đến Ðức Thế Tôn, và nhân danh Ta, cúi
đầu đảnh lễ chân Ngài, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu
não, khinh an, khoẻ mạnh, lạc trú:”Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu
Vedehiputta vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ dưới chân
Thế Tôn, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an,
lạc trú” và khanh hãy bạch tiếp:”Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu
Vedehiputta vua nước Magadha muốn chinh phục dân Vajji, vua tự
nói:”Ta quyết chinh phục dân Vajji này, dầu chúng có uy quyền,
có hùng mạnh, ta quyết làm cỏ dân Vajji; ta sẽ tiêu diệt
dân Vajji, ta sẽ làm cho dân Vajji bị hoại vong”. Ðức Thế
Tôn trả lời khanh thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại cho
ta biết. Các Ðức Thế Tôn không bao giờ nói lời hư vọng”.
“Tôn
Vương, xin vâng”. Bà La Môn Vassakàra, đại thần nước Magadha
vâng theo lời dạy của Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha
cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình cỡi lên một chiếc,
cùng với các cỗ xe ấy đi ra khỏi Ràjagaha, đến tại núi
Linh Thứu, đi xe đến chỗ còn dừng xe được, rồi xuống
xe đi bộ đến chỗ Ðức Thế Tôn, khi đến liền nói lên
những lời thăm hỏi xã giao với Ðức Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà La Môn Vassakàra,
đại thần nước Magadha, bạch Ðức Thế Tôn:
“Tôn
giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu
đảnh lễ chân của tôn giả Gotama, vấn an Ngài có thiểu
bệnh, thiểu não, khinh an, khoẻ mạnh, lạc trú. Tôn giả Gotama,
Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục xứ Vajji.
Vua tự nói:” Ta quyết chinh phục dân Vajji này, dầu chúng
có uy quyền, có hùng mạnh, ta quyết làm cỏ dân Vajji; ta sẽ
tiêu diệt dân Vajji, ta sẽ làm cho dân Vajji bị hoại vong”.
Ðiều
kiện hưng thịnh của một quốc gia lúc bấy giờ, đại đức
Ananda đứng quạt sau lưng Ðức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn nói
với đại đức Ananda:
“Này
Ananda, người có nghe dân Vajji thường hay tụ họp và tụ
họp đông đảo với nhau không?”.
-Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Vajji thường hay tụ họp và tụ họp
đông đảo với nhau.
- Này
Ananda, ngày nào dân Vajji thường hay tụ họp đông đảo với
nhau thời, này Ananda, dân Vajji sẽ được cường thịnh, không
bị suy giảm. Này Ananda, người có nghe dân Vajji tụ họp trong
niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc
trong niệm đoàn kết không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Vajji tụ họp trong niệm đoàn kết,
giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn
kết.
- Này
Ananda, khi nào dân tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán
trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết thời
này Ananda, dân Vajji sẽ được cường thịnh, không bị suy
giảm. Này Ananda, người có nghe dân Vajji không ban hành những
luật lệ không ban hành, huỷ bỏ những luật lệ đã được
ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajji như đã
ban hành thuở xưa thời, này Ananda, dân Vajji sẽ được cường
thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, người có nghe dân Vajji
tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng
lão Vajji và nghe theo lời dạy của những vị này không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Vajji tôn sùng, kính trọng, đảnh
lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajji và nghe theo lời
dạy của những vị này.
- Này
Ananda, khi nào dân Vajji tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng
dường các bậc trưởng lão Vajji và nghe theo lời dạy của
những vị này thời dân Vajji sẽ được cường thịnh, không
bị suy giảm. Này Ananda, người có nghe dân Vajji không có bắt
cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajji phải
sống với mình không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Vajji không có bắt cóc và cưỡng
ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajji phải sống với mình.
-
Và này Ananda, khi nào dân Vajji không có bắt cóc và cưỡng
ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajji phải sống với mình
thời, này Ananda dân Vajji sẽ được cừơng thịnh và không
bị suy giảm.
- Này
Ananda, người có nghe dân Vajji tôn sùng, kính trọng, đảnh
lễ, cúng dường các tự miếu của Vajji ở tỉnh thành và
ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ
trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Vajji tôn sùng, kính trọng, đảnh
lễ, cúng dường các tự miếu của Vajji ở tỉnh thành và
ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ
trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp.
- Này
Ananda, khi nào dân Vajji tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng
dường các tự miếu của Vajji ở tỉnh thành và ngoài tỉnh
thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã
làm từ trước đúng với quy pháp, thời Ananda dân Vajji sẽ
được cừơng thịnh và không bị suy giảm. Này Ananda, người
có nghe dân Vajji bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các
vị A La Hán ở Vajji khiến các vị A La Hán chưa đến sẽ
đến trong xứ, và những vị A La Hán đã đến được sống
an lạc không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Vajji bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng
pháp các vị A La Hán ở Vajji khiến các vị A La Hán chưa đến
sẽ đến trong xứ, và những vị A La Hán đã đến được
sống an lạc.
- Này
Ananda, khi nào dân Vajji bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp
các vị A La Hán ở Vajji khiến các vị A La Hán chưa đến
sẽ đến trong xứ, và những vị A La Hán đã đến được
sống an lạc thời, này Ananda dân Vajji sẽ được cường thịnh,
không bị suy giảm.
Rồi
Ðức Thế Tôn với Bà La Môn Vassakàra, đại thần nước Magadha:
- Này
Bà La Môn, một thời ta sống ở Vesàli tại tự miếu Sarandada,
ta dạy cho dân Vajji bảy pháp bất thối này. Này Bà La Môn,
khi nào bảy pháp bất thối này còn được duy trì giữa dân
Vajji, khi nào dân Vajji được giảng dạy bảy pháp bất thối
này, thời này Bà La Môn, dân Vajji sẽ được cường thịnh,
không bị suy giảm.
Khi
được nói như vậy, Bà La Môn Vassakàra, đại thần nước
Magadha bạch với Ðức Thế Tôn:
- Tôn
giả Gotama, nếu dân Vajji chỉ hội đủ một pháp bất thối
này, thời dân Vajji nhất định sẽ được cừơng thịnh,
không bị suy giảm, huống nữa là đủ cả bảy pháp bất
thối. Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta vua nước Magadha,
không thể đánh bại dân Vajji ở chiến trận, trừ phi dùng
ngoại giao hay kế ly gián. Tôn giả Gotama, nay chúng con phải
đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận.
- Này
Bà La Môn, người hãy làm những gì người nghĩ là hợp thời.
Bà
La Môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha hoan hỉ, tán
thán lời dạy của Ðức Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy
và từ biệt”.
Giáo
sư bác sĩ Trần Ngọc Ninh đã chuyển bảy pháp bất thối
này ra ngôn ngữ của thời hiện đại như sau:
1.
Sinh hoạt dân chủ.
2.
Tinh thần đoàn kết dân tộc.
3.
Nguyên tắc pháp trị.
4.
Sự hoà đồng thế hệ.
5.
Sự kính trọng phụ nữ.
6.
Sự tôn trọng tín ngưỡng.
7.
Chính sách thu hút trí thức[15].
Như
vậy, bảy pháp bất thối này, không phải là một lý thuyết
để tranh luận đúng hoặc sai, mà là một điều hiển nhiên
phải thực hành mà bất cứ nhà cai trị nào thực tâm muốn
quốc gia mình tồn tại và phát triển.
Với
Ðức Phật, sự phát triển tâm linh cho mỗi cá nhân cũng như
những vấn đề chung của cộng đồng xã hội là phải thực
hành cho đúng chứ không phải lý thuyết hay quan điểm. Như
một lần Ðức Phật đã cảnh cáo các đệ tử của Ngài
đừng nên xây dựng hay đứng dưới bất cứ một lý thuyết
nào, vì:
“Này
các Kaccàyana, thế gian, phần lớn thế gian, lần mò đi tìm
những hệ thống, và bị trói buộc bởi những tín điều.
Những người nào không đi tìm những hệ thống, không cần
những lập trường lý thuyết, không theo những tín điều,
không nhận các tín điều, không coi các tín điều như pháo
đài. Người ấy sẽ không có sự hoài nghi và do dự, vì người
ấy không phụ thuộc vào kẻ khác để hiểu biết, sự hiểu
biết của người ấy là sự hiểu biết tự chứng. Khi ấy,
mới là quan điểm chân chính”.(Samyutta Nikaya)
Lời
cảnh giác ấy của Ðức Phật sau hơn 20 thế kỷ lại đúng
hơn bao giờ hết. Vì chẳng phải thế kỷ 20 là thế kỷ mà
con người trên hành tinh này đã là nạn nhân cho những pháo
đài lý thuyết, ý thức hệ và tín điều đó sao?
Và
chừng như Ðức Phật cũng đã tiên đoán sự thống khổ như
vậy rồi:
“Mỗi
quan điểm này là một bụi rậm, một sa mạc, một mê cung,
một sự nô lệ, một sự trói buộc trí thức, chỉ đem laiï
đau đớn, khổ cực, rối loạn và náo động”.(Majjhima Nikaya)
Bài
kinh Ðức Phật dạy về bảy pháp bất thối này, nằm trong
kinh thứ 16 trong tập Digha Nikaya, được hoà thượng Minh Châu
dịch, có nhan đề là Những ngày và những lời dạy cuối
cùng của Ðức Phật. Trong lời giới thiệu, hoà thượng Minh
Châu đã viết rằng:”Nhìn những hoạt động trong những
ngày tháng cuối cùng, chúng ta càng thấy rõ tâm trạng của
vị Ðạo Sư, không nghĩ gì đến sức khỏe của mình, mà
chỉ lo làm sao cho đệ tử của mình khỏi bơ vơ, lạc lõng
một khi mình không còn nữa để dạy bảo”.
Thật
đúng như vậy, mỗi khi đọc Những ngày và những lời dạy
cuối cùng của Ðức Phật, tôi cứ nghĩ rằng, giả như Ðạo
Phật không có Tam Tạng kinh điển mà chỉ có Những ngày và
những lời dạy cuối cùng này thì cũng đủ giữ vững tinh
thần để chúng ta đủ sức đứng dậy và tiếp tục bước
đi giữa cuộc đời thống khổ và gần như thiếu vắng tình
thương này.
Khởi
đầu từ núi Linh Thứu ở thành Vương Xá. Sau khi đã trải
qua hơn 13 thị trấn và thành phố, cuối cùng Ðức Phật đến
Kusinara, giữa rừng cây Sa La mặc dù không phải mùa nhưng
bỗng nở rộ như để chào giã biệt Ðức Phật lần cuối.
Trong
cuộc hành trình dài đằng đẵng ấy, mặc dù sức khỏe đã
suy kiệt nhưng đến đâu và dừng chân chỗ nào Ngài cũng
đều nhắc nhở các Tỳ Kheo đệ tử xuất gia của Ngài phải
nỗ lực tu tập ngày và đêm ba pháp vô lậu là giới, định,
và tuệ vì đó là giáo lý căn bản nhất trên con đường
dẫn đến chấm dứt mọi khổ đau.
Cùng
với bảy pháp bất thối, bảy điều kiện để làm hưng thịnh
cho một quốc gia mà Ðức Phật đã thuyết giảng cho Vassakàra,
đại thần của nước Magadha ở trên, thì nhân đó Ðức Phật
cũng nhắc nhở bảy pháp bất thối, nghĩa là bảy điều kiện
để làm hưng thịnh cho tăng đoàn.
Tại
Pàtaligàma, Ðức Phật đã thuyết giảng cho các cư sĩ, tức
những đệ tử tu tại gia của Ngài thấy năm sự nguy hiểm
đối với những ai phạm giới cấm, nghĩa là sống trái với
giới luật. Và ngược lại có năm sự lợi ích cho những
ai giữ giới, sống đúng theo giới luật.
Trong
năm điều lợi ích đó, có hai điều đặc biệt cần nói
ở đây:
Ðiều
1 Ðức Phật bảo:”Này các gia chủ, người giữ giới sống
theo giới luật, thì sẽ có tiền của dồi dào, vì sống không
phóng dật...”.
Và
điều thứ 3:”Lại nữa này các gia chủ, người giữ giới,
sống theo giới luật khi đi vào đồ chúng nào, hoặc Sát Ðế
Lị, hoặc Bà La Môn, hoặc gia chủ, Sa Môn, người ấy đi
vào với tâm không sợ hãi, bối rối”.
Giữ
giới như vậy không còn bị giới hạn trong phạm vi gọi là
“tội phước” như cách hiểu thông thường của mọi người.
Vì không phóng dật có nghĩa là chúng ta không còn bỏ tiền
của một cách vô ích vào những “cuộc vui suốt tháng, trận
cười suốt đêm” nữa. Chẳng phải đã có biết bao gia đình
đổ vỡ và ly tán chỉ vì đời sống buông thả đó sao?
Nhưng
quan trọng hơn nữa là, khi tâm hồn chúng ta trong sạch, thì
chúng ta sẽ không run sợ hoặc bối rối trước bất cứ ai,
dù đó là những kẻ có địa vị cao hơn ta (Bà La Môn, Sát
Ðế Lị... của Ấn Ðộ thời đó), còn ngày nay thì chúng
ta thường gọi là những kẻ có chức có quyền, lúc nào cũng
sẵn sàng “dương oai diệu võ” để chứng tỏ uy quyền
trước những người thấp cổ bé miệng.
Như
vậy, giữ giới theo Ðạo Phật cũng có nghĩa là chúng ta tự
khẳng định nhân cách của chúng ta giữa xã hội mà ta đang
sống vậy.
Với
Ðạo Phật, tất cả phải bắt đầu ngay từ mặt đất tăm
tối và đầy khổ đau này, nghĩa là Tùng địa dũng xuất
như kinh Pháp Hoa của Ðại Thừa đã công bố như vậy. Vì
chỉ trong bóng tối con người mới khao khát ánh sáng và cũng
chỉ trong bùn lầy thì con người mới mơ ước ngước nhìn
bầu trời cao rộng kia.
Cũng
trong cuộc hành trình cuối cùng ấy, khi Ðức Phật dừng chân
bên bờ sông Hằng (Gangà) thì Ngài thấy “Sông Hằng tràn
ngập nước đến bờ đến nỗi con quạ cũng có thể uống
được. Có người đang đi tìm thuyền, có người đang tìm
phao, có người cột bè để qua bờ bên kia. Ðức Thế Tôn,
mau lẹ như người lực sĩ duỗi cánh tay được co lại hay
co cánh tay được duỗi ra, biến mất từ bờ bên này và hiện
ra trên bờ bên kia với chúng tỳ kheo.
Ðức
Thế Tôn tháy những người kia, người đang đi tìm thuyền,
người đang đi tìm phao, người đang đi cột bè để qua bờ
bên kia. Ðức Thế Tôn hiểu được ý nghĩa của cảnh này.
Lúc ấy Ngài bèn ứng khẩu cảm khái:
“Những
ai làm cầu vượt biển trùng dương, bỏ lại đất sũng đầm
ao, trong khi người phàm phu đang cột bè, những người ấy
thật là những vị được giải thoát bởi trí tuệ”.
Dù
đó là lời cảm khái của Ðấng Giác Ngộ, một bậc thánh,
nhưng đọc lên ta cảm thấy gần gũivới chúng ta làm sao!
Ta có cảm tưởng Ngài không còn ngồi trên toà sen để thuyết
pháp cho chúng ta nữa, mà Ngài là một thi nhân đang bước
đi giữa cuộc đời khổ đau này để hát lên bài ca hy vọng.
Hy vọng vào một ngày mai con người sẽ vươn lên được khỏi
mặt đất tối tăm này.
Ðiều
ấy cũng chẳng có gì lạ, vì trước khi giác ngộ, Ngài cũng
là một con người như chúng ta, nghĩa là Ngài cũng đã từng
trải qua biết bao thống khổ như chúng ta. Nhưng bằng sự
nỗ lực phi thường của chính bản thân, để rồi cuối cùng
Ngài đã đến được đỉnh núi cao nhất của Tuệ Giác Vô
Thượng.
Nhưng
đoạn văn trên đã làm một sử gia Tây Phương vốn cảm tình
với Phật Giáo phải thất vọng. Will Durant viết:
“Bây
giờ chúng ta phải từ ngọn núi triết lý đó tụt xuống
mà nghe những chuyện hoang đường ngây thơ lưu truyền về
cuối đời cùng lúc tịch của Phật. Mặc dù Ngài kinh thường
các phép mầu mà đệ tử của Ngài cũng thêu dệt cả ngàn
truyện về những việc thần kỳ Ngài đã thực hiện được.
Chỉ trong nháy mắt Ngài bay qua bờ bên kia con sông Hằng”[16].
Tất
nhiên, với tư cách một sử gia Will Durant có lý do chính đáng
để bày tỏ nỗi thất vọng của mình như vậy.
Nhưng
vấn đề thần thông hay phép lạ mặc dù không đóng vai trò
gì trong sinh hoạt thực tế của con người, nhưng dường như
từ bao đời nay con người vẫn luôn luôn ám ảnh và thắc
mắc. Vậy nhân đây ta có thể xem thử thần thông hay phép
lạ có thực hay không? Và quan điểm của Ðức Phật về thần
thông và phép lạ như thế nào?
Thực
ra, từ những thập niên đầu của thế kỷ 20, thần thông
hay phép mầu là có thực, bà Alexandre David Neel trong tác phẩm
Mysties and Magicians Tibet, đã cho biết chính mắt bà đã thấy
người Tây Tạng đi thoăn thoắt trên hư không? Ðiều đó
được giải thích như thế nào? Ðây là lời giải thích của
giám mục Charles W.Leadbeater (1847 - 1934) người Anh, sau nhiều
năm học đạo với các Ðạo sĩ trên Tuyết Sơn:
“...
Thí dụ con ngườikhông thể nhấc tảng đá nặng 1 tấn lên
được, dù là lực sĩ có lập luyện vì bắp thịt con người
vốn giới hạn và 1 tấn là một trọng lượng quá lớn so
với sức mạnh bắp thịt của con người. Trái lại, với
sự luyện tập ý chí để sử dụng những luồng thần lực
trong thiên nhiên, con người có thể nhấc tảng đá nặng hàng
tấn lên một cách dễ dàng. Ðiều này xét ra có vẻ khó tin
và phản khoa học, nhưng khoa học thực nghiệm đặt căn bản
trên những định luật vật chất vốn giới hạn, không thể
giải thích những hiện tượng siêu nhiên vượt khỏi áp lực
vật chất được. Trong thời gian tu tập trên Tuyết Sơn, tôi
đã chứng kiến nhiều đạo sĩ gầy gò, mình hạc xương mai
nhấc bổng những tảng đá khổng lồ, nặng cả tấn, để
lấp cửa hang, vì không muốn ai làm rộn đến sự tĩnh tu
của họ. Hiển nhiên họ không dùng sức mạnh của bắp thịt
mà sử dụng một thứ sức mạnh siêu nhiên và không làm để
biểu diễn mà coi đó là một việc bình thương như trăm ngàn
những việc “bình thường” vẫn xảy ra trên rặng núi nằm
ở phía Bắc xứ Ấn này”[17].
Nhưng
việc các Thiền Sư Tây Tạng sử dụng thần thông như vậy
có trái với giáo lý của Ðức Phật không? Theo La Ma Govinda
thì:”Tôi được các vị Lạt Ma cao cấp giải thích rằng
Phật Giáo Tây Tạng không bao giờ đề cập đến việc tu
luyện thần thông như một mục đích. Thần thông chỉ là
một kết quả tự nhiên (by-product) của việc tu cầu giải
thoát. Khi chứng đắc quả vị thì dĩ nhiên người tu sẽ
có được thần thông. Tuy nhiên, vì nằm trên một vị trí
đặc biệt, một vài phương tiện vẫn được cho phép truyền
dạy trong các tu viện”.[18]
Trong
kinh Kiên Cố (Kevaddha) có ghi lại khi Ðức Phật ở tại Nalanda,
có cư sĩ trẻ tuổi tên là Kevaddha thỉnh cầu Ðức Phật
hãy chỉ dạy cho các Tỳ Kheo hiện thượng nhân pháp, thần
thông biến hóa để chinh phục dân Nalanda, xứ sở mà trong
kinh nói là rất phồn thịnh và dân cư đông đúc. Kevaddha
thỉnh Phật đến lần thứ ba như thế này:
“Bạch
Thế Tôn, con không muốn phiền nhiễu Thế Tôn. Con chỉ nói:
Bạch Thế Tôn, Nalanda này có uy tín và phồn thịnh, nhân dân
đông đúc và tín kính Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu
Thế Tôn chỉ giáo cho một Tỳ Kheo hiện thượng nhân pháp,
thần thông biến hóa. Nhờ vậy Nalanda này sẽ được nhiều
người kính tín Thế Tôn hơn nữa”.
Và
Ðức Phật đã nói rõ cho Kevaddha biết rằng:
“Này
Kevaddha, có ba pháp thần thông này ta đã tự chứng và tuyên
thuyết. Thế nào là ba? Tức là biến hoá thần thông: một
thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện
hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi
ngang qua hư không, độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền
như ở trong nước, đi trên nước không chìm như đi trên đất
liền, ngồi kiết già trên hư không như con chim (...). Tha tâm
thần thông: nói lên tâm, nói lên tâm sở, nói lên sự suy
tầm, nói lên sự suy tư của các loài hữu tình khác, của
các người khác:”Như vậy là ý của Người, thế này là
ý của Người, như vậy là tâm của Người”.
Nhưng
Ðức Phật bảo cho thanh niên trẻ tuổi Kevaddha biết rằng
Ngài từ chối hai loại thần thông trên, vì theo Ðức Phật,
“ta thấy sự nguy hiểm trong sự biến hóa thần thông (cũng
như Tha Tâm Thông) mà ta nhàm chán, hổ thẹn và ghê sợ...”.
Và
Ðức Phật chỉ chấp nhận giáo hóa thần thông. Và Ðức
Phật đã giảng cho thanh niên Kevaddha biết giáo hóa thần thông
là như thế này:”Hãy suy tư như thế này, chớ suy tư như
thế kia; hãy tác ý như thế này, chớ tác ý như thế kia;
hãy trừ bỏ điều này, hãy chứng đạt và an trú điều kia”[19].
Dường
như hầu hết những tôn giáo chính của nhân loại hiện nay
đều truyền đạo theo quan điểm của người thanh niên trẻ
tuổi Kevaddha này, nghĩa là dùng thần thông hay phép lạ để
chinh phục con người trở về với tôn giáo của mình.
Ðọc
Cựu Ước cũng như Tân Ước, ta thấy Ðức Chúa Cha Yavê cũng
như Ðức Chúa Con Jesus thi đua nhau làm phép lạ. Nhưng phép
lạ không phải để cứu vớt mọi người một cách bình đẳng,
mà làm phép lạ bằng cái tâm phân biệt, cái tâm tính toán
hơn thiệt hẳn hoi:
“Các
Người không đi theo thần khác, thần của các dân ở xung
quanh các Người, vì Yavê Thiên Chúa của Người, ở giữa
Người là Thiên Chúa ghen tuông, khí nộ của Yavê Thiên Chúa
của Người sẽ bừng lên phạt Người và Người sẽ bị
tru diệt Người khỏi mặt đất”.[20]
Dù
sao thì việc Ðức Chúa Trời tạo dựng trời đất và loài
người đến nay vẫn còn là một huyền thoại, thì chuyện
khí nộ và ghen tuông của Ngài đối với những người không
chịu đi theo tín ngưỡng của Ngài tất nhiên cũng chỉ là
chuyện hoang đường thôi. Vậy mà chuyện hoang đường ấy
lại bị những người phàm mắt thịt nhân danh sự ghen tuông
của Ngài để xô đẩy một phần nhân loại (Âu Châu thời
Trung Cổ) vào con đường tăm tối.
Ðến
nay nhân loại như vẫn còn nhắc nhở bởi cái chết đau lòng
của triết gia Brunô, Brunô bị thiêu sống vào năm 1592, và
sau đó năm 1633 nhà thiên văn học lỗi lạc Galilê bị đưa
đến Rome để hạ nhục. Nhưng buồn cười là, ta không thấy
Ðức Chúa Cha Yavê dùng phép lạ để thiêu sống Brunô hay
bắt cóc Galilê đưa đến Rome đâu hết, mà chỉ thấy những
con người trần tục nhân danh Thiên Chúa để lập nên cái
gọi là pháp đình tôn giáo (inquisition) để thỏa mãn lòng
ganh tỵ nhỏ nhen của chính họ mà thôi.
Có
lẽ chính vì vậy mà ta mới thấm thía lời dạy của Ðức
Phật:
“Ta
thấy sự nguy hiểm trong sự biến hoá thần thông mà ta nhàm
chán, hổ thẹn và ghê sợ”.
Người
Ðông Phương chúng ta nói chung và Trung Quốc nói riêng vốn
rát say mê thần thông biến hoá, Tây Du Ký là một trường
hợp điển hình. Ðiều đó cũng dễ hiểu vì thân xác của
ta vốn nặng nề và thô kệch quá, nên ai cũng mơ ước một
ngày nào đó sẽ cất cánh bay lên khỏi mặt đất xám xịt
này. Nhưng có lẽ cũng còn có một lý do nữa, đó là vì truyền
thống đạo lý Ðông Phương đều dạy con người phải chống
lại cái ác, nhưng khi thấy cái ác vẫn tiếp tục tồn tại
và gần như tung hoành khắp nơi, nhưng bất lực, vì sức người
có hạn. Có lẽ đó là lý do vì sao tất cả đều say mê nhân
vật hư cấu Tôn Ngộ Không, vì Tôn Ngộ Không dùng thần thông
để tiêu diệt bọn yêu ma quỷ quái, biểu tượng cho cái
ác. Ngược lại, tất cả những con quỷ mà dùng thần thông
để hãm hại người lành, biểu tượng cho cái thiện, thì
tất cả đều căm giận và cầu mong bọn ma quỷ sớm bị
Tôn Ngộ Không dùng thần thông để tiêu diệt.
Dù
sao đó cũng chỉ là những ước mơ có tính cách đời thường
mỗi khi ta cảm thấy bất lực trước những bất công phi
lý của cuộc đời mà thôi. Nhưng đã là đệ tử của Ðấng
Giác Ngộ thì chúng ta phải ý thức một cách triệt để rằng,
muốn bay vĩnh viễn ra khỏi mặt đất đau khổ này thì phải
bằng ý chí và nghị lực chứ không phải bằng thần thông
hay phép lạ, như Ðức Phật đã từng tuyên thuyết:
“Con
thiên nga chỉ bay được giữa hư không, người có thần thông
chỉ bay được khỏi mặt đất. Duy chỉ có Bậc Ðại Trí,
trừ diệt ma quân mới bay được khỏi trần gian này”. (Pháp
Cú – HT Trí Ðức dịch)
Và
rồi trên đường đi, Ðức Phật không bỏ lỡ bất cứ một
cơ hội nào dù nhỏ nhặt đến đâu đi nữa Ngài cũng đều
thể hiện tình thương bao la của Ngài, dù biết rằng tình
thương đó sẽ đem nguy hiểm đến cho bản thân vốn đã suy
yếu vì tuổi tác già nua của Ngài.
Khi
Ðức Phật đi đến Pàvà thì Ngài trú tại vườn Xoài của
người thợ sắt có tên là Cunda. Nhân cơ hội này, Cunda đã
thỉnh Phật và chúng Tỳ Kheo đến nhà ngày hôm sau để thọ
trai. Ngày hôm sau, Ðức Phật và chúng Tỳ Kheo đến, như thường
lệ, Ðức Phật liền ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Sau khi
ngồi xuống, Ðức Phật đã nói với người thợ sắt Cunda
rằng:”Này Cunda, loại mộc nhĩ đã dọn sẵn này chỉ dọn
cho ta ăn thôi. Còn các món ăn khác thì hãy dọn cho chúng Tỳ
Kheo”.
Rồi
sau đó Ðức Phật đã giải thích lý do vì sao Ngài không cho
chúng Tỳ Kheo ăn món ăn thượng hảo hạng này:”Này Cunda,
món ăn mộc nhĩ còn lại, Người hãy đem chôn đi. Ta không
hề thấy một ai, ở cõi trời và người, ở Ma Giới hoặc
Phạm Thiên, không một người nào trong chúng Sa Môn và Bà
La Môn mà ăn món mộc nhĩ này có thể tiêu hóa được”.
“Sau
khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Ðức Phật bị nhiễm bệnh
nặng, đau đớn gần như đến chết. Rồi Ðức Phật đã
chánh niệm tĩnh giác, nhẫn nại chịu đựng cơn bệnh”.
Trong
những giây phút cuối cùng ở Kusinara, dù đang trong cơn đau
đớn Ngài vẫn lo lắng sau này Cunda sẽ bị người đời ngộ
nhận về bữa ăn cuối cùng này, nên Ngài đã nói với Ananda:
“Này
Ananda, rất có thể có người sẽ làm cho thợ sắt Cunda hối
hận, bằng những lời như thế này:”Này hiền giả Cunda,
thật không lợi ích gì cho Ngươi, thật là tai hại cho Ngươi,
vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ Người cúng dường
mà phải nhập Niết Bàn”.
Và
Ðức Phật đã căn dặn Ngài Ananda có bổn phận phải làm
tiêu tan sự hối hận ấy của người thợ sắt Cunda.
Nếu
khi Ðức Phật ngồi trên pháp toà để công bố thế giới
khổ đau và con đường đưa đến chấm dứt khổ đau được
xem như là một tình thương vĩ đại đối với loài người,
thì việc Ðức Phật dừng lại bên đường xỏ kim chỉ hộ
cho một bà Lão, hay đến phút cuối cùng dù đau đớn mệt
mỏi vẫn lo lắng nghĩ đến lòng hối hận của thợ
sắt Cunda phải được xem là một tình thương vĩ đại hơn
nữa. Vì nếu Ngài không rời pháp tòa để đến với những
kẻ cùng khổ nhất thì tình thương của Ngài chỉ được
xem là một thứ tình thương:”ân huệ” từ trên cao ban xuống
mà thôi.
Cũng
tại Pàvà, quê của người thợ sắt Cunda, Ðức Phật đã
kể lại một kinh nghiệm quan trọng từ sự chứng nghiệm
của chính bản thân Ngài. Ta có thể xem đây như là sự khởi
đầu trong cuộc hành trình để tiến đến chấm dứt đau
khổ.
Lúc
bấy giờ có Pukkusa, học trò của đạo sĩ lừng danh Aølàra
Kalàma đang đi trên đường từ Kusinàrà đến Pàvà thì thấy
Ðức Phật đang ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây, Pukkusa đảnh
lễ và ngồi xuống một bên bạch với Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn, thật là hy hữu,
trạng thái trầm tĩnh của một bậc xuất gia”.
Rồi
Pukkusa kể rằng, thầy của mình là Alàra Kalàma lúc ấy đang
ngồi nghĩ trưa dưới một gốc cây không xa con đường chính
là bao, thì có khoảng 500 cỗ xe đi ngang qua gần chỗ ngồi,
nhưng Aølàra Kalàma vẫn ngồi bất động, có một người
đi cùng đoàn xe thấy vậy liền đến hỏi:
“Tôn
giả có thấy khoảng 500 cỗ xe vừa đi qua không?”.
Alàra
Kalàma trả lời không.
Như
vậy Tôn giả đang ngủ?
-
Ta không ngủ.
Vậy
thì Tôn giả đang thức.
Aølàra
Kalàma xác nhận là mình đang thức.
Ðể
đáp lại lời đệ tử của Alàra Kalàma, Ðức Phật hỏi
Pukkusa như thế này:
“Này
Pukkusa, nhà ngươi nghĩ thế nào? Cái gì khó làm hơn, cái gì
khó thực hiện hơn? Một người trong khi giác tĩnh, còn thức
mà không thấy 500 cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng
không nghe tiếng. Hay một người đang giác tĩnh, còn thức
không khi trời đang mưa, mưa tầm tã, ào ào, trong khi điện
quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy, cũng không
nghe tiếng?”.
-Bạch
Thế Tôn, nói gì đến 500 cỗ xe này, cho đến hoặc 600, hoặc
700, hoặc 800, cũng không thể so sánh được. Thật khó làm
hơn, khó thực hiện hơn, một người đang giác tĩnh, còn thức,
trong khi điện quang chớp loà, sấm sét vang động mà không
thấy cũng không nghe tiếng?”
- Này
Pukkusa, một thời Ta ở Aøtumà, tại nhà đập lúa. Lúc bấy
giờ trời mưa, mưa tầm tã, ào ào, điện quang chớp lòa,
sấm sét vang động. Có hai anh em nông phu, và bốn con bò đực
bị sét đánh chết. Này Pukkusa, một số đông người từ
Atumà đi ra đến tại chỗ hai anh em nông phu và bốn con bò
đực bị sét đánh chết.
- Này
Pukkusa, lúc bấy giờ Ta từ nhà đập lúa đi ra và đi qua lại
ngoài trời, trước cửa nhà đập lúa. Này Pukkusa, có một
người từ nơi đám đông ấy đi ra, đến chỗ Ta, đảnh lễ
và đứng một bên. Và Ta đã nói với người đang đứng một
bên ấy:
- Này
hiền giả, vì sao có số đông người tụ tập như vậy?
- Bạch
Thế Tôn, vừa rồi trời đang mưa, mưa tầm tã, ào ào, điện
quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu và
bốn con bò đực bị sét đánh chết. Do vậy mà có số đông
người ấy tụ họp tại đây. Bạch Thế Tôn, lúc ấy Ngài
ở tại chỗ nào?
- Này
hiền giả, lúc ấy ta ở tại đây.
- Bạch
Thế Tôn, Ngài không thấy gì cả sao?
-
Này hiền giả, Ta không thấy gì.
-
Bạch Thế Tôn, Ngài không nghe tiếng gì cả sao?
-
Này hiền giả, ta không nghe tiếng gì.
-
Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang ngủ, phải không?
-
Này hiền giả, không phải ta đang ngủ.
-
Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang tỉnh thức phải không?
-
Này hiền giả, phải.
-
Bạch Thế Tôn, Ngài đang tỉnh thức, nhưng trong khi mưa, mưa
tầm tã, ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động,
có hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết,
nhưng Ngài không thấy cũng như không nghe gì?
-
Này hiền giả, phải như vậy.
-
Này Pukkusa, người ấy liền tự nghĩ:”Thật là kỳ diệu,
thật là hy hữu, sự trầm lặng của vị xuất gia, khi thức
tỉnh, dù có mưa tầm tã, ào ào, điện quang chói lòa, sấm
sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị
sét đánh chết mà không thấy gì, không nghe gì hết”. Sau
khi nói lên lòng tin tưởng ở nơi Ta, người ấy đảnh lễ,
thân phía hữu hướng về Ta và từ biệt.
Khi
được nói như vậy, Pukkusa, dòng họ Malla bạch Ðức Thế
Tôn:
“Bạch
Ðức Thế Tôn, sự tin tưởng của con đối với Aølàra Kalàma,
nay con đem rải rắc trước luồng gió lớn, nay con đem thả
trôi vào dòng nước cuốn. Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Hy
hữu thay! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những
gì bị quăng xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ
đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong
bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc”. [21]
Kinh
Potthapada (Bố thác bà lậu), cũng cho biết rằng, du sĩ ngoại
đạo Potthapada tại một hội trường ở nước Xá Vệ, có
tên là Ekasàlaka, hội trường dùng để bàn luận về chánh
kiến và tà kiến, du sĩ ngoại đạo Potthapada cũng đã lưu
ý với các môn đệ của mình rằng “Sa Môn Gotama ưa mến
sự trầm lặng”:
Lúc
bấy giờ du sĩ ngoại đạo Potthapada ngồi với đại chúng
du sĩ ngoại đạo, đang ồn ào, la lối, lớn tiếng bàn luận
về những vấn đề phù phiếm như câu chuyện về vua chúa,
câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện
về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến
tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu
chuyện về đồ mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện
về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà
con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện
về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc
độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu
chuyện về vị anh hùng, câu chuyện về bên lề đường, câu
chuyện về tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã
chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện về hiện
trạng thế giới, hiện trạng đại dương, câu chuyện về
sự hiện hữu và sự không hiện hữu”.
Du
sĩ ngoại đạo Potthapada thấy Ðức Phật từ xa đến, liền
khuyến cáo đồ chúng của mình:”Các tôn giả hãy nhỏ tiếng,
các tôn giả hãy đừng làm ồn. Nay Sa Môn Gotama đang đến,
Ngài ưa mến sự trầm lặng, vị Sa Môn này tán thán sự trầm
lặng. Nếu biết chúng ta yên tĩnh, Ngài có thể ghé đến
đây”. [22]
Vậy
là từ những vấn đề thấp hèn nhất như:”Câu chuyện về
ăn trộm, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống,
câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về giường nằm, câu
chuyện về xe cộ, câu chuyện về bên lề đường...” đến
những vấn đề cao siêu của các triết gia, đạo sĩ như:”Câu
chuyện về hiện trạng thế giới, về sự hiện hữu và sự
không hiện hữu” đều được ghi lại đầy đủ ở đây.
Không
còn hồ nghi gì nữa, từ hơn mấy mươi thế kỷ nay con người
trên mặt đất này chỉ bàn lui bàn tới chừng ấy chuyện
mà thôi.
Vì
thấy rõ sự phù phiếm, vô ích như vậy, nên Ðức Phật đã
cảnh cáo những kẻ suốt đời cứ sa đà trong những tranh
luận hay cãi cọ :
“Người
kia không hiểu rằng:”Chúng ta sắp bị huỷ diệt” (mới
phí sức tranh luận hơn thua). Nếu họ hiểu rõ điều đó
thì chẳng còn tranh luận nữa” (HT Trí Ðức dịch).
Nếu
Phật Giáo cũng được xem là tôn giáo như Thiên Chúa Giáo,
Hồi Giáo, Do Thái Giáo... thì lời khuyên của Ðức Phật thật
là độc đáo. Vì tôn giáo thường đi đôi với sự răn đe,
thưởng phạt (thiên đường, địa ngục,...) nhưng Ðức Phật
thì ngược lại, Ngài chỉ trình bày một sự thật hiển nhiên,
đó là cuộc đời quá ngắn ngủi đối với mỗi người trong
chúng ta, nên chúng ta đừng phí thời gian vào những tranh cãi
vô tích sự như vậy nữa.
Vậy
Ðức Phật đã khuyên chúng ta phải làm gì để tránh cái
họa sắp bị huỷ diệt đó?
Ðương
học nhập không
Tinh
cư chỉ ý
Lạc
độc bình xứ
Nhất
tâm quán pháp
Ði
vào nhà trống
Tâm
ý thanh tịnh
Hưởng
một niềm vui khác thường hơn
Khi
thầy Tỳ Kheo một lòng
Tinh
tấn nhất tâm quán pháp
(Pháp cú – Trúc Thiên dịch)
Kinh
Pháp Cú còn cho biết, chỉ những ai thích sống một mình ở
nơi u tịch thì người ấy mới có thể nếm được mùi pháp
vị, mới có thể xa lìa được mọi sự sợ hãi và ác nghiệp:
“Ai
đã từng nếm mùi vị độc cư, ai đã từng nếm mùi tịch
tịnh, người ấy còn ưa nếm mùi Pháp vị, để xa lìa mọi
tội ác, sợ hãi”. (HT Trí Ðức dịch)
Và
cái tâm của người thích độc cư ấy được ví như hồ
nước sâu, vắng lặng và trong sạch:
“Như
hồ nước sâu, yên lặng và trong sạch. Những người có trí
sau khi nghe Pháp tâm họ cũng thanh tịnh và yên lặng như vậy”
(HT Trí Ðức dịch).
Ðọc
lịch sử Ðức Phật, chúng ta còn nhớ, sau khi đã trải qua
6 năm đi tìm kiếm chân lý, đã từng khổ hạnh, đã từng
ép xác đến nỗi chỉ còn da bọc xương, đã từng học đạo
dưới sự hướng dẫn của những triết gia lỗi lạc nhất
của Ấn Ðộ thời bấy giờ như Alàrama Kalama hay Uddaka Ràmaputta,
và đã được những triết gia này xác nhận là trình độ
cũng như tu chứng vượt hẳn họ. Nhưng Ðức Phật đã không
thoả mãn với những điều đã đạt được này, vì cái mà
Ngài đi tìm kiếm là chấm dứt mọi đau khổ của kiếp người
vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng.
Giữa
lúc tưởng chừng như bế tắc ấy thì Ngài chợt nhớ lại
lúc còn thơ ấu trong một buổi sáng theo vua cha đi dự lễ
hạ điền. Trong khi vua cha cùng với triều đình và thần dân
đang vui chơi lễ hội, thì một mình Ngài lặng lẽ đến ngồi
dưới một bóng cây râm mát, và sau khi đã nhập Thiền, Ngài
đã chứng được sơ Thiền. Khi nhớ lại giây phút tuyệt
vời ấy, Ngài đã quyết định rời bỏ những người bạn
đồng tu, dùng lại vài vật thực thô sơ nhưng cần thiết
cho việc phục hồi sức khoẻ. Dưới gốc cây Bồ Ðề, Ngài
đã dễ dàng nhập sơ Thiền (Jhàna) từng Thiền mà Ngài đã
đạt được thuở buổi ấu thời. Và cứ như vậy, cuối
cùng Ngài đã hoàn thành tuệ giác vô thượng (chánh đẳng
chánh giác) chấm dứt hoàn toàn mọi khổ đau, và Ðức Phật
đã tự khẳng định:”Tái sanh đã chấm dứt, đời sống
phạm hạnh đã được viên mãn, đã làm xong những việc phải
làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.
Rồi
Ðức Phật rời gốc cây Bồ Ðề bên dòng sông Ni Liên Thuyền
u tịch trở lại với trần gian đau khổ với sứ mạng:”Dựng
đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những
gì bị che kín, chỉ đường cho những người lạc hướng,
đem đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể
thấy sắc”.
Và
mặc dù Ngài được xem là vị giáo chủ hoạt động tích
cực và nhiệt thành nhất trong lịch sử tôn giáo của nhân
loại. Vậy mà Ngài vẫn không bỏ phí chút thời gian nào,
theo lời Sandha, đệ tử của Ngài thì mỗi khi có dịp:”Ðức
Thế Tôn lại tìm đến những khu vườn hoang vu, thâm u tĩnh
mịch, không một tiếng động, nơi gió rì rào thổi qua cánh
đồng cỏ ẩn kín không ai hay, nơi thuận tiện cho việc trầm
tư quán tưởng”. (Kinh thoại ứng).
Ngày
nay hàng ngàn đô thị giàu sang và lộng lẫy đang thi đua nhau
mọc lên trên khắp thế giới. Văn minh đô thị tràn đến
đâu thì tất nhiên đời sống nặng về hưởng thụ sẽ đi
đến đó. Bởi vậy, những dòng sông, rặng núi hay những
thôn làng xa xôi vắng vẻ “nơi gió rì rào thổi qua cánh
đồng cỏ ẩn kín không ai hay” nay không còn là nơi để
con người thảnh thơi đứng nhìn những buổi chiều tà, để
con người còn có dịp cúi xuống nhìn lại thân phận phù
du của chính mình nữa, mà là những nơi đó nay chỉ còn có
những kẻ trọc phú hay quyền cao chức trọng thì mới có
đủ điều kiện để đến. Tất nhiên họ đến không phải
để thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên mà đến để
tận hưởng những thú vui vật dục mà nền văn minh đô thị
đã cung cấp cho họ:
“Làm
sao ta có thể vui được, làm sao ta ta có thể đắm chìm trong
lạc thú được? Những ngọn lửa đốt cháy thiên thu, bóng
tối đang vây phủ. Ta không muốn tìm ánh sáng sao?”
(Pháp
cú – Phạm Công Thiện dịch)
Câu
trên Ðức Phật đã tuyên thuyết cách đây trên 20 thế kỷ,
vậy mà bây giờ mới thực sự tác động một cách mãnh liệt
đến ta?
Chẳng
phải vì hiện nay chúng ta đang từng ngày, từng giờ chết
ngợp trong những thành phố đầy ám phủ đó sao?
*
Thi
sĩ Hàn Mặc Tử, được xem như là nhà thơ theo Thiên Chúa
Giáo thuần thành và ngoan đạo nhất. Nhưng thật là bất ngờ
Hàn Mặc Tử lại có lần đã phải dẫn đến tư tưởng Phật
Giáo để giải thích cõi thơ siêu hình của mình:
“Và
tôi sẽ thuyết minh một cách rất nhà Phật là Sắc cũng như
Không, Chết cũng như Sống, Gần cũng như Xa và Hư cũng như
Thực... Những điều phải trái ấy dầu thế nào đi nữa,
cũng có liên lạc mật thiết và thông cảm với nhau”. [23]
Và
điều quan trọng nhất theo tôi vẫn là, Hàn Mặc Tử là nhà
thơ của Việt Nam đầu những thập niên của thế kỷ 20 có
nhiều bài thơ khuyên bảo con người nên bỏ bớt ba hoa ồn
ào lải nhải đi. Vì theo Hàn Mặc Tử chỉ trong im lặng thì
trái tim của con người mới biết rung động đến tình yêu
lơn lao hơn:
Ai
hãy làm thinh chớ nói nhiều
Ðể
nghe dưới đáy nước hồ reo
Ðể
nghe tơ liễu rung trong gió
Và
để xem trời giải nghĩa yêu...
Nhưng
đôi khi thi nhân lại cảm thấy choáng ngợp trước cái tình
yêu quá bao la và quá vĩ đại đó:
Ðang
khi mầu nhiệm phủ ban đêm
Có
thứ gì rơi giữa khoảng im
Rơi
tự thượng tầng không khí xuống
Tiếng
vang nhè nhẹ dội vào tim
Nhưng
cũng có lúc tình yêu đó dù mơ hồ nhưng ta có cảm tưởng
rất gần đâu đây, nghĩa là chỉ xung quanh ta đây thôi:
Trong
làng nắng ửng khói mơ tan
Ðôi
mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột
soạt gió trêu tà áo biếc
Trên
giàn thiên lý – bóng xuân sang
Có
thể đó là một mùa xuân êm đềm trong một xóm quê có nắng
mai rất đẹp của tuổi thơ đã xa? Hay cũng có thể là một
mùa xuân hoang sơ thuở đất trời còn hoang sơ thuần phát?
Mà trong những đêm khuya khoắt hay trong những giờ phút tịch
liêu nhất ai trong mỗi người chúng ta ít nhất cũng có một
lần cảm nhận được?
Nhưng
theo quan điểm của Phật Giáo hễ khi nào con người còn khao
khát ham muốn, dù là ham muốn về cái đẹp có tính cách tâm
linh đi nữa, thì con người vẫn còn đau khổ về cái mà mình
đang khát khao đạt cho được ấy. Như Hàn Mặc Tử đã xác
nhận:
Tôi
đau vì rùng rợn đến vô biên
Hoặc:
Chao
ôi! Ghê quá trong tư tưởng
Một
vũng cô liêu cũ vạn đời.
Không
hiểu sao cứ mỗi lần đọc Hàn Mặc Tử của Việt Nam tôi
lại liên tưởng đến Tô Ðông Pha của Trung Quốc.
Hàn
Mặc Tử của Việt Nam chỉ nói lên sự đau khổ, sự cô đơn
tột cùng của một kẻ đang đi tìm kiếm cái đẹp, nhưng
Tô Ðông Pha thi hào bên đời Tống của Trung Quốc mới bộc
lộ một cách chân thành (tất nhiên là đầy kiêu hãnh) về
sự thất bại bi tráng của mình trong việc đi tìm kiếm cái
đẹp của vô hạn qua con đường của thi ca:
Sư
dĩ vong ngôn chân hữu đạo
Ngã
trừ sưu cú bách vô công
Minh
niên thái dược Thiên Thai thứ
Cánh
dục đề thi mãn Triết Ðông
Sư
đã quên lời, quả tình là Sư đã có Ðạo
Tôi
thì ngoài việc tìm câu nối chữ, hoàn toàn vô tích sự
Sang
năm sẽ vào núi Thiên Thai hái thuốc để cầu Ðạo
Nhưng
vẫn còn muốn đề thơ đầy cả miền Triết Ðông [24]
Bốn
câu thơ trên được trích từ một bài thơ mà Tô Ðông Pha
đã làm để tặng cho người bạn thân thiết của mình là
Văn Trưởng Lão Phương Trượng.
Tô
Ðông Pha và Hàn Mặc Tử dù cách xa nhiều thế kỷ, thế giới
thơ cũng rất khác nhau. Cả hai cùng đau khổ nhưng sự đau
khổ của mỗi người cũng khác nhau. Tô Ðông Pha đau khổ
vì suốt đời cứ bị đày ải và lao tù, có lần còn suýt
bị hành hình nữa. Còn Hàn Mặc Tử thì đau khổ vì tuyệt
vọng trước căn bệnh hiểm nghèo.
Nhưng
có một điều mà Tô Ðông Pha và Hàn Mặc Tử giống nhau,
đó là cả hai, nói theo cách nói trong bài thơ của Tô Ðông
Pha, thì cả hai đều bị đọa đày bởi những chân trời
viễn mộng (Lao viễn mộng, mà Tuệ Sỹ đã dịch là đọa
đày viễn mộng).
Vậy
ta thử xem Tô Ðông Pha định vứt bỏ thi ca, vứt bỏ chân
trời viễn mộng đó vào núi để tìm kiếm cái gì?
Ngày
nọ có một người khách lạ đến hỏi Ðức Phật:
“Những
người thường lai vãng chốn rừng sâu. Những bậc thánh nhân
cả đời sống trong đạo hạnh. Mỗi ngày chỉ ăn có một
lần.
Tại
sao các vị ấy trông có vẻ tự tại? Xin Ngài chỉ cho?
Ðức
Phật đáp:
“Những
vị ấy không than van sầu muộn những chuyện đã qua, không
nóng nảy khát khao những gì chưa đến, mà chỉ tập trung
tâm trí vào hiện tại. Do đó các vị ấy được tự tại”.
Tô
Ðông Pha và Hàn Mặc Tử chưa bắt được cái giây phút hiện
tại vĩnh cửu ấy, cho nên vẫn còn đau khổ chăng?
Chắc
chắn phải trải qua nhiều cuộc chiến đấu phi thường với
chính bản thân mình, phải vượt qua nhiều cám dỗ rất vi
tế, vi tế đến nỗi mà tâm thức cứ tưởng đó là chân
thật. Nhưng thật ra đó chỉ là hoa đơm đớm giữa hư không,
là ảo ảnh (trong đó có ảo ảnh về cái đẹp(Lao viễn mộng)
của các thi nhân) nên Ðức Phật mới sử dụng được một
thứ ngôn ngữ vô cùng giản dị để khẳng định giây phút
an lạc của hiện tại vĩnh cữu của chính mình một cách
đầy uy lực như vậy.
Có
lẽ ngày nay nhân loại đã thực sự thức tỉnh và nhận ra
rằng, không ai có thể cứu rỗi được cho ai hết. Và sẽ
không có một thiên đường nào ở ngày mai, nếu hiện tại
của ngày hôm nay con người không chịu nỗ lực để loại
bỏ những điều xấu xa và thấp hèn ở trong chính bản thân
mình.
Bởi
thế cho nên cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi cái an lạc
của hiện tại vĩnh cữu mà bậc Trí giả trầm lặng của
dòng Thích Ca đã công bố cách đây trên 20 thế kỷ vẫn là
“điểm hẹn” không chỉ trong thế kỷ 21 này mà chắc chắn
sẽ còn tiếp tục trong những thế kỷ sau nữa. Vì chẳng
phải Albert Einstein nhà Vật lý học lỗi lạc của Mỹ, người
đã đoạt giải Nobel về Vật lý năm 1921 đã tiên đoán rằng:”Tôn
giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ” (The religion
of the future will be a cosmic religion) và Albert Einstein đã tự
trả lời Tôn giáo ấy chính là Phật Giáo:”Nếu có một
Tôn giáo nào thích hợp được với những nhu cầu của nền
khoa học hiện đại thì tôn giáo đó chính là Phật Giáo”
(If there is any religion that would cope with modern scientific needs,
it would be Buddhism) [25]đó sao?
Mùa
Sen nở 2548
Chú
thích:
(1):
Lịch sử triết học Phương Đông, tập 3 của Nguyễn Đăng
Thục, lời tựa. NXB. Tp.HCM, năm 2000.
(2):
Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây Phương, của
Lê Tôn Nghiêm, tr.16. NXB. Lá Bối, Sài Gòn năm 1969.
(3):
Chép theo trí nhớ
(4):
Tuấn Huy trong đặc san tưởng niệm Bùi Giáng lần thứ 4 (2002),
tr. 54, nhiều tác giả.
(5):
Nt. Tr. 50
(6,7):
Nguyễn Hiến Lê dịch
(8):
Lịch sử văn minh Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê dịch, tr. 83-84.
NXB. Trung tâm thông tin Đại học Sư phạm, Tp. HCM năm 1999.
(9):
Đức Phật và Phật Pháp của Narada Thera, Phạm Kinh Khánh dịch,
tr.382. NXB. Tp. HCM.
(10):
Nt. Tr.96
(11,12):
Đức Phật đã dạy những gì của WalPola Rahula, Thích nữ
Trí Hải dịch tr.196-198. NXB Tôn giáo, Hà Nội năm 2000.
(13,14):
Câu chuyện Triết học của Will Durant, Trí Hải dịch tr.39
và tr. 41,NXB. Tu thư Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn 1971.
(15):
Đức Phật giữa chúng ta của Trần Ngọc Ninh tr.69 NXB Lá Bối,
Sài Gòn 1972.
(16):
Lịch sử văn minh Ấn Độ Nguyễn Hiến Lê dịch, tr.103, NXB
Văn hoá Thông tin Tp. HCM năm 2003.
(17):
Trở về từ xứ Tuyết Nguyên Phong dịch, tr.109-110.
(18):
Đường mây qua xứ tuyết, Nguyên Phong dịch, tr.62
(19):
Trường bộ Kinh, tập 2, HT Minh Châu dịch, NXB Tu thư Đại
học Vạn Hạnh, Sài Gòn 1967.
(20):
Kinh Thánh, chương thư luật trong Cựu Ước, Linh mục Nguyễn
Thế Thuấn dịch. NXB. Dòng Chúa cứu thế, Tp. HCM 1976.
(21):
Những ngày và những lời dạy cuối cùng của Đức Phật,
HT Minh Châu dịch. NXB Ban tu thư Đại học Vạn Hạnh năm 1967.
(22):
Trường bộ Kinh, Kinh Potthapada, HT Minh Châu dịch, NXB Tu thư
Đại học Vạn Hạnh 1967.
(23):
Một đêm siêu hình với Hàn Mặc Tử của Phạm Công Thiện,
tr.28. NXB. Viên Thông, Hoa Kỳ năm 2000.
(24):
Tô Đông Pha, những phương trời viễn mộng của Tuệ Sỹ,
tr.144. NXB. Ca dao Sài Gòn năm 1973.
(25):
Chép theo trí nhớ trong tác phẩm Phật Giáo dưới mắt các
nhà trí thức của Thích Tâm Quang dịch.