NHỮNG
ĐIỂM ĐẶC SẮC CỦA PHẬT GIÁO
Tác
giả: Lâm Thế Mẫn - Việt dịch: Thích Chân Tính
Nếu
chúng ta đem so sánh Phật giáo với các tôn giáo khác hiện
tồn tại trên thế giới, có thể phát hiện rất rõ ràng
giữa Phật giáo và các tôn giáo khác có nhiều chỗ khác nhau.
Tôi mạn phép đem vấn đề này quy nạp thành mười điểm
để thuyết minh. Cũng chính là nói Phật giáo tối thiểu có
mười điểm đặc sắc như thế.
1/
Phật là người mà không phải là thần
Nhìn
chung các tôn giáo trên thế giới, ngoài Phật giáo ra, giáo
chủ của các tôn giáo đều tự cho mình là “thần” cách
siêu nhân. Thần ấy có thể hô phong hoán vũ, điểm đá thành
vàng. Ngài là chúa tể ban phước giáng họa cho nhân loại.
Ngài điều khiển mọi vinh nhục sống chết của vạn vật.
Loài người chỉ có phủ phục trước mặt ngài, ca ngợi và
xưng tán, đem tất cả thành tựu vinh quang quy về cho thần
vạn năng cả. Ai tin tưởng vào tài năng của thần thì được
lên Thiên đường, phản đối lại sẽ bị đọa vào địa
ngục đời đời.
Giáo
chủ của Phật giáo - Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, câu nói đầu
tiên của Ngài lúc đến nhân gian này là : “Thiên thượng
thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Chúng ta nên chú ý chữ ngã
trong câu duy ngã độc tôn, không phải chỉ riêng bản thân
Thích Ca Mâu Ni, mà là chỉ cho toàn thể nhân loại.
Giải
thích chính xác câu ấy là : Người ta ở trong vũ trụ đầu
đội trời chân đạp đất, mỗi người đều là chúa tể
của chính mình, quyết định vận mạng của chính mình, mà
không phải nghe theo mệnh lệnh của ai hoặc vị thần siêu
nhân nào khác.
Đức
Thích Ca Mâu Ni nói là sự giác ngộ, và thành tựu của Ngài,
hoàn toàn đều do công phu nỗ lực và tài trí của chính mình.
Đức
Thích Ca Mâu Ni cho rằng, điều cát hung họa phước, thành
bại vinh nhục của một cá nhân quyết định ở hành vi thiện
ác và nỗ lực của chính bản thân họ. Không ai có thể đề
bạt ta lên thiên đường, cũng không người nào có thể đem
ta đẩy xuống địa ngục. Ca ngợi và tán thán không thể
lìa khổ được vui, chỉ có thực hành tu tâm sửa tính mới
có thể khiến cho nhân cách của mình tịnh hóa thăng hoa, khiến
cho mình hưởng thọ khoái lạc tâm an lý đắc.
Đức
Thích Ca Mâu Ni cũng không có phép chỉ đá hóa vàng được.
Ngài chủ trương “Người ta muốn thu hoạch cái gì thì trước
phải trồng thứ đó”. Ngài không thể khiến cho cây Liên
vụ sinh ra quả Tần bà được. Nếu bạn muốn được quả
Tần bà thì trước hết bạn phải gieo hạt giống Tần bà.
Đức Thích Ca Mâu Ni chẳng qua chỉ là bảo cho bạn biết trồng
như thế nào, để sau này thu được nhiều kết quả. Song
công việc vun trồng vẫn phải do chính nơi bàn tay của bạn.
Đức
Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp 49 năm, nói kinh hơn 300 hội, đều
vì chúng ta mà chỉ bày “con đường thành Phật” - tự chính
mình sáng tạo trí tuệ và nhân cách viên mãn triệt để nhất.
Thế nhưng con đường ấy phải nhờ vào nghị lực, trí tuệ,
hằng tâm của chính mình mới có thể đạt được. Cho nên
Phật nói : “Ta chỉ là người chỉ đường, còn đi đến
là do các ngươi”.
Con
đường đi đến quả vị Phật cần phải công phu tu hành
từng ly từng tí.
“Nếu
chẳng một phen xương lạnh buốt,
Hoa
mai đâu dễ ngửi mùi hương”.
(Thiền Sư Hoàng Bá Hy Vân)
2/
Phật là người rất bình đẳng
Tôi
nói Đức Phật là người rất bình đẳng không phải là vô
căn cứ. Trước tiên chúng ta hãy lấy bối cảnh xã hội của
Ấn Độ đương thời mà quan sát.
Ai
cũng biết xã hội Ấn Độ thời đại Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni, chia ra làm bốn đẳng cấp lớn là : Bà la môn, quý
tộc, bình dân và nô lệ. Điều đáng quý ở chỗ Đức Thích
Ca Mâu Ni là thái tử đã nhìn thấy sự bất hợp lý của
đẳng cấp xã hội, kiên quyết giương cao ngọn cờ bình đẳng,
chủ trương phế trừ giai cấp đối lập, đề xướng chúng
sinh bình đẳng.
Các
bạn đồng học thử nhớ lại xem, những cuộc cách mạng
trên lịch sử phần lớn là thuộc giai cấp cùng khổ đấu
tranh mong muốn được bình đẳng giai cấp và được “đề
cao” địa vị, tuyệt đối không có ai giống như Đức Thích
Ca Mâu Ni, tự nguyện đem thân phận thái tử thuộc giai cấp
quý tộc “giáng xuống” giai cấp bình dân. Cho nên tôi nói
Ngài là chân bình đẳng vậy.
Đồng
thời Phật giáo lại chủ trương “Vô duyên đại từ” và
“Đồng thể đại bi”, lại đem ý nghĩa của bình đẳng
nâng lên một bước nữa.
Tôi
nghĩ ý nghĩa của “Vô duyên đại từ” và “Đồng thể
đại bi” sẽ có những bạn chưa hiểu, tôi xin được phép
giải thích sơ như sau :
1/
Vô duyên đại từ : Phật giáo chủ trương không những đối
với người có quan hệ với mình, mình phải thương yêu như
cha mẹ, thân thuộc, bằng hữu… mà còn đối với người
không có quan hệ bạn bè thân thích với mình, mình cũng phải
thương yêu nữa. Như tôi đối với các bạn từ trước tới
nay chưa từng qua lại, không hề quen biết mà vẫn quan tâm
yêu quý như thân thích vậy.
2/
Đồng thể đại bi : Đồng thể đại bi là một loại tinh
thần người đói mình đói, người yếu mình yếu, xem hết
thảy chúng sinh trong vũ trụ, ta và người một thể, vui buồn
cùng chia sẻ, cốt nhục thâm tình.
Nhà
Nho thì nói : “Người trong bốn biển đều là anh em”, cũng
biểu hiện tinh thần “đồng thể đại bi”. Mà lòng từ
bi vô bờ bến của đức Địa Tạng Vương Bồ tát “Ta không
vào địa ngục thì ai vào ?” chính là chỗ tột cùng của
đồng thể đại bi vậy.
Cuối
cùng tôi xin nói thêm cái tinh thần “chân bình đẳng” của
Phật giáo biểu hiện cao nhất, chính là Phật giáo đem cái
quan niệm bình đẳng, không cục hạn nơi con người linh hơn
vạn vật. Phật giáo phản đối quan niệm cho rằng tất cả
động vật, trừ loài người ra, đều được sáng tạo để
cung cấp cho con người ăn. Tất cả động vật lúc chết kêu
la thảm thiết, thật là thương xót không nỡ thấy nghe. Phật
vì không từ bi khuyên Phật tử không nên vì miếng ăn mà
giết hại loài vật.
Phật
giáo còn tiến thêm một bước nữa khẳng định những động
vật bị chúng ta tự khoe mình là loài người linh hơn vạn
vật, đem giết chúng một cách bừa bãi đó, chúng cũng đều
có đầy đủ Phật tính, có tiềm năng thành Phật trong tương
lai. Mặc dù giữa người và động vật khác, trên hình thức
và trí tuệ có chỗ bất đồng, nhưng trên quyền lợi sinh
tồn và Phật tính thì là bình đẳng. (Giống như kẻ khốn
cùng ác độc hoặc ngu si vô tri, họ cũng có đầy đủ “nhân
tính”, chúng ta phải đem “nhân đạo” để đối xử với
họ, dùng “nhân đạo” để giáo dục, cảm hóa họ).
Người
xưa nói : “Trời có cái đức hiếu sinh” lại nói “vạn
vật với ta cùng sinh” đều là tư tưởng bình đẳng, xem
vạn vật là một thể. Chẳng qua chỉ chưa thấu triệt bằng
thuyết của Phật giáo mà thôi.
3/
Phật không phải là người sinh ra mà biết
Đức
Thích Ca Mâu Ni là một con người bình thường, Ngài họ Kiều
Đáp Ma, tên là Tất Đạt Đa, sinh tại Ấn Độ vào khoảng
thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch, nơi vườn Lâm Tỳ Ni, thành
Ca Tỳ La Vệ.
Năm
29 tuổi, Ngài xả bỏ vương vị mà mình sẽ kế thừa, xuất
gia học đạo, tìm cầu phương pháp giải thoát nhân sinh khỏi
khổ não. Trải qua 6 năm, lúc Ngài 35 tuổi, dưới gốc cây
Bồ đề bên bờ sông Ni Liên Thiền chứng được Chính giác,
giác ngộ một cách chính xác và thấu triệt đạo lý căn
bản của nhân sinh vũ trụ.
Từ
đấy người ta mới gọi Thích Ca Mâu Ni là Phật đà, hoặc
gọi tắt là Phật. Ý là giác tỉnh chân lý, hoặc gọi là
bậc giác ngộ.
Tôi
giới thiệu sơ qua việc tu hành của Đức Phật, mục đích
chủ yếu là nói với người đồng học. Đức Thích Ca Mâu
Ni với chúng ta đều là người bình thường cả, Ngài nhờ
vào việc tu hành mà ngộ đạo, mọi người chúng ta đều
có thể cùng nhau noi theo giáo pháp mà Ngài đã chỉ dạy để
tu hành và chứng quả.
Thích
Ca Mâu Ni - Ngài chỉ là một người giác trước, biết trước
trong vô số người, mà chúng ta là người giác sau biết sau.
Sự bất đồng giữa Phật và chúng ta không phải bất đồng
ở chỗ nhân cách, địa vị, mà là bất đồng ở một chữ
“Giác”. Cũng như Hàn Dũ nói : “Nghe đạo có kẻ trước
người sau” vậy.
4/
Phật giáo không thừa nhận có người tồi tệ không thể
giáo hóa
Cổ
nhân có nói “lãng tử hồi đầu vàng không đổi”. Người
làm cha mẹ ở đời, luôn luôn mở rộng cõi lòng, ngóng chờ
đứa con lưu lạc (lãng tử) có ngày hồi đầu trở lại,
dù con cái của họ gây tạo tội lỗi ngập đầu. Xưa nay
chưa có cha mẹ nào lại nhẫn tâm hoặc mong muốn con mình
vĩnh viễn chịu khổ trong địa ngục nơi âm u tăm tối, nước
sôi lửa dữ.
Phật
giáo thừa nhận tính người là thiện lương, chỉ cần buông
dao bỏ xuống, có thể tu hành thành Phật. Phật cho rằng hết
thảy tội ác đều là do nơi vô tri (Phật giáo gọi là vô
minh) dẫn dắt mà sinh ra. Nhân đấy mà hết lòng khuyên bảo,
đêm ngày khai đạo chỉ bảo cho chúng sinh thay đổi tâm tính,
chính là trách nhiệm của Phật. Đức Phật quan tâm đối
với chúng sinh “như mẹ thương con”, không những không nỡ
thấy thân chúng sinh chịu khổ nơi địa ngục, mà còn phát
thệ nguyện lớn “địa ngục chưa trống, thề không thành
Phật, chúng sinh độ hết, mới chứng Bồ đề” (Bồ đề
ý là giác ngộ hoặc chính đạo, chứng Bồ đề ý là đắc
đạo hoặc thành Phật).
Ôi,
còn lòng từ nào hơn ! Còn bi nguyện nào hơn ! Đó mới là
lòng thương chân thật !
5/
Phật không phải là độc nhất vô nhị, mọi người đều
có thể thành Phật
Ở
phần thứ ba đã nêu Phật và chúng sinh chỉ là trước và
sau của thời gian giác ngộ mà thôi.
Phật”
chỉ là tên gọi chung cho những vị đã giác ngộ. Cũng giống
như chúng ta gọi “người truyền đạo, truyền nghề” là
“giáo sư” vậy. Giáo sư không chỉ có một vị, ai ai cũng
có thể làm giáo sư được, nơi nơi đều có thể có giáo
sư. Đạo lý cũng vậy, Phật không phải chỉ có một cá nhân
Thích Ca Mâu Ni mà người người đều có thể thành Phật,
chỗ chỗ đều có thể có Phật. Không chỉ thế giới này
có Phật, mà vô số tinh cầu trong vũ trụ đều có thể có
Phật (đương nhiên cũng có chúng sinh).
Điểm
này cũng là chỗ bất đồng căn bản giữa Phật giáo và tôn
giáo khác. Tôn giáo khác chỉ thừa nhận thần của họ là
“độc nhất vô nhị”, và ra sức công kích, phủ định
thần của giáo phái khác là “thần giả”.
Đồng
thời về giáo nghĩa của họ chỉ dạy thì loài người dù
có nỗ lực phấn đấu đến đâu đi nữa, vĩnh viễn không
thể ngang bằng với thần được (mãi mãi vẫn là mối quan
hệ chủ nô). Bởi vì thần là đấng tạo vật, mà người
chẳng qua chỉ là một trong những “vật” mà thần sáng
tạo ra mà thôi.
6/
Phật giáo không thừa nhận có thần sáng tạo ra vạn vật
Quan
niệm vũ trụ vạn vật do thần vạn năng sáng tạo ra là không
hợp lý. Bởi lẽ thần chính là sản vật của tư tưởng
con người. Loài người dựa vào quan niệm và hình tượng
của mình mà tạo ra thần, nhằm mục đích để giải thích
nguồn gốc của nhân sinh vũ trụ, Phật giáo gọi đó là “nguyên
nhân đầu tiên”. Nếu cho rằng thần có thể sáng tạo nhân
sinh vũ trụ thì vị thần ấy do ai sáng tạo ra ? Những người
tin tưởng tuyệt đối sẽ cho rằng thần là vạn năng, tồn
tại một cách tự nhiên. Thần đã tồn tại một cách tự
nhiên, không bị ai sáng tạo ra, tự mình có thể tồn tại
được thì quan niệm thần sáng tạo ra nhân sinh vũ trụ còn
có ý nghĩa gì nữa (bởi vì cùng một lý ấy nhân sinh vũ
trụ cũng có thể tồn tại một cách tự nhiên được vậy).
Phật
giáo vốn phủ định giả thiết “thần sáng tạo ra vạn
vật”, vốn không thừa nhận vũ trụ có “bắt đầu”,
cái gọi là “bắt đầu” của một sự kiện chỉ là cái
“kết thúc” của một sự kiện trước mà thôi. Trong một
chuỗi quan hệ nhân quả, sự tiêu tan của một sự vật chính
là điều kiện để cấu thành một sự vật khác sinh khởi.
Tiến
sĩ Trương Trừng Cơ viết trong cuốn “Phật pháp là gì ?”
đối với vấn đề này cũng đã nêu : “Cái quan niệm “bắt
đầu” ấy, là do tâm lý “hữu hạn” của loài người
không thể hiểu thấu được mối quan hệ nhân quả sum la
vạn tượng”.
Thí
dụ như chúng ta đi xem phim, từ 7 giờ bắt đầu chiếu đến
10 giờ thì kết thúc. Chúng ta thử nhớ lại xem sự bắt đầu
của bộ phim tập 3, chính là sự kết thúc của bộ phim tập
2, mà sự kết thúc của tập 3 chẳng phải là bắt đầu của
tập 4 hay sao ? Cho nên khái niệm “bắt đầu” ấy chỉ có
ý nghĩa đối với một sự vật nhất định nào đó mà thôi,
còn đối với toàn thể vũ trụ chằng chịt đan quyện nhân
quả tương tục với nhau thì không có ý nghĩa gì hết. Thời
gian là vận động không ngừng, ai có thể từ trong ấy tìm
ra một điểm gọi là “hiện tại” đình chỉ bất động
? Về sau lại nói một điểm ấy chính là “bắt đầu”
ư ?
Thật
ra Phật giáo không hứng thú cho lắm về việc thảo luận
vấn đề không có lợi ích đối với nhân sinh như thế (Hình
nhi thượng học của triết học). Bởi vì vũ trụ là vô thủy,
cũng là vô chung, chúng ta có kiệt lực vắt óc tìm tòi “nguyên
nhân đầu tiên của vũ trụ” chỉ là uổng công phí sức
mà thôi. Lúc bạn khổ tâm tìm được nguyên nhân đầu tiên,
bạn nhất định sẽ phát giác ra trước nó vẫn có một “nhân”
nữa. Như thế tuần hoàn không dừng, xoay vần rồi trở lại
ban đầu, bạn vĩnh viễn tìm không ra “nguyên nhân đầu tiên”
cố định bất biến.
Vả
lại đời người ngắn ngủi, sinh mạng vô thường, nếu bạn
cứ ra công tìm kiếm nguyên nhân đầu tiên của vũ trụ, e
rằng thân bạn sẽ tiêu ma mà đáp án vẫn chưa tìm ra.
Trong
kinh Phật có câu chuyện tỉ dụ rất hay : Có một người
bị thương vì mũi tên độc, người thân bèn đem ông ta đến
y sĩ để chữa trị. Nếu lúc ấy người đó nói rằng : “Tôi
chưa muốn lấy mũi tên ấy ra, tôi muốn biết là ai đã bắn
tôi, người ấy là dòng Sát đế lợi ? Bà la môn ? Hay là
Thủ đà la ? Tên họ và thị tộc của hắn là gì ? Thân hắn
cao hay thấp ? Da hắn màu đen hay màu vàng ? Hắn ta từ làng
mạc, thành thị nào đến ? Tôi không muốn lấy mũi tên này
ra, nếu tôi chưa biết cây cung và dây cung làm bằng gì ? Hình
dáng mũi tên ấy ra sao, chế tạo bằng gì ? v.v…” Người
ấy chắc chắn sẽ chết trước khi biết được mọi thứ.
Cho
nên Phật giáo không lãng phí công sức và thời gian tìm hiểu
vấn đề “nguyên nhân đầu tiên của vũ trụ”. Bởi vì
tìm cầu cũng chỉ là vô dụng, đồng thời cũng chỉ là vô
ích đối với nhân sinh. Những thứ ấy với việc thoát ly
thống khổ sinh, lão, bệnh, tử của chúng ta không có liên
quan gì. Không thể khiến cho người ta từ chỗ hiểu biết
đó mà được an lạc hạnh phúc hay giải thoát.
Vấn
đề đã hơi kéo dài, hiện tại tôi xin bàn lại vấn đề
Phật giáo không chấp nhận vũ trụ vạn vật là do thần sáng
tạo, mà cho rằng vạn vật đều do “nhân duyên tụ hợp”
mà thành.
Ví
như một ngọn núi ở trước mắt ta, nó là sự tích tụ của
đất, đá; sông hồ là chỗ trũng chứa nước mà thành; lại
xem những cái bàn trong phòng học, là do thợ mộc dùng cây
mà đóng nên.
Nếu
đem đất đá phân tán ra thì không thành “núi” nữa; đem
nước hồ ao múc cạn hết thì thành đất trũng, bóng dáng
của “hồ ao” ở đâu ? Lại đem cây ván chia ra từng mảnh
một, vậy thì “cái bàn” ở chỗ nào ?
Một
vài thứ có thể xem thấy đó chúng ta có thể gọi nó là
“sắc”, bởi vì chúng chỉ là “nhân duyên tụ hợp tạm
thời” mà thôi, không phải chân thật bất biến. Cho nên
chúng ta nói nó là “không”, tức là không có thực thể
tồn tại vĩnh hằng bất biến.
Đó
chính là đạo lý đơn giản “sắc tức là không” ở trong
kinh Phật đã dạy.
Tuy
nhiên Phật giáo nói “sắc tức là không”, chữ “không”
ấy hoàn toàn không phải “không trống rỗng”, không có
gì, cũng không phải là “không” đối với có, mà là “chân
không diệu hữu”.
Vậy
câu “chân không diệu hữu” ấy là gì ? Tôi xin lấy một
ví dụ để các bạn rõ.
Trước
mắt chúng ta có một ly nước, sau khi đun sôi nước biến
thành hơi cạn hết, không còn thấy bóng dáng của nước nữa.
Thế nhưng cũng không thể nói nước tiêu mất thành “không”,
đến lúc hơi nước gặp lạnh lại trở thành “nước”
như cũ.
Những
vị hiểu về hóa học đều biết, nước là chất hóa hợp
của Hydro và Oxy, nói một cách khác “nước” chẳng qua là
chất hóa hợp tạm thời của Hydro và Oxy mà thôi. Nước sau
khi trải qua điện giải bèn biến thành khí Hydro và khí Oxy.
Theo đó mà suy thì vạn sự vạn vật trong vũ trụ không có
một thứ gì không phải là nhân duyên tạm thời tụ hội
mà thành, không có cái gì là vĩnh hằng bất biến. Nhân duyên
hợp thì sinh, nhân duyên tan thì diệt, làm gì ở trong đó
có “thần” sáng tạo vạn vật ? Làm gì có chuyện “vạn
vật” được sáng tạo ra ?
7/
Phật pháp tùy theo căn cơ hoàn cảnh mà giáo hóa
Phật
thuyết pháp cho chúng sinh là nhắm vào căn cơ khác nhau mà
giảng giải, tùy theo chỗ khác nhau về thời gian, không gian
mà lập giáo.
Phật
vì đối tượng khác nhau mà giáo hóa cho nên mới có những
giải thích khác nhau. Ví như đối với người trí tuệ cao,
Phật có thể nói thẳng đạo lý để họ minh tâm kiến tánh,
giác ngộ tức thời. Đối với người trí tuệ chậm lụt,
Phật dạy họ những phương pháp tu hành từng bước để
tiến tới quả vị Chính giác.
Lại
đối với người đắm mê danh lợi, Phật bèn nói với họ
“danh lợi đều là hư ảo”. Đối với người quan niệm
tiêu cực, cho rằng đời sống không có ý nghĩa gì, sinh mạng
hoàn toàn là hư vô không ảo, Phật nói với họ “thân người
khó được, mạng sống rất quý, người ta có thể nhờ đó
mà nỗ lực đạt đến hạnh phúc và an lạc”, để cổ vũ
dũng khí và tín tâm của họ.
Cùng
đạo lý ấy, do sự khác nhau của thời gian không gian, Phật
bèn nói những thí dụ và thuyết minh khác nhau.
Ví
như : Người Đài Bắc hỏi Phật rằng : “Đài Trung đi hướng
nào ?”. Lời đáp của Phật là “về hướng Nam”. Nhưng
đối với người ở Cao Hùng thì phải nói là “lên hướng
Bắc”. Cũng thế, vì địa phương chỗ ở của chúng sinh
khác nhau mà Phật nói có khác.
Phật
pháp có ba tạng mười hai bộ với tám vạn bốn ngàn pháp
môn (pháp môn là phương pháp tu hành). Những phương pháp tu
hành ấy đều vì thích ứng với căn khí của chúng sinh, vì
đối trị phiền não của chúng sinh mà chỉ bày.
Nếu
như không có chúng sinh thì cũng không cần có Phật pháp. Phật
pháp như “thuốc”, chúng sinh không có “bệnh” phiền não,
thuốc cũng không còn cần thiết.
Phật
pháp truyền nơi đời hơn hai ngàn rưởi năm, có thể thích
ứng với thời đại khác nhau, đó chính là vì Phật pháp
tùy theo căn cơ và hoàn cảnh mà giáo hóa. Phương pháp giáo
dục này chính là một trong những điểm đặc sắc của Phật
giáo.
8/
Phật pháp là nhập thế
Đạo
lý mà Phật giáo giảng dạy, tuy mục đích cuối cùng là “xuất
thế”, nhưng điều đó với tinh thần “nhập thế” không
có gì là mâu thuẫn cả (cái gọi là “xuất thế gian” không
phải là thoát ly, trốn tránh thế gian, mà là cải tạo thế
gian, xây dựng lại thế giới).
Lục
Tổ Huệ Năng nói : “Phật pháp tại thế gian, không lìa thế
gian mà giác ngộ, nếu lìa thế gian mà tìm Bồ đề, cũng
như tìm lông rùa sừng thỏ”. Chính là nói tu hành phải ở
tại thế gian, giác ngộ cũng ở tại nơi thế gian. Những
người có tâm hướng về Đạo, họ không thể chán bỏ thế
giới, trốn tránh loài người trên thế giới này mà “độc
thiện kỳ thân” tu thành chính quả. Bởi vì một người
muốn thành Phật, người ấy ngoài việc có đầy đủ thông
minh trí tuệ, vẫn phải có bi tâm thệ nguyện rộng lớn phổ
độ chúng sinh. Cần phải có cả “bi” và “trí” song hành,
đạt đến chỗ triệt để, viên mãn mới có thể thành Phật.
Cho nên Phật giáo lấy tinh thần xuất thế để làm sự nghiệp
nhập thế, từ lúc tu hành đến khi thành Phật, đã không
có “nhập thế” cũng không có “xuất thế”, mà là thẳng
một mạch tiến hành nơi thế gian này.
9/
Phật giáo không bài xích đạo khác
Phần
lớn các tôn giáo trên thế giới đều chỉ thừa nhận giáo
lý mà tôn giáo họ tin mới là chân lý duy nhất và ra sức
bài xích giáo lý của tôn giáo khác là tà thuyết. Phật giáo
thì cho rằng tất cả tôn giáo chỉ có sự khác nhau về giáo
nghĩa sâu hay cạn, rất ít có sự sai biệt về tốt xấu tà
chính. Bất kỳ tôn giáo nào đã tồn tại trên đời này 1000
năm trở lên, nhất định có lợi ích không nhiều thì ít,
ngược lại thì tôn giáo ấy sẽ bị “trí tuệ” loài người
ruồng bỏ, cho đến sẽ bị bão táp thời gian làm tiêu tan
mất rồi.
Vấn
đề là ở chỗ một số tôn giáo chỉ có thể đem lại cho
người ta niềm an lạc tạm thời và ngắn ngủi, có một số
tôn giáo thì đem lại cho người ta niềm hạnh phúc lâu dài
và mãi mãi.
Phật
pháp truyền nơi đời đã gần 3.000 năm, Phật giáo vẫn cùng
với tôn giáo khác sống hòa bình với nhau. Trên lịch sử
truyền giáo thì sự việc Phật giáo xung đột dẫn đến đổ
máu với tôn giáo khác, từ xưa tới nay chưa từng có.
Vấn
đề này chúng ta hãy xem qua lịch sử A Dục Vương của Ấn
Độ (thế kỷ thứ 3 trước CN), do thấm nhuần tinh thần từ
bi quảng đại của Đức Thích Ca Mâu Ni, qua một đoạn văn
Di giáo của ông, được ông cho khắc trên bia đá hiện nay
vẫn còn nguyên văn như sau : “Không thể chỉ tôn trọng tôn
giáo của mình mà chê bai tôn giáo người khác. Phải như lý
mà tôn trọng họ. Làm được như thế, không những giúp cho
tôn giáo của mình trưởng thành, mà còn làm tròn nghĩa vụ
đối với tôn giáo khác. Nếu làm ngược lại, thì không những
đem tôn giáo của mình chôn vùi, mà còn làm tổn hại đến
tôn giáo khác”.
“Nhân
đó, hài hòa mới là tốt đẹp. Quý vị đều phải nên lưu
tâm lắng nghe điều này, và hoan hỷ lắng nghe giáo lý của
tôn giáo khác”.
Từ
đoạn văn trên mà xét, tấm lòng khoan dung và thành ý ấy,
chính là một di sản rất trân quý trong văn hóa của Phật
giáo.
“Chân
lý” đối với Phật giáo là không có giới hạn quốc gia,
nó không phải là “nhãn hiệu” của tôn giáo nào cả. Nó
cũng không thuộc về một tôn giáo nào, hoặc thuộc về cá
nhân nào trong một thời đại nào. Cho nên chân lý mà Đức
Phật nói, không phải riêng một cá nhân Ngài có, bởi vì
Phật chẳng qua chỉ là một “người phát hiện chân lý”
mà thôi. Cũng giống như Newton phát hiện ra “sức hấp dẫn
của trái đất” vậy.
Nhân
đó Phật giáo cho rằng hết thảy đạo lý hợp lý, vĩnh hằng
bất biến đều là “Phật pháp”.
Câu
“bạn nên yêu thương kẻ thù của bạn” tuy xuất phát từ
Thánh kinh, nhưng Phật giáo thừa nhận không một chút nghi
ngờ đó là chân lý tốt đẹp đáng trân trọng. (Tương đồng
với “vô duyên đại từ” và “đồng thể đại bi” của
Phật giáo).
Phật
pháp giống như biển hồ mênh mông, nó có thể dung nạp hết
thảy sông ngòi lớn nhỏ trên địa cầu. Cho nên trong kinh
có câu “Hết thảy pháp đều là Phật pháp”.
10/
Phật giáo là dân chủ và tự do
Trong
một số tôn giáo lời nói của giáo chủ là mệnh lệnh không
được kháng cự, là chân lý không được phép hoài nghi. Ai
không phục tùng hoặc tỏ thái độ hoài nghi thì sẽ bị trời,
thần trừng phạt. Trong kinh điển của Phật giáo tuyệt đối
không tìm đâu ra sự tức giận của Đức Phật cả, càng
không thể có phương pháp xử phạt tàn khốc. Trong 49 năm
giáo hóa của Đức Phật, các đệ tử chỉ thấy Ngài lúc
nào cũng sắc diện tươi vui, tư cách hòa nhã, từ bi an lành.
Ngài đối với người tốt cũng như vậy, đối với người
hủy báng cũng như vậy.
Đức
Phật đối với đạo lý mà mình nói ra, dứt khoát không cưỡng
bức các đệ tử phải tiếp thụ, Ngài khuyến khích họ nên
hoài nghi thưa hỏi. Mãi cho đến 80 tuổi, lúc gần viên
tịch nơi giữa hàng cây Sa la, Ngài vẫn giảng dạy và nhắc
đi nhắc lại nếu các đệ tử còn thắc mắc nghi ngờ điều
gì cứ hỏi.
Phật
nói : “Nghi lớn thì ngộ lớn, nghi nhỏ thì ngộ nhỏ, không
nghi thì sẽ không ngộ”.
Phật
giáo cho phép và khuyến khích các tín đồ tự do hoài nghi
thưa hỏi những đạo lý mà bản thân giáo chủ nói ra, tiến
tới tinh thần nghiên cứu sâu xa hơn nữa. Quả là trên đời
này hiếm có một tôn giáo nào lại dân chủ và tự do như
thế.
Các
bạn đọc thân mến, chân lý không nên cưỡng bách người
khác tiếp thu. Chân lý chỉ có ở tiền đề của dân chủ,
tự do, của suy nghĩ chín chắn mới thực sự hiển xuất tinh
thần và giá trị của nó.
Mà
trong các tôn giáo trên thế giới chỉ có giáo chủ và kinh
điển của Phật giáo cho phép được hoài nghi, thảo luận
và nghiên cứu.
Xin
hoan nghinh các bạn học sinh đã có tinh thần nghiên cứu, có
nhân cách độc lập, tự chủ, có trí thông minh để nghiên
cứu Phật pháp. Cánh cửa rộng lớn của Phật giáo, mãi mãi
mở rộng đối với các bạn.
http://www.thuvienhoasen.org/nhungdiemdacsaccuaphatgiao-02.htm