ĐẠI ĐẾ
ASOKA
TS
Thích Minh Thành
Cuối
thế kỷ thứ tư tr.TC (trước CN), Vua Chandragupta vương triều
Maurya đã thành lập được một đế quốc vĩ đại và hùng
mạnh gồm cả Afganistan và Mysore. Những vùng lãnh thổ bên
ngoài biên giới Ấn Độ và tây pakistan ngày nay đã từng
thuộc về Vương quốc Ấn Độ của vua Chandragupta ngày xưa.
Thái tử Bindusara, con trai Chandragupta mở mang bờ cõi về phương
Nam. Vào năm 274 tr.TC, A-dục nối ngôi cha, thừa kế vương
quốc rộng lớn này từ hai vị vua tiền nhiệm vĩ đại và
những khai quốc công thần đắc lực, nổi bật là Kautilya
và Chanakya. Người ta có thể tính ra được phạm vi bành trướng
của A-dục như sau: Về phía Nam là Cholas, Pandiyas, Satiyaputras
và keralaputras; Về phía Bắc vương quốc A-dục đã vươn đến
tận chân núi Hy-mã-lạp-sơn gồm Kashmir và Nepal; Về phía
Tây Bắc vương quốc A-dục đã vươn tới chạm đến lãnh
thổ Persia và Syria của vua Antiocus; Và phía Đông A-dục đã
thôn tính được Kalinga năm 262 tr.TC. Như vậy triều đại
cả ba vị vua này đã tạo nên mùa bạo lực và bành trướng
cho đế quốc Ấn Độ triều đại Maurya.
Vào
thời đó những hoạt động trí thức tập trung vào các tu
viện là chính. Nhưng việc học tập và văn hóa dường như
cũng phổ biến đến quần chúng bình dân. Về tôn giáo của
hoàng tộc thì có một truyền thuyết cho rằng Chandragupta theo
đạo Kỳ-na. Mahãyama - Tikã kể lại rằng Janasana, ngoại đạo
lõa thể phái ÃJĩvika, làm tư tế riêng cho hoàng tộc Bindusara.
Cả hai tác phẩm Samantapãsãdikã và Mahavamsa đều nói rằng
Bindusara đón tiếp những cư sĩ và những nhà khổ hạnh bà-la-môn
thuộc những phái khác nhau.
Trong
3 năm đầu sau khi lên ngôi A-dục cũng theo nếp cũ của cha
nhưng vào năm thứ 4 A-dục cải giáo trở thành một Phật
tử. Tác phẩm Mahãvamsa kể rằng trước đó A-dục được
người ta gọi lén bằng hỗn danh Hung-thần A-dục (Cadasoka)
vì sự tàn bạo của ông ta nhưng sau đó vì lòng mộ đạo
mà ông ta có thanh danh là Hộ-pháp A-dục vương (Dhammasoka).
Sau
chiến dịch Kalinga, A-dục gần như biến thành một con người
khác hẳn. Qua duyên may gặp gỡ các vị cao tăng ông đã tra
thanh gươm vào vỏ và thề sẽ không bao giờ dùng bạo lực
để chinh phục nhân gian nữa. Từ nay trở đi ông sẽ tập
trung sức mạnh vào cuộc chinh phục của đạo đức và tâm
linh.
Những
sắc lệnh Bhabru và sắc lệnh trên trụ đá ở Sarnath, Kausambi
và Sanchi cho thấy rằng Phật giáo đã được vua A-dục hết
lòng hộ trì. A-dục là vị vua đầu tiên thiết lập Phật
Giáo thành quốc giáo của Ấn Độ. Tất cả những tập tục
và những thiết định xã hội đang được tuân hành thời
đó đều bị hủy bỏ nếu như trái nghịch lại tinh thần
của Phật Giáo, những tập tục và những thiết định mới
được thay vào.
Đối
với những sắc dân có đất đai nằm sát biên giới thì A-dục
tuyên bố rằng: “Nhữnq người đó không cần phdi lo sọ,
hãy đặt niềm tin vào nhà vua, hãy sống với hạnh phúc, chớ
không phải với buồn rầu. . . tiếng trống xâm lăng trong
chiến trưònq khi xưa đã trở thành tiếng trống pháp kêu
gọi mọi ngưòi quay về nẽo thiện”.
Tâm
nhiệt thành và lòng sùng mộ thâm sâu đối với Phật Giáo
không làm cho nhà vua có thái độ bất nhã đối với những
tôn giáo khác. Ngược lại A-dục không những tôn trọng mà
còn giúp đỡ vật chất cho tất cả tôn giáo. Tinh thần khoan
dung tôn giáo này đã đbản thân đức Phật truyền dạy cho
các Đệ tử. Kinh Upãli trong Trung bộ kinh ghi lại sự kiện
Upãli một người cư sĩ giàu có, danh tiếng ở Nãlan đã và
cũng là đệ tử tại gia của Ni Kiền Tử. Upãli bày tỏ ước
muốn trở thành một thiện nam Đệ tử của Phật. Phật khuyên
Upãli nên tiếp tục việc ủng hộ vật chất cho Ni Kiền Tử
cho dù đã trở thành một Cư sĩ Phật tử. Rõ ràng là câu
chuyện về thái độ khoan dung tôn giáo này đã gây ấn tượng
mạnh trong tâm thức của vua A-dục.
Trong
một vương quốc mênh mông với nhiều giáo phái đa dạng là
người cai trị sáng suốt và rộnglượng. A-dục phải ra sức
xây dựng và phát huy tác dụng một hệ thống đạo đức
như thế nào để mọi người dân thuộc mọi dạng tín ngưỡng
khác nhau đều có thể tiếp nhận được. Do đó A-dục chuẩn
hóa danh từ “Chánh pháp” và thường xuyên sử dụng nó
trongcác sắc lệnh của mình để chỉ cho những việc như
sau:
(1)
Nghe lời và trọng kính cha mẹ, anh chị và thầy tổ;
(2)
Đối xử tử tế và rộng rãi đối với các nhà khổ hạnh,
bà-la-môn, sa-môn, quyến thuộc, bạn bè, thân hữu, đồng
hành, tôi tớ, người nương tựa, người nghèo, người khốn
khổ.
(3)
Tránh xa việc giết hại các loài sinh mạng.
(4)
Tốt bụng chơn thật, thân tâm thanh tịnh.
(5)
Hòa nhã, thánh thiện, tự chủ, biết ơn.
(6)
Kiên định trong niềm tin và đạo đức.
(7)
Tiết độ trong thu chi và tích lũy.
Những
đạo lý trên được A-dục đề xướng dưới tên gọi chung
là “Chánh pháp” đã được đông đảo mọi người chấp
nhận. Như thế A-dục đã ra công thành lập một Tôn giáo
đại đồng. Trong lịch sử loài người đây có lẽ là nổ
lực đầu tiên của một vị đứng đầu nhà nước hướng
tới việc xây dựng một tôn giáo đại đồng phổ quát dành
cho tất cả mọi người muốn có một đời sống an vui và
hạnh phúc.
A-dục
đã áp dụng nhiều phương pháp để thúc đẩy tinh thần đạo
đức của dân chúng. Theo sắc lệnh trên trụ đá VII. A-dục
đã ra lệnh truyền bá đạo lý tôn giáo và ban hành những
huấn thị tôn giáo. Ông đã bổ nhiệm chức vụ Chánh pháp
Đại thần (Dhãrma-Mahãmãtras) và những chức vụ khác trong
Bộ Chánh pháp với nhiều hạng ngạch khác nhau để phổ biến
thông điệp đạo đức của ông đến với tất cả giáo phái
và sắc tộc: Phật Giáo, Kỳ na giáo, du sĩ Ãjivikas và những
giáo phái khác. Thay cho những chuyến đi dã ngoại truy hoan
hay săn bắn theo hoàng triều thông lệ, vua A-dục lại đi hành
hương dể huấn thị thần dân và chiêm bái những địa điểm
thiêng liêng. Để kích khởi tâm thức thiện lành của dân
chúng và khuyến khích nếp sống đạo đức nên thay vì thực
hiện các cuộc duyệt binh rầm rộ như các cựu hoàng, vua
A-dục lại tổ chức các buổi trình diễn và các đám rước
lễ qua đó trình bày những hình tượng của chư thần đang
ngự trên những chiếc thiên xa với những con voi được trang
trí bằng nhữngdây đèn rực rỡ. Những quang cảnh “thiên
giới huy hoàng” đó đã thu hút và làm say sưa tâm hồn hướng
thiện của đông đảo nhân dân.
“Vương
Quốc Sùng Đạo” của A-dục không hạn hẹp trong phạm vi
của loài người mà thôi. Sắc dụ trên bia đá II tuyên bố
rằng Hoàng đế đã cho thực hiện việc chữa bệnh cho người
và cho các loài thú; những loại dược thảo hữu ích cho sức
khỏe của người, vật đã được nhập khẩu và gieo trồng
tất cả những nơi không có thuốc men. Sắc dụ trên bia đá
I ra lệnh rằng: “Không nên sát hại hay tế thần dù chỉ
là một sinh mạng mà thôi”. Đối với bản thâr của Hoàng
đế cũng ra lệnh ngưng việc giết hại thú vật để lấy
thịt phục vụ việc ăn uống của Hoàng gia. Vua ra lệnh rằng:
“không được đốt ngay cả vỏ cây có côn trùng trú ẩn
trong đó” Sắc dụ trên trụ đá VII ghi rằng “Trên những
con đường cái quan phải cho trồng những cây banyan để tạo
bóng mát cho thú vật và người ta; cho trồng những vưòn xoài;
đào những giếng nước, xây dựng những trạm nghỉ chân,
những trạm cấp nước để làm cho những con vật và khách
lữ hành bớt nhọc nhằn và thêm thư thái”.
Vua
A-dục không cảm thấy thỏa mãn với việc làm lợi ích dân
sinh cho thần dân của ông ta mà thôi. Sắc dụ trên bia đá
II nói như sau: “Khắp nơi trong phạm vi cương thổ của Thiên-ái-hỷ-kiến
nhân-tứ Hoàng đế cũng như những vùng đất lân bang như
Cholas, Pandiyas, Satiyaputras, Keralaputras và Tambapamni... theo chỉ
dụ của Thiên-ái-hỷ-kiến nhân-từ Hoàng đế thực hiện
những việc ích quốc an sinh tương tự”. Như vậy Vua A-dục
đã xây dựng nên mùa xuân của ấm no và hạnh phúc cho mọi
người.
Nhưng
những công trình rộng lớn về an sinh trongnước và ngoài
nước như vậy cũng không làm thõa mãn lòng khao khát làm lành
và chí nguyện tâm linh của A-dục vì tất cả những việc
thiện đó chưa chứa đựng một ý nghĩa sâu xa nào cả. A-dục
cảm nhận mạnh mẽ rằng “Trong tất cả hạnh bố thí thì
bố thí pháp là cao thượng hơn cả”
Sắc
lệnh trên bia ký V nói rằng những vị giảng sư của tất
cả những giáo phái thuộc nhiều sắc dân khác nhau như Yanas,
Kambojas, Gandharas... được bổ nhiệm vào Bộ Chánh pháp
để làm nhiệm vụ xây dựng và phát huy Chánh pháp, tạo hạnh
phức và an lạc cho những người có đạo đức. Bộ này còn
được giao quyền giảm án cho tù nhân, quyền ban ân huệ,
trả tự do cho người phải nuôi nhiều con, người có nhiều
bất hạnh và người già nua tuổi tác. Trong sắc dụ trên
bia đá XIII, A-dục nói về sự thành công rực rỡ của chiến
địch đạo đức có tên là Chiến-dịch-chánh-pháp trong nước
và tất cả lân bang như vương quốc của vua Antiochus xứ Syria,
vua Ptolemy xứ Egypt, vua Antogonus xứ Macedon, vua Magas xứ Cyrene,
vua Alexander xứ Epirus và trong những vương quốc như Cholas,
Pandyas, đến tận xứ Tamraparni (Tích-lan). Ngay cả những nơi
mà các đoàn sứ giả của Đức Thiên-ái-hỷ-kiến Hoàng đế
không đi đến, khi nghe được công hạnh, biết được nhữngchỉ
dụ và huấn thị của Ngài, người ta đều tự tuân hành
theo Chánh Pháp. Chiến dịch chinh phục này đã chiến thắng
khắp nơi và làm nức lòng mọi người.
Truyền
thuyết bằng tiếng Pãli kể rằng đã lâu nhà vua chỉ là
một ngoại hộ cúng dường vật chất hay tứ sự mà thôi
nên không được xem là quyến thuộc của Phật Giáo. Sau đó
theo lời hướng dẫn của trưởng lão Moggaliputta Tissa, vua
A-dục đã cho người con trai là Mahinda và con gái là Sanghamitta
gia nhập Giáo hội Tăng già từ đó nhà vua nghiễm nhiên trở
thành gia quyến của Phật Giáo. Sau Kết tập III để tụng
đọc và chuẩn định thánh tạng, A-dục phái nhiều đoàn
truyền giáo đi khắp nơi để truyền bá Chánh Pháp Phật-Đà.
Có thuyết cho rằng một trong những đoàn truyền giáo này
đã đến vùng Thất Sơn miền Nam nước Việt. Như vậy hương
xuân của Phật Giáo đã từng lan nhẹ vào quê hương Việt
Nam, và tuổi thơ của dân tộc Việt Nam thời ấy đã đón
nhận những lời dạy của đức Tử Phụ một cách hồn nhiên
như tuổi trẻ đón mùa xuân. Mùa xuân của Chánh Pháp./.(Vô
Ưu số 17, 01-2004)
Down
Load " Word Document" (WinZip File 296 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân