MỘT CÂU
CHUYỆN TÁI SINH Ở ẤN ĐỘ
MINH
CHI
Viện
nghiên cứu Phật học Việt Nam
Con
người có sự tái sinh hay không? Đó là một vấn đề mà
nhiều người, ở phương Đông cũng như phương Tây, quan tâm.
Nhân dịp Xuân Giáp Thân, chúng tôi xin giới thiệu đến quý
độc giả nguyệt san Giác Ngộ một câu chuyện tái sinh ở
Ấn Độ, có quan hệ tới Thánh Gandhi. Thánh Gandhi trực tiếp
nói chuyện với Shanti Devi, cô gái tái sinh đã kể lại kiếp
trước của mình. Câu chuyện này được dẫn lại trong tác
phẩm đối thoại giữa khoa học và Phật giáo nổi tiếng:
“Vũ trụ trong lòng bàn tay” của hai tác gải Trịnh Xuân
Thuận và Mathieu Ricard, chương “The Virtual frontiers” (Biên
giới hư ảo), bản Anh ngữ.
Câu
chuyện kỳ lạ của cô Shanti Devi xảy ra tại Delhi, Ấn Độ,
năm 1926. Khi lên 4 tuổi, Shanti Devi nói với cha mẹ của mình
rằng nhà thật của cô là ở thành phố Mathura, nơi hiện
nay chồng cô đang sống. Lúc ban đầu, cha mẹ cô cũng buồn
cười, nhưng sau thì lo con gái mình loạn thần kinh chăng? Nhưng
Shanti Devi luôn chứng tỏ mình là con bé ngoan và thông minh
. Năm lên 6, Devi trốn khỏi nhà và tìm tới Mathura, cách đó
hơn 300 dặm, nhưng không thành vì đường quá xa. Có lần,
cô nói với một bạn học của cô rằng tên thật của cô
là Lugdi Devi, chứ không phải Shanti Devi, rằng cô đã có chồng
và một đứa con nhỏ mà cô không săn sóc được vì cô chết
10 ngày sau khi sinh đứa bé. Nhưng không có ngưòi nào tin lời
cô nói.
Cuối
cùng, thầy giáo cô cũng như bà hiệu trưởng cũng sinh nghi,
họ đến thẳng nhà cô, hỏi han cha mẹ cô và cả cô nữa
thật cặn kẽ. Cô mô tả lại cuộc sống xưa kia của cô
ở Mathura với chồng cô là một thương nhân. Trong câu chuyện,
cô luôn pha vào những thổ ngữ của Mathura, mà ở Delhi không
ai hiểu cả. Họ hỏi tên chồng cô là gì, cô trả lời là
“Kedar Nath”. Bà hiệu trưởng gửi thư hỏi người quen ở
Mathura và biết ở Mathura đúng là có một thương nhân tên
là Kedar-Nath. Bà hiệu trưởng gửi thư thẳng cho Kedar Nath,
và được trả lời là đúng 9 năm trước đây, vợ anh ta
đã chết sau khi sinh con 10 ngày.
Kedar
Nath phái một ngưòi em họ mình đến Delhi để gặp cô gái.
Cô gái nhận ngay ra người em họ của người chồng cũ, lại
còn thắc mắc vì sao anh ta béo ra và chưa chịu lập gia đình.
Cô còn hỏi thăm tin tức về đứa con của cô.
Sau
đó, đến lượt Kedar Nath quyết định tự mình cùng với
đứa con trai nhỏ đi Delhi, và tự giới thiệu mình không phải
là Kedar mà là anh cả của Kedar.
Nhưng,
Shanti Devi vừa gặp Kedar Nath, sau khi nghe giới thiệu là “anh
của Kedar” bèn nói to: “Không, ông không phải là anh chồng
tôi mà chính là chồng tôi”.
Thế
rồi , cô khóc và lăn xả vào vòng tay ôm của chồng. Đến
lượt đứa con trai nhỏ vào phòng , Shanti ôm chầm và hôn
không khác gì mẹ hôn con, mặc dù đứa con trai lớn hơn Shanti
Devi.
Mọi
người chứng kiến đều ngạc nhiên vô cùng. Devi nhắc lại
lời hứa của người chồng cũ rằng anh ta sẽ không đi bước
nữa sau khi Devi qua đời. Nhưng cô nói sẵn lòng tha thứ khi
người chồng cũ thú thật là mình không giữ lời hứa và
đã lấy người vợ mới. Kedar Nath còn ở lại Delhi thêm vài
ngày nữa, và khi trởvề Mathura, anh không còn nghi ngờ gì
nữa Shanti Devi đúng là vợ cũ của mình tái sinh.
Nhưng
câu chuyện không dừng ở đó mà đồn xa khắp nơi, đến
tai Mahatma Gandhi. Thánh Gandhi đích thân đến thăm và hỏi chuyện
cô gái. Cô gái đã làm Gandhi vô cùng thán phục. Shanti Devi
nói với Gandhi rằng, Lugdi Devi trước đây có niềm tin tôn
giáo sâu sắc. Gandhi xoa đầu cô gái và nói “Ta mong nghe nói
về cháu nhiều hơn, khi cháu đến Mathura, lòng ta sẽ luôn
bên cạnh cháu. Cháu cần chân lý. Đùng bao giờ đi chệch
con đường chân lý, không kể phải trả giá như thế nào”.
Rồi Gandhi phái cô gái đến Mathura, cùng với cha mẹ cô, ba
công dân đáng kính của thành phố Delhi, cùng với một số
luật sư, nhà báo và nhà doanh nghiệp. Tất cả những ngưòi
đi theo cô gái và cha mẹ cô đều là nhân vật trí thức có
tiếng tăm. Ngày 15 tháng 11 năm 1935, đoàn đến nhà ga xe lửa
Mathura. Đông đảo quần chúng đã tập họp ở sân ga để
chào mừng đoàn. Cô bé Shanti Devi làm mọi người ngạc nhiên
khi cô ta tay bắt mặt mừng những người thuộc gia đình cũ
của cô. Cô bé chạy đến và ôm choàng một ông già và gọi:
“ông nội của cháu”, và hỏi “ông nội để cây tía tô
của cháu đâu rồi?”. Ông già rất đỗi ngạc nhiên, vì
trước khi chết, cô bé đã trao cho ông nhờ ông chăm nom cây
tía tô, một loại cây ở Ấn Độ nổi tiếng về công hiệu
y học và tâm linh.
Rồi
cô bé hướng dẫn cả đoàn về ngôi nhà cũ của cô, và cha
mẹ cô. Rồi cô lại gặp người chồng cũ, ông này cũng ngạc
nhiên vô cùng. Gia đình cha mẹ hiện nay của Shanti Devi lo lắng
là cô bé sẽ bỏ rơi họ. Nhưng rồi, cô bé cũng tự trở
lại Delhi với cha mẹ hiện nay của cô. Trong thời gian ở
lại Mathura, cô bé biết rõ người chồng cũ đã không giữ
đúng bất kỳ một lời hứa nào của anh ta, đã nói với
cô trong giờ phút cô lâm chung. Thậm chí, anh ta đã không cúng
thần Khrishna số tiền 150 rupi, mà cô đã cất dấu dưới
sàn gỗ của nền nhà, để cầu cho linh hồn cô được siêu
thăng giải thoát. Shanti Devi tha lỗi cho người chồng cũ và
tất cả mọi thất hứa của anh, trong khi ngày càng có nhiều
người biết chuyện cô và ngày càng thán phục cô. Một ủy
ban gồm người địa phương được cử ra để thẩm định
tính xác thực của câu chuyện, và kết luận Shanti Devi đúng
là Lugdi tái sinh.
Shanti
Devi tiếp tục sống độc thân, vì cô ta đã hứa với người
chồng cũ là sẽ sống độc thân trong đời sống kiếp sau.
Cô không bao giờ lợi dụng danh tiếng của cô, và sau khi học
xong môn văn chương và triết lý ở cấp đại học, cô sống
một cuộc đời dành cho cầu nguyện và thiền định.
Qua
câu chuyện trên, một câu chuyện về sự tái sinh trong vô
vàn câu chuyện tái sinh khác đã và đang diễn ra khắp nơi
trên thế giới, đặc biệt là trong truyền thống Phật giáo
Tây Tạng. Với những câu chuyện tái sinh như thế, điều
mà Phật giáo nhấn mạnh là làm một chuyển biến nội tâm
tích cực, nảy sinh từ việc chấp nhận thuyết tái sinh. Nếu
không có sự chuyển biến nội tâm tương ứng, thì thuyết
tái sinh đó chỉ là một kiến thức, một thông tin vô thưởng
vô phạt như trărn ngàn thông tin khác mà thôi.
Vậy,
chúng ta nghĩ xem, nếu chấp nhận thuyết tái sinh thì chúng
ta sẽ có những chuyển biến nội tâm tích cực gì?
Thứ
nhất, chết không phải là chấm dứt đời sống, là hết
tất cả, không phải là được tiễn đưa đến nơi an nghỉ
cuối cùng với khóc lóc bi thương, mà là tiễn đưa tới một
cuộc sống mới, tốt đẹp hơn, nếu trong đời đã qua, chúng
ta đã từng sống tốt đẹp.
Thứ
hai, tuổi già không phải là tuổi “lão lai tài tận”, mà
là tuổi chuẩn bị tích cực cho cuộc sống mới tương lai,
ngang qua một cái chết thanh thản, tỉnh táo như lá rụng mùa
thu. Ở tuổi già của người tin ở thuyết tái sinh, thường
có ý nghĩ như thế này: “Tất cả những người chúng ta
gặp, có quan hệ ở đời này, rất có thể đã có quan hệ
với chúng ta trong một hay nhiều đời trước, thậm chí còn
có quan hệ gia đình với họ nữa: họ có thể là cha mẹ,
vợ chồng, anh em, con cái, họ hàng, bạn bè thân thiết của
mình, cho nên đời này gặp họ không phải là đầu tiên,
mà là gặp lại. Do đó, có quan hệ thân thiết lại càng thân
thiết hơn, yêu quý hơn, trân trọng hơn. Trong số này, nếu
có người ghét và làm hại mình thì sao? Hãy cứ nghĩ rằng,
có thể trong một đời trước, chúng ta đã ghét và làm hại
họ, và đây chỉ là một sự trả nợ công bằng. Hơn nữa
cũng là dịp tốt để tự mình rèn luyện đức tính bao dung,
nhẫn nhục. Do đó, hãy đừng oán giận họ, mà cảm ơn họ”.
Khi
tôi còn trẻ hơn, mắt chưa bị mổ thì tôi dạy học ở nhiều
trường, tích lũy cũng được một ít tiền, thế rồi, một
ngày, hai kẻ cắp lẻn vào nhà, nẫng sạch trơn!. Nhưng tôi
lại nghĩ: “Đây không phải là sạch tiền mà là sạch nợ”.
Tôi đã mắc nợ hai cô, cậu ăn cắp này trong một đời trước,
và bây giờ, có dịp may trả nợ họ. Có khai báo công an lấy
lệ, nhưng mọi việc êm xuôi. Đấy, người tin thuyết tái
sinh, có nhận thức như vậy đối với diễn biến của cuộc
đời mình.
Phương
châm sống: “Hết lòng giúp đỡ mọi người với hết khả
năng của mình, nhưng nếu không được thì chớ hại người”.
Tôi nghĩ đó là một phương châm sống tốt đẹp, dựa trên
niềm tin thuyết tái sinh.
Thứ
ba, một nhận thức lạc quan nảy sinh từ niềm tin ở thuyết
tái sinh là sự nghiệp rèn luyện tâm linh như hành thiền,
nội quán v.v... không phải là công việc làm ở đời này,
mà là tiếp tục một công việc làm từ nhiều đời trước.
Người Việt Nam sống trong một đất nước có bề dày lịch
sử Phật giáo 20 thế kỷ có thể đã tái sinh nhiều lần,
nhiều đời với tư cách là người Phật tử, từng sống
theo tám điều dạy của Phật trong “Bát chánh đạo” ,từng
ngồi thiền nhiều đời trong tư thế hoa sen v.v... Tôi không
ngạc nhiên khi gặp nhiều người bạn của tôi tuy không phải
chính thức là Phật tử, nhưng ngồi ở tư thế kiết già
hoa sen một cách dễ dàng.
Bản
thân tôi nay tuy tuổi đã cao, nhưng vẫn tranh thủ ngồi thiền
hằng ngày, không kể giờ giấc, có khi rất ngắn 5 phút, 10
phút, đêm khuya hay tảng sáng thì ngồi lâu hàng giờ, nhưng
mỗi lần ngồi đều với niềm tin, mình đã từng ngồi thiền
trong nhiều đời rồi. Do đó mà có thể ngồi thiền với
toàn thân và tâm thoải mái, không vội vã, bức xúc gì hết...
Thứ
tư, để kết luận, tôi xin phép ghi lại ở đây câu nói của
Phật Thích Ca Mâu Ni khi Ngài ngồi dước cội cây bồ đề,
chứng Túc mạng thông vào canh đầu đêm Ngài thành đạo:
“Ta nhớ lại nhiều, rất nhiều đời sống quá khứ mà ta
đã từng trải qua, một, hai đời, ba, bốn, năm đời năm
mươi, một trăm... một trăm ngàn đời, trong nhiều kiếp vũ
trụ khác nhau. Ta biết rõ tất cả về tất cả những kiếp
sống khác nhau đó” (Kinh Trung Bộ).
Đối
với chúng ta là Phật tử, những điều Đức Phật nói trên
đây về Túc mạng thông, có trọng lượng hơn bất cứ một
chứng cứ nào hết!
Tất
nhiên, Thiền sư Tây Tạng Sogyal Rinpoche trong “Cuốn sách Tây
Tạng về sống và chết” (The Tibetan book of living and dying)
có thể đưa ra nhiều chứng cứ khác như lời tâm sự của
Henry Ford, nhà doanh nghiệp và nhà từ thiện lớn của Mỹ:
“Tôi
tin thuyết tái sinh năm tôi 26 tuổi... Từ nay, đối với tôi,
thời gian không còn bị hạn chế nữa. Tôi không còn là nô
lệ của kim đồng hồ nữa... Tôi muốn truyền đạt tới
những người khác sự bình lặng nội tâm mà quan niệm về
một cuộc cuộc sống lâu dài đem lại cho chúng ta”.
Tâm
thức chúng ta là một dòng chảy liên tục, từ kiếp sống
này sang kiếp sống khác, không dừng nghỉ và mỗi lần chết
chỉ là một mắt xích của dòng chảy liên tục.
Sự
hiện hữu của tâm thức là không thể nghi ngờ, vì chúng
ta thể nghiệm nó hàng ngày. Nhưng, một điều nữa chúng ta
không thể nghi ngờ là dòng tâm thức thay đổi từ tâm niệm
này sang tâm niệm khác, không xen hở, do ảnh hưởng của các
nhân duyên từ bên trong, cũng như bên ngoài.
Tâm
thức không phải là một cái gì đơn nhất, mà có nhiều lớp.
Những lớp tâm thức thô nhất, nằm trên bề mặt thì chịu
sự chi phối của các hoạt động của thân, đặc biệt là
của não bộ. Vì cái thân có thể chết đi, thì các lớp thô
của tâm thức ngưng hoạt động, nhưng các lớp tâm thức
vi tế vẫn tiếp tục dòng chảy của nó không ngưng đoạn,
từ kiếp sống này qua kiếp sống khác. Đó chính là cơ sở
của tái sinh, chứ cơ sở đó không phải là một linh hồn
bất tử bất diệt.
Dòng
tâm thức, ở các lớp vi tế của nó vẫn tiếp tục dòng
chảy của nó, không có điểm khởi đầu, không có một Thượng
đế hay thần linh nào tạo ra nó hết. Tâm niệm này diệt,
nhường chỗ cho một tâm niệm khác nảy sinh. Không giống
hệt cũng không khác hẳn tâm niệm vừa diệt. Từ thời vô
thỉ đến nay, dòng tâm thức của mọi chúng sinh đều liên
tục chảy như thế, và đó lả cơ sở của tái sinh.
Đạo
Phật bác bỏ khái niệm một linh hồn bất diệt, chuyển từ
đời này sang đời khác là vì lẽ đó. Dòng tâm thức vi tế
của con người, tuy chảy liên tục không ngưng nghỉ, nhưng
cũng biến đổi không ngừng, niệm niệm sinh diệt. *
(đăng
trong NS Giác Ngộ số 94, 01-2004)
Down
Load " Word Document" (WinZip File 296 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân