HOA SEN VỚI
ĐẠO PHẬT
Vương-Kim
PHAN BÁ CẦM
Hoa
sen, tiếng Phạm là Padma (Bát mạ). ở Thiên trúc, sen có bốn
thứ: 1) Ưu bát la hoa (Utpala): hoa sen xanh, 2) Câu vật đầu
hoa (Kumuda): hoa sen vàng, 3) Ba đầu ma hoa (Padma): hoa sen đỏ,
4) Phân đà lợi hoa (Pundarika): hoa sen trắng. Riêng về
hoa Phân đà lợi còn tùy ba thời nở của nó mà có tên khác
nhau. Khi chưa nở gọi là Quật ma la (Mukula), khi nở rộ mới
chính là Phân đà lợi, còn khi nở rồi và sắp tàn thì gọi
là Ca ma la (Kamala). Hoa sen là một thứ hoa được đời
yêu quí, nhất là trong giới Phật tử, hoa sen được dùng
cúng dường và làm chỗ ngồi cho chư Phật. Chẳng riêng gì
giới Phật tử quí trọng hoa sen mà cả trong đển thở, trong
nghệ phẩm thời cổ, hoa sen còn được dùng làm để tài
trang tri. Như ở Ai Cập cách nay 5.000 năm, hoa sen là một yếu
tố quan trọng trong nghệ thuật hội họa và điêu khắc.
Hoa
sen hẳn có ý nghĩa gì siêu thoát lắm, nên mới được người
đời, nhất là các tôn giáo, quí trọng như thế. Cứ theo
lý lẽ thông thường mà người đời nêu ra để ca tụng hoa
sen chúng ta thấy nó có những đức tính cao quí
I.
Đức tánh của hoa sen
1)
TÁNH KHÔNG NHIỄM - Cây sen là một loại cây mọc dưới bùn
lầy dơ bẩn nhưng có tánh không nhiễm ô. Đó là một đức
tánh cao quí không thể tìm thấy ở các loại cây khác. Thế
nên nó được người đời ca tụng về tánh vô nhiễm ấy,
như câu ca dao mà ta thường nghe :
Trong
đầm gì đẹp bằng sen
L.á
xanh bông trắng lại che nhụy vàng
Nhụy
vàng bông trắng lá xanh
Gần
bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Trong
sách nho, người quân tử được ví với viên bạch ngọc ở
trong bùn mà không hoại sắc, còn trong nhà Phật thì kẻ tu
hành được vi với hoa sen, cũng vì cái tánh không nhiễm ấy.
2)
TÁNH TRỪNG THANH– Ngoài tánh vô nhiễm, mọc trong bùn mà không
nhiễm bùn, cây sen còn có đức tánh, hễ mọc nơi nào thì
làm cho nước đục nơi đó lóng trong. Đã không nhiễm mà
lại còn biến cải hoàn cảnh chung quanh mình thì hoa sen có
thể sánh với đức tánh cảm hóa của người tu hay người
quân tử
3)
HƯƠNG VỊ THÙY MỊ– Hoa sen có một hương vị đặc biệt
khác hơn các loại hoa. Có thứ hoa có sắc mà không hương;
có thứ hoa có hương mà không sắc. Đến như hoa sen thì hương
sắc đều gồm đủ, nhưng về hương thì mùi thơm của hoa
sen rất dịu, rất thùy mị, gây nơi người ngửi nó một
tinh thần cao thượng, khác hơn hương hoa hường quá nồng,
hoa dạ lý hương quá gắt, kích thích những ý nghĩ về dục
lạc, còn về sắc thì hoa sen đểu đặn nhất, ngoài hợp
những tai hoa hoặc trắng hoặc hồng, trang điểm thêm những
nhụy vàng rất xinh xắn, trông vừa kín đáo vừa đầm thấm,
như hạnh của người tu, không lả lơi hay khêu gợi như các
hoa khác.
4)
TÁNH TINH KHIẾT- Trong các thứ hoa, có thể nói hoa sen là trong
sạch hơn hết, từ khi hoa nở cho đến khi hoa tàn, chẳng hể
có bướm ong bén mảng, không như hoa hường, hoa lan, hoa cúc,
hoa thọ... tấp nập rủ bướm quấn ong, con thì giữa hoa,
con thì hút mật, làm cho các tai hoa bần nhơ những phấn bụi.
Bởi hoa sen tinh khiết như thế nên được người đặc biệt
chọn để cúng dường ngôi Tam bảo.
5)
TÁNH CỐ GẮNG VÀ KIÊN NHẪN- Ngoài các đức tánh thanh bạch,
vô nhiễm, cây sen còn có đức tánh cố gắng và kiên nhẫn.
Hãy xem sự sinh thành của cây sen sẽ thấy, không giờ phút
nào sen không cố gắng và kiên nhẫn chịu đựng mọi hoàn
cảnh khó khăn.
a)
Hạt giống để lâu không hư.– Trong các hạt giống, có thể
nói, hạt sen giữ lâu đã không hoại mà vẫn còn duy trì mầm
sống mãi mãi, có lẽ nhờ các vỏ cứng bên ngoài bao bọc.
Nhiều cuộc thí nghiệm đã chứng minh đểu ấy. Như từ năm
1843 đến năm 1855, ông Bobert Brown, nhà thảo mộc học nước
Anh đã đem ương những hạt sen hái từ 150 năm về trước.
Trong 16 hạt có đến 14 hạt mọc mầm đâm tược. Năm 1942,
Bác sĩ J. Bamsbattơm đem thể nghiệm những hạt sen hái từ
237 năm, đều thấy kết quả không kém. Sau đó, bác sĩ Ichiroohga
nhà thảo mộc học nước Nhật, đem ương những hạt sen độ
400 năm, đào được ở Mãn Châu, vẫn thấy mọc lên tươi
tốt.
Những
cuộc thí nghiệm ấy đủ cho ta thấy hạt sen, dù để lâu
vẫn giữ mầm sống của nó không ủng, có thể ví với hạt
giống (chủng tử) của các nghiệp tàng ẩn trong tạng thức,
một khi gặp đủ nhân duyên thì phát triển rất mau.
b)
Từ trong bùn mọc lên- Khác hơn nhiều loại cây, thường mọc
trên khô cạn, cây sen mọc trong bùn, sâu dưới đáy nước.
Cái mầm phá cho được cái vỏ cứng để chui ra, đã là một
sự cố gắng lớn lao và nhiều kiên nhẫn; nhưng khi chui ra
được rồi, ngó sen còn phải cố gắng vượt cho hết lớp
bùn hôi tanh để ngóc đầu ngoi lên trong nước.
c)
Vượt qua lớp nước sâu - Tuy từ bỏ lớp bùn đất
nhơ bẩn vượt lên trên mặt nủởc, nhưng cây sen chưa lấy
thế làm thõa mãn, nó còn cố gắng vượt qua lớp nước đục
ở tận đáy để ngoi lên lớp nước trong, càng vượt lên
càng làm cho hoàn cảnh vẩn đục bao bọc chung quanh minh trở
nên trong sạch ấm áp.
d)
Vượt lên hư không.- Mặc dầu phá vỡ bao nhiêu ràng buộc
bởi đất và nước để vượt ra chỗ khoáng đạt hư không,
sen cũng chưa hết cổ gắng. Nó còn cố ngóc đầu và vượt
lên giữa ánh sáng mặt trời. Kết lấy đóa hoa để rồi
một hôm, khi cuộc tiến hóa viên mãn, khoát nhiên khai nở,
khoe màu sắc thanh tươi và xông hương thơm tràn ngập trong
không gian.
Sự
sinh thành của cây sen, xem đó, là một tấm gương kiên nhẫn
và cố gắng. Nó hàm súc một triết lý cao siêu vè sức sống
cua con người, tiêu biểu đức tánh cần cù và tinh tiến của
kẻ tu hành tiến trên con đường giải thoát đầy gian lao
nguy khổ.
Ba
lớp: đất, nước, hư không mà cây sen đã trải qua, nào có
khác ba trạng thái của cõi : Dục giới, Sắc giới và Vô
sắc giới. Từ trạng thái cõi Dục đầy nhơ bần, người
tu cố gắng vượt lên trạng thái cõi Sắc, nhưng khi đạt
đến các cõi thiên, bởi thấy chưa được giải thoát, nên
cố gắng vượt lên trạng thái vối Vô Sắc, và khi đạt
đến cõi Phi tưởng cũng chưa thấy được giải thoát nên
còn phải cố gắng vượt lên cho đến chỗ hoàn toàn giải
thoát tức là trạng thái của tri tuệ triển khai; như đóa
hoa sen khi nở vậy. Sự sinh thành của cây sen hình dung được
ý chí của người tu giải thoát.
Phải
chăng nhờ gồm đủ những đức tánh: thanh bạch, tinh tiến,
kiên nhẫn, cảm hóa... như đức tánh của kẻ tu hành mà hoa
sen được quí trọng và dùng làm đối tượng tiêu biểu những
triết lý mầu nhiệm trong đạo Phật.
II.
Hoa sen với các tôn giáo thời cổ
Từ
ngàn xưa, hoa sen được xem là vật thiêng liêng đối với
các tôn giáo, vì nó là một thứ hoa tượng trưng cho vũ trụ
hữu hình và vô hình, tuợng trưng cho sức sáng tạo vật chất
và tinh thần của vạn vật. Người ta dùng nó để cúng dường
các đấng thần linh. Hổi thời cồ giống dân A lợi á ở
Ấn-Độ, cũng như giống dân Ai-Cập và sau đó những dân
tộc tu theo Đạo Phật, đã biết kính trọng nó. Đối với
dân Ấn Độ, hoa sen là tượng trưng quyền lực sáng tạo
của Thiên nhiên, của Lửa và Nước, tức là của tinh thần
và vật chất. Còn đối với dân Ai Cập, hoa sen là tượng
trưng của thần Orisis và thần Horus đều là thần Thái dương
hay Hỏa thần. Ở xứ Zudée thuộc miền Cận đông ở Âu Châu
không có hoa sen, nên ở đấy người theo đạo Thiên chúa dùng
hoa huệ và kinh trọng nỏ không khác tín đồ tạo Phật đối
với hoa sen vậy. Họ còn cho hoa huệ là tượng trưng của
điềm linh ứng. Trong bức họa “Thiên thần báo tin” có
vẽ thiên thần Gabriel hiện ra cầm nơi tay một hoa huệ báo
tin là Bà Maria thụ thai. Cành hoa huệ tiêu biểu cho Lửa và
Nước, tức là ý sáng tạo và truyền thống, không khác ý
nghĩa cái hoa sen mà Đức Bồ Tát cầm trên hay khi đến báo
tin cho Đức Mẫu-hoàng Ma-gia biết ngày giáng lâm của Phật.
Về
hoa sen, bà Blavalsky, nhà khoa học huyền bí còn luận giải
rằng:
Một
trong những hình thức tượng trưng của hai quyền lực sáng
tạo trong thiên nhiên (vật chất và sức lực trên phương
diện hữu hình) là hoa sen của Ấn Độ. Hoa sen là kết quả
của sức nóng (lửa) và nước (chất hơi hay chất ê-te); lửa
vừa tiêu biểu, trong hệ thống triết lý và tôn giáo, cả
giáo lý CơĐốc, cái linh trí của Thần Thánh, cái nguyên tắc
động, gióng đực và vừa tiêu biểu cái nguyên tắc giống
cái, thụ động, hàm chứa trong vũ trụ. Thế cho nên, chất
ê-te (dĩ thái) hay nước được xem là Mẹ, thuộc âm; còn
lửa được xem là Cha, thuộc dương. Ông Sir William Zones, và
khoa thảo-mộc-học thái cổ trước ông, đã chỉ cho thấy
rằng hạt sen, ngay khi chưa đem ương, chứa sẵn một cây sen
bé tí, để chờ khi phát triển hoàn toàn vượt ra khỏi vỏ...
vì rằng hạt giống của các thứ cây thuộc loại hiển hoa
(Phanérogames) sinh ra những hoa chứa ngậm sẵn một cây non
đã thành hình.
Ngoài
ra, hoa sen còn là vật tượng trưng rất cổ của vũ trụ và
con người vì lý đo phổ thông này: Một là trong mỗi hạt
giống đã chứa ngậm một cây sen nhỏ để trở thành cây
sen vị lai; điều đó chứng minh rằng mọi vật hữu hình
trên thế gian đểu do trạng thái tinh thần nguyên sơ mà ra.
Hai là cây sen mọc dưới nước, rễ ẩn sâu trong bùn, còn
bông thì nở trong không khí, trên mặt nước. Như thế hoa
sen là điển hình của đời sống con người và vũ trụ, bởi
giáo lý bi truyền có dạy rằng: Nguyên tố của con người
và vũ trụ đều thư nhau và cả hai đều phát triển cùng
một chiều hướng. Rễ sen ăn sâu dưới bùn, tiêu biểu cho
đời sống vật chất, cọng sen vượt ngang qua nước, tượng
trưng cho cõi trừng giới, còn hoa sen đứng giữa không khí
ngửa mặt lên trời là biểu hiệu của đời sống tinh thần.
(La doctrine secrete. Quyển I).
Còn
theo bác sĩ Allendy thì hoa sen là biểu hiệu của sự luân hồi.
Hạt sen nứt mọng đâm ngón dưới bùn, lẩn lần lớn lên,
vượt qua khỏi mặt nước để vươn mình lên hư không, trổ
hoa kết trái. Khi hoa tàn thu hạt sen khô rơi ra khỏi gương,
đi ngang qua lớp nước rồi mới đến đất, nơi đây sen nẩy
mầm để sanh ra cây sen khác. Sự luân hồi của con người
cũng như vậy.
Hoa
sen đối với tôn giáo có ý nghĩa cao xa như thề nên được
người đời quí trọng, vì họ xem nó là một tượng trưng
thiêng liêng. Song kể ra, sự kính trọng của các tôn giáo
đối với hoa sen chưa bằng sự sùng ngưỡng của tín đồ
Phật Giáo.
III.
Hoa sen đối với đạo Phật
Đối
với đạo Phật, hoa sen là một vật quí trọng tôn kính hơn
hết. Khi bước vào chùa, ngó lên ngôi Tam bảo là thấy bao
nhiêu hình sắc của Hoa sen. Trước hết, đập mạnh vào thị
giác của mỗi người là chỗ ngồi và chỗ đứng của chư
Phật đều làm thành hình một đóa hoa sen to tướng mà danh
từ Phật học gọi là Liên tòa hay tòa sen. Sau đó là những
Hoa sen tươi hoặc đã nở hoặc còn búp dâng cúng trước mỗi
bàn thờ Phật.
Danh
từ Hoa sen (Liên hoa) còn được đùng vào nhiều vật dụng
của chư tăng hay nghi thức lễ bái.
Như
bộ áo cà sa của tỳ-khưu được gợi là Liên hoa y hay Liên
hoa phục, có ý biểu dương cái nghĩa thanh tịnh không nhiễm
trước như Hoa sen.
Khi
chúng ta lễ Phật, hai bàn tay chấp lại làm thành hình Hoa
sen còn búp mà nhà Phật gọi là Liên hoa hợp chưởng. Đó
là hình tướng của một cái ấn mà khi hành lễ chúng ta phải
kết trước hết. Nó còn phản ảnh cái hình hài khi chúng
ta còn ở trong thai mẹ. Theo kinh điển, liên hoa hợp chưởng
(chắp tay thành hình hoa sen bùn) còn hàm xúc nhiều ý nghĩa
rất sâu xa. Nỏ biểu thị cho Lý và Tri cùng một thể. Tay
trái thuộc về tịnh và không hay làm việc, là hiểu thị
của Lý còn, tay mặt thì năng làm việc, cho nên biểu thị
cho Trí.
Trong
kinh Nhiếp vô ngại có nói : “năm ngón tay trái gọi là ngũ
trí của Thai tạng giới, còn năm ngón tay mặt là ngũ trí
của Kim Cương giới. Mười ngón hiệp lại gọi là Thập độ
hoặc Thập pháp giới hay là Thập chân như”. Về thập pháp
giới thì chia ra năm phàm và năm thánh: Tay trái là tay không
tự tại thuộc về năm giới mê của phàm như : Địa ngục,
Ngã quả súc sinh, Nhân và Thiên. Còn tay mặt là tay tự tại
thuộc về năm giới của Thánh như: Thanh văn Duyên giác, Bồ
tát, quyền Phật và thiệt Phật.
Ngoài
lối chắp tay gọi tà Liên hoa hợp chưởng, nhà Phật còn
cách ngồi gọi là Liên hoa toạ (cách ngồi hình Hoa sen). Đó
là lối ngồi kiết già, trước hết gạt chân trái lên bắp
vế chân mặt rồi sau mới gác chân mặt lên bắp vế chân
trái. Ngồi như thế làm thành hình hoa sen, cho nên ngồi kiết
già được gọi là Liên hoa toạ. Đến như cách ngồi gạt
một chân trái lên bắp vế chân mặt hay gạt một chân mặt
lên bắp vế chân trái thì đó là cách ngồi bán già. Cách
trước có tên là Cát tường toạ, còn cách sau gọi là Hàng
ma tọa.
Chư
Phật thường ngồi trên toà sen hay ngồi xếp chân theo hình
Hoa sen là lấy theo nghĩa của Yên hoa tạng thế giới, gọi
tắt là Hoa tạng thế giới.
Hoa
tạng thế giới là danh từ Phật học dùng để gọi cõi thanh
tịnh nơi báo thân của chư Phật an trụ, vì cõi ấy do sen
báu làm thành. Như cõi thanh tịnh của đức Phật A-Di-Đà
là cõi hoa tạng mà kinh Hoa nghiêm đã nói, hay cũng gọi là
cõi Cực lạc; cõi Hoa tạng của đức Phật Đại Nhật là
Mật nghiêm quốc.
Riêng
về cõi cực lạc của đức Phật A Di Đà còn được gọi
là Liên bang, cõi có nhiều Hoa sen. Do đo, Tịnh độ tông được
gọi là Liên tông; bạn đồng ấu tịnh nghiệp được gọi
là Liên xã; phân thời giờ để niệm Phật gợi là Liên liêu.
Cứ
theo các kinh Tịnh độ tông thì ở cõi Cực lạc có rất nhiều
ao sen báu. Quán kinh nói rằng: mỗi mỗi trong ao có 60 ức Hoa
sen bằng bảy báu, tròn trịa vừa đúng 12 do tuần. Mỗi hoa
sen là mỗi chỗ dành cho những người vãng sinh về gá thai,
tùy theo công đức và căn cơ mà gá vào Thượng phẩm, Trung
phẩm hay Hạ phẩm.
Hoa
sen ở cõi Cực-lạc có đủ đức tánh vi diệu và hương khiết
hơn Hoa sen ở các cõi khác.
Trong
Di Đà sớ sao có giải rõ nghĩa vi diệu và hương khiết như
sau:
Chư
vi có bốn nghĩa:
1)
Rễ nó ngầm dưới đáy ao không trông thầy, đó là nghĩa
U vi;
2)
Không sanh nơi gò cao đất dày, cùng các hoa khác tranh phần
xinh tốt, đó là nghĩa ẩn vi;
3)
Trong quán kinh nói: trên mỗi lá sen có tám vạn bốn ngàn gân
mạch như thợ trời khéo vẽ, đó là nghĩa tế vi;
4)
Bảy báu làm thành, quí, lạ, đẹp, xinh, đó là nghĩa tinh
vi. .
Về
chữ Diệu có 12 nghĩa:
1)
Mới có hoa liền có quả, chẳng đợi hoa rụng, đó là nghĩa:
Nhân quả đồng thời diệu;
2)
Nhiễm mà không nhiễm, không nhiễm mà nhiễm, đó là nghĩa:
Cấu tịnh song phi diệu;
3)
Một hoa bao bọc các hột, các hột sắp hàng ở trong hoa, đó
là nghĩa: Tống biệt tề chương diệu;
4)
Ngày thời nở, đêm thời búp lại đó là nghĩa: Ẩn hiển
tùy nghi diệu;
5) Hoa lớn ở giữa có tràm nghìn vạn ức hoa sen làm quyến
thuộc, đó là nghĩa: Chủ bạn tương thân diệu;
6) Thượng, Trung, Hạ phẩm, mỗi phẩm phân làm chín, chín
nhân với chín cho
đến vô lượng, tùy nhân trước của mỗi người không hề
làm lẫn đó là nghĩa: Thắng liệt phân minh
diệu;
7) Lớn một do tuần cho đến làm ngàn vạn ức do tuần, đó
là nghĩa: Tiểu đại vô địch diệu;
8) Chẳng do mùa xuân banh, chẳng vì mùa thu héo, luôn luôn thường
mới, đó là nghĩa: Hàn thử bất thiên diệu;
9) Đỏ, tía, đen, vàng, hoặc là thần trắng hay tạp sắc
tạp quang, cũng lại như vậy, đó là nghĩa: Thể
tố giao huy diệu;
10) Sanh ở nước kia, từ hư không bay đến cõi này mà tiếp
người vãng sanh, đó là nghĩa: Động tĩnh nhất
nguyên diệu;
11) Chư Phật, Bồ Tát ngồi kiết già trong đó, những chúng
sinh niệm Phật cũng gá thai trong ấy, đó là nghĩa:
Phàm Thánh kiêm thành diệu ;
12) Người phương này niệm Phật, hoa liền nêu danh, siêng,
trễ phân, ranh, tươi, khô đều khác, đó là nghĩa:
cảm ứng minh phù diệu.
Về
chữ Hương có hai nghĩa:
1) Ở phương này (Ta-Bà) sen từ trong bùn mọc ra; tuy ở chỗ
nhơ vẫn thơm tho ngào ngạt, đó là nghĩa: Ở giữa uế mà
vẫn thơm;
2) Ở nước kia (Cực lạc) như kinh Đại bản nói: màu sắc
đã khác nên mùi hương
cũng
khác, thơm tho ngào ngạt không thể kể kết, cho nên người
tụng bài kệ “Thanh liên hoa hương, Bạch liên hoa hương”,
còn được trong miệng bay ra mùi hương Hoa sen, hơn các thứ
hương không sao sanh kịp, đó là nghĩa Hương thơm hơn các
thứ hương.
Về chữ Khiết cũng có hai nghĩa:
1) Ở phương này sen từ trong bùn mọc ra, đáng lẽ bị nhơ,
nhưng lại trong sạch, đó là nghĩa : Sạch trong chỗ nhơ,
2) Ở nước kia, vì gốc sen từ nơi cát vàng mọc lên, khác
hơn cõi trược, sanh trong nước công đức khác hơn nước
thường, do các báu hợp thành khác hơn cõi phàm; cho nên sạch
hơn tất cả, không chi sánh bằng, đó là nghĩa: sạch ở trong
chỗ sạch.
Hoa
sen đã vi diệu và hương khiết dường ấy nên Đức Phật
Thich Ca dùng nó làm tên cho bản Diệu pháp liên hoa kinh,
để dụ diệu pháp với Hoa sen.
Mà
dụ như thể là bởi Hoa sen, theo ngài Thiên Thai đã nói,
có đủ ba nghĩa thù thắng như sau:
1)
Vị liên cố hoa, nghĩa là trong khi hoa nở thì sen đã phát
sanh.
2)
Khai hoa liên hiện, nghĩa là sen đơm hoa thì uất trái cùng
một lúc. Đó là điều vi diệu mà hoa khác không có.
3)
Hoa lạc liên thành, nghĩa là khi hoa rụng thì trái hãy còn.
Ngài
Thiên Thai đem ba cái nghĩa vi diệu ấy dụ với ba nghĩa của
môn Quyền thực và môn Bản tích.
Ba
nghĩa của môn Quyền thực là:
1)
Vị thực thi quyền có nghĩa: “Thật” là cái diệu pháp
của Phật tự chứng, còn “Quyến” là cái phương tiện
của Phật hóa độ chúng sinh. Phật từ thực pháp Đại thừa
mà phương tiện ra vô lượng quyền giáo khiến cho tất cả
chúng sinh đểu có thể thành Phật quả. Đó là vì “Thật”
đặt ra “Quyền”, cũng đồng nghĩa với “vị liên cố
hoa”.
2)
Khai quyền hiển thực có nghĩa : Phật thấy các hàng Thanh
văn không rõ thấu chỗ “vị thực thi quyền” lại trở
chấp cái quyền pháp cho là cứu cánh, nên ngài mới mở cái
“quyền Tam thừa” cho chúng sinh thấy rõ cái “thực pháp
của nhất thừa”. Đó là mở quyền để hiện cái thực
cũng đổng nghĩa với “Hoa khai liên hiện”. Hoa khai là dụ
với khai quyền, còn liên hiện là dụ với hiển thực.
3)
Phế quyền lập thực có nghĩa: Khi Phật đã khai cái quyền
giáo của Tam thừa thì cái quyền-giáo tự nó đã bỏ, chỉ
còn lại cái thực giáo của 'nhất-thừa. Thế là Phật đem
cái quyền-pháp của Tam-thừa gom về trong một cái “thực”
rộng lớn thì đâu còn cái “quyền” kia nữa. Đó là bỏ
cái “quyền” mà còn lại cái “thực”, cũng đồng nghĩa
với “Hoa lạc liên thành” kia vậy.
Đến
như môn Bản tích cũng có ba nghĩa :
1)
Tùng bản thùy tích có nghĩa: Từ cái gốc (bản) mà rọi lại
cái dấu (tích Phật được thành-quả ngày nay là từ “bản
Phật” đã thành trong mấy kiếp quá khứ lâu rồi, cũng như
trong tuyết thấy dấu chân thì biết chắc là có gốc của
chân. Đó là từ gốc rọi dấu lại, cũng đổng nghĩa với
“Vị liên cố hoa”.
2)
Khai tích hiền bản có nghĩa: Bày cái dấu mà rõ cái gốc.
Như trong phầm “thọ lượng” nêu rõ cái cận tích của
Phật xuất-gia tại thành Ca-đa, để hiển cái Phật đã có
từ lâu đời. Nếu không khai cái “tích” ra cho rõ thì làm
sao biết được cái “bản”. Đó là bày cái “tích” để
rõ cái “bản”; cũng đồng nghĩa với “khai hoa liên hiện”.
3)
Phế tích lập bản có nghĩa: Bỏ cái “tích” mà còn lại
cái “bản”. Khi Hội Pháp Hoa chưa mở thì chưa biết cái
“bản” và cái “tích” thế nào, đến khi mở rồi thì
thấy ra cái “tích” của Phật tức là cái bản Phật đã
thành từ bao nhiều kiếp trước. Đó là bỏ cái “tích”
thì còn lại cái “bản”, cũng đồng nghĩa với “Hoa lạc
liên thành” vậy.
Trên
đây là lấy ba cái nghĩa của Hoa-sen để dụ cho hiểu rõ
cái Bản-địa của Phật. Thế đủ thấy Phật-pháp rất vi-diệu
khó diễn đạt cho liễu-nghĩa, cần phải đem cái nghĩa mỹ-diệu
trang-nghiêm của Hoa-sen mới dụ được (cái diệu-pháp của
Phật).
Ngoài
nghĩa vi-diệu, Hoa-sen còn là cái huyền-lực nhiệm-mầu mà
nhà Phật hay các nhà tu Tiên thường dùng làm câu chân-ngôn
để sai Thần khiển quỉ, từ tai diệt nạn, xua đuổi tà
ma.
Chẳng
hạn như câu chân ngôn: Án-ma-ni bát mê hồng (Om mani padme hum),
trong đó chữ Bát-mê (Padme) tức là Hoa-sen gọi theo tiếng
Phạm. Theo Blavatsky, nhà khoa-học huyền-bí thì câu chân ngôn
này có nghĩa: “Ô! chân linh trong Hoa-sen” kể ra thì hơi tối
nghĩa, nhưng nó hàm-súc một huyền-lực vô biên khi một tu-sĩ
niệm đến nó.
Blavatsky
có giải rằng: “Theo quan-niệm bí-truyền thì câu ấy
có nghĩa: Ô, Phật-tánh! (hay chân-linh) ngươi ở trong ta. Thật
vậy, trong mỗi chúng sinh đều có Phật-tánh. Vì chúng sinh
đã và sẽ thành Phật. Câu này ám chỉ sự hòa-hợp không
thể chia lìa được giữa con người và vũ-trụ. Như thế,
Hoa-sen là một tượng trưng phổ-thông về vũ-trụ, vừa lả
sự hoàn-toàn trọn vẹn, vừa là chơn-nhân hay chơn-linh của
con người tinh-thần hay Phật”. (La doctrine Secrète. Quyển
IV, trang 180)
Quả
thật, Hoa-sen có một huyền-năng vô-biên có thể đánh tan
mợi điều tà ma quỉ mị. Ai có đọc truyện “Phong Thần”
sẽ thấy: để phá tan mọi tà-pháp của phe triệt-giáo, chư
Tiên bên Xiển-giáo đều dùng phép linh hóa hiện ra Hoa-sen
xanh. Như cây Hạnh-huỳnh-kỳ của Khương Tử-Nha mỗi khi lâm
trận đều hiện ra hàng trăm Hoa-sen tủa xuống chở che và
phá tan các pháp thuật của triệt-giáo. Nguyên-Thỉ Chân-tôn
mỗi khi lâm trận, nhờ ngổi trên chiếc xe hoa hiện ra vô
số Hoa-sen xanh bao bọc mà bình an tự-tại.
Trong
kinh Phật, ta cũng thấy lrong nhiều pháphội, Đức Phật thường
phóng ra hào-quang vô số Hoa-sen và trong mỗi Hoa-sen có một
hóa-Phật. Như kinh NHƯ-LAI tạng đã chép: “Bấy giờ Bức
Thế-Tôn ở trong chiên-đàn lầu các, đang ngồi chốn Đạo-lràng
mà hiện pháp-thân biến ra Hoa-sen ngàn cánh, lớn như bánh
xe, trong sen hóa ra vị Phật, mỗi vị Phật phóng ra vô số
trăm ngàn hào quang”.
Hoa-sen
đã vi diệu như thế, cớ sao trong lúc quí-trọng nó đem cúng
dường chư Phật, lại còn đem nó làm chỗ ngổi cho chư Phật
phu-tọa ? Vậy thì thứ sen nào để cúng dường, thứ sen nào
để phụ-tọa và thứ sen nào để gá thai? Đó là câu hỏi
mà có nhiều Phật-tử băn-khoăn tự-vấn.
Kể
ra thì chưa thấy kinh sách phân loại thứ sen nào để cúng
dường, thứ nào để phu-tọa, thứ nào để làm hóa~thân,
nhưng cứ lấy cái lý mà xét thì mặc dầu trong lời nói có
chỗ phân biệt, nhưng kỳ thật về tự-tánh, Hoa-sen vẫn có
một, cũng như về tam-thân của Phật có phân ra Pháp-thân,
Báo thân và Ứng thân, hay Hóa thân, nhưng thật ra vẫn là
một thân Phật mà thôi.
Thế
nên, ta có thể nói Hoa-sen dùng cúng-đưởng là Hoa-sen Pháp-thân,
Hoa-sen dùng làm chỗ ngồi chư Phật là Hoa-sen Báo-thân và
Hoa-sen dùng để gá thai là Hoa-sen Hóa-thân hay Ứng thân.
IV.
Kết luận
Hoa
sen đã quí báu dường ẩy, thế nên trong sách Tánh mạng khuê
chỉ có bài thơ khen tặng, đáng làm tấm gương trong sáng
cho kẻ tu hành xem đó mà suy nghiệm.
Hồng
hồng bạch bạch thủy trung liên, .
Xuất
ố nê trung sắc chuyền liên ;
Hành
trực ngẫu không bổng hựu thục,
Tu
hành diệu lý kháp như nhiên
Tạm
dịch
Sen
nở trong đầm đỏ trắng phơi,
Bùn
nhơ không nhiễm sắc thêm tươi.
Thân
ngay, ngó rỗng, gương đầy hột.
Cái
lý tu hành cũng thế thôi.
Thật
thế cây sen, tự bản thân và sự sinh thành của nó hàm súc
một triết lý siêu mầu cao cả. Kẻ học đạo, nếu biết
lấy đó làm tấm gương tu tiến thì quả Phật chẳng phải
là khó được.
Ngay
như hột sen, nào có khác hột giống Bồ đềể của ta, một
khi đã gieo vào tâm thức thì không bao giờ mất hay hư hoại.
Nó sẽ nảy nở nếu có đủ điều kiện về nhân duyên; ví
bằng không gặp hoàn cảnh thuận tiện do ác nghiệp gây ra
làm trở ngại thì nó vẩn nằm đó chớ không hề mất hay
úng.
Đến
khi gặp đủ nhân duyên, hột sen tự phá lấy lớp vỏ cứng
và cố gắng không ngừng vượt lên. Mọc trong bùn đất hôi
tanh nhưng nó không hể bị ô nhiễm, cố vượt cho ra khỏi
lớp bùn để chui lên trong nước, càng vượt lên càng hoán
cải hoàn cảnh chung quanh mình, biến lớp nước vẩn đục
trở nên trong trẻo.
Như
cây ấu hay các loại thủy thảo, khi vượt lên lớp đất
lên đến lớp nước thì đã trổ bông kết trái rồi. Đến
như cây sen thì không lẩy thế làm mãn nguyện; nó còn cổ
gắng vượt lên cho khỏi lớp nước đó. Cũng không như cây
bung súng kết hoa ngay trên mặt nước, cây sen vẫn tiếp tục
vượt lên không trung, rồi khi cuộc tiến hoa viên mãn mới
kết hoa để tươi nở dưới ánh sáng mặt trời, ban rải
mùi hương ngào ngạt khắp nơi.
Cái
lý tu hành cũng như thế. Muốn có cây sen trước hết phải
có hột giống, cũng như người muốn thành Phật trước phải
gieo hột giống Bồ đề, và cho được ươm hoa kết trái,
cây sen phải từ dưới bùn mọc lên, cũng như con người phải
từ cõi trần ô trược mà tu tiến lên thành Tiên thành Phật
vậy.
Mặc
dầu mọc trong bủn, cây sen không nhiễm bủn, trái lại còn
hoàn cải nước đục thành trong, cũng như tu hành mặc dầu
sống ở cõi trần, chung lộn với kế tục, thế mà đã không
nhiễm trầm, đắm mê tục lụy, trải lại còn cảm hóa bao
nhiêu người chung quanh mình quảy đầu hướng thiện, tinh
tấn tu hành.
Sự
sinh thành cây sen là cả một cuộc đời kiên nhẫn và cổ
gắng. Nó phải vưọt qua ba lớp: bùn, nước và không khí
mới trổ hoa, không khác công phu kẻ tu hành phải vượt qua
khỏi tam giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới mới
được hoàn toàn giải thoát.
Còn
gì tươi đẹp và thơm tho bằng hoa sen khi mới nở, cũng nơi
kẻ tu hành, ôi! còn gì tự tại an vui bằng khi trí tuệ khoát
khai là mức rốt ráo của con đường tu tiến, là kết quả
của bao nhiêu kiếp cố gắng và kiên nhẫn tu hành.
Do
những đức tánh siêu mầu hơn các loại hoa mà Hoa sen được
Phật tử quí trọng tôn kính.
Ý
nghĩa của Hoa sen thật lả sâu xa cao cả.
Vương
Kim PHAN BÁ CẦM
Down
Load " Word Document" (WinZip File 296 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân