|
|
|
|
PHẬT
PHÁP:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
VĂN
HỌC SỬ:
|
|
|
|
|
|
TRUYỆN
NGẮN:
|
|
|
|
DINH
DƯỠNG CHAY
|
|
|
|
TỪ
THIỆN XÃ HỘI
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
SỐNG ĐẠO
ĐỨC NHƯ LỜI PHẬT DẠY
HT
Thích Thiện Siêu
Sau
khi đức Thế Tôn giác ngộ, ngài suy tư có nên ra thuyết pháp
bây giờ hay chưa? Vì Ngài nghĩ: Pháp này do Ta chứng được,
thật là sâu sắc, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng,
siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn
quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái
dục. Đối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham
thích ái dục thật khó mà thấy được định lý Y tánh duyên
khởi pháp; thật khó mà thấy được định lý tất cả các
hành là tịch tịnh, tất cả các sanh y được từ bỏ, ái
được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn. Nếu ta thuyết
pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật
khổ não cho Ta!
Cho
nên đức Phật ngần ngại không muốn thuyết pháp. Phạm thiên
Sahamepati đến ân cần thỉnh cầu phật ba lần, xin Phật thuyết
pháp với lời tha thiết rằng: Xin đức Thế Tôn hãy thuyết
pháp, mở rộng cửa bất tử cho chúng sanh được nghe Pháp.
Đấng Đại hùng hãy đứng lên, bậc chiến thắng chiến trưởng,
Vị trưởng đoàn lữ khách, Đấng thoát ly nợ nần, xin Thế
Tôn hãy thuyếp pháp, có người nhờ nghe Pháp sẽ hiểu diệu
nghĩa và sẽ được an lạc.
Sau
lời thỉnh đó, đức Phật mới rời cội Bồ-đề đi đến
vườn Nai để thuyết pháp cho 5 vị Tỳ-kheo là những người
trước đó đã cùng đức Phật tu khổ hạnh trong 6 năm. Tại
đây Ngài thuyết giáo pháp Tứ Diệu đế đó là giáo lý đầu
tiên và là lần Chuyển pháp luân đầu tiên, mở đầu cho
công cuộc giáo hóa độ sanh của Ngài tại cõi Ta-bà này.
Sau khi thuyết Tứ Diệu đế xong, đức Phật lần lượt đi
các nơi khác, tùy căn cơ của chúng sanh mà hóa độ.
Một
lần, sau giờ thọ trai xong, Ngài đang nghỉ ở bên cội cây
bóng mát, có ba mươi thanh niên hớt hãi chạy đến thưa hỏi
Ngài, rằng Ngài có thấy người đàn bà đi ngang qua đây không?
Ngài hỏi lại: Các anh là ai? Người đàn bà đó thế nào?
Các anh hỏi bà ta làm gì? Các chàng thanh niên trả lời rằng:
Chúng tôi là 30 nhạc sĩ đem theo một kỹ nữ để giúp vui,
không ngờ trong lúc chúng tôi đang ngủ say thì người đàn
bà ấy đã vơ vét hết bạc vàng, tài sản của chúng tôi
trốn đi mất. Chúng tôi đang đi tìm người ấy. Xin ngài có
thấy thì chỉ giúp cho. Đức Phật hỏi lại: Này các chàng
trai, các anh đi tìm người đó hơn hay là các anh đi tìm chính
các anh hơn, điều nào hay hơn? Các chàng trai nhạc sư chưa
hiểu hết ý nghĩa của câu Ngài hỏi nên đồng thanh xin Phật
giảng rõ hơn. Đức Phật nói: Được, các anh về tịnh xá,
Như Lai sẽ giảng cho các anh rõ. Cả ba người thanh niên kéo
nhau về tịnh xá nghe Phật giảng.
Về
tới tịnh xá, Phật biểu họ ngồi xung quanh tịnh xá và Ngài
nói với họ rằng: Một trong số các anh lấy cây đàn nguyệt
biểu diễn một khúc cho Ta nghe coi. Vị ấy vâng lời và cầm
đàn nguyệt khảy một khúc rất hay. Vừa lúc ấy, Phật bảo:
Thôi, hãy đưa cây đàn cho Ta, và Ngài liền gãy một khúc
rất thâm trầm, âm thanh tuyệt diệu, gió như ngừng thổi
để nghe, Thần trong hang động đều rời khỏi chỗ để ra
thưởng thức. Các vị nhạc sư lấy làm kinh ngạc. Khi Phật
đàn xong họ đồng lên tiếng thưa: Bạch Ngài, chúng con lâu
nay tự coi mình là những tay thiện nghệ nhất thế gian về
kỹ xảo biểu diễn âm nhạc, nhưng so với Ngài thì tiếng
đàn của chúng con như con dã can so với tiếng rống của Sư
tử. Nhân đó ngài nói: Các anh tưởng các anh đã tự biết
các anh, nhưng kỳ thật các anh chỉ biết các anh một cách
mơ hồ. Rồi các nhạc sư yên lặng lắng nghe lời Phật dạy
về chuyện vua Bát-ma-ca hy sinh thân mình để cứu an bá tánh
trong nước Ngài. Và cuối cùng Ngài khuyên: Các con hãy dùng
trí tuệ của các con để cứu vớt quần sanh ra khỏi chốn
u đồ hơn là đi tìm một cô gái vô tích sự như vậy. Khi
đó các nhạc sư đồng xin xuất gia theo Phật, sau đó cả
thầy trò cùng nhau trực chỉ đến Ưu-lâu-tần-loa.
Một
lần nọ đức Phật ở giữa dân chúng Koliya, một số người
đến đảnh lễ đức Phật, bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn,
chúng con là những người tại gia hưởng thọ đầy đủ các
dục, sống hệ phược với vợ con, mang chuỗi ngọc, tràng
hoa, xoa son đánh phấn, xin Thế Tôn hãy thuyết pháp cho những
hạng người như chúng con. Ngài thuyết thế nào mà pháp ấy
sẽ đem lại cho chúng con hạnh phúc an lạc ngay trong hiện
tại và cũng đem lại hạnh phúc an lạc cho tương lai. Đức
Phật dạy: Này các gia chủ, có 4 điều đem lại hạnh phúc
ngay trong hiện tại là: Điều thứ nhất là phải đầy đủ
sự tháo vát. Phàm làm một nghề gì để sinh sống; như làm
ruộng, dạy học, đi buôn, làm bác sĩ hay làm nhân viên nhà
nước . . . thì phải chuyên cần, chăm chỉ, tìm hiểu nghiên
cứu sâu trong lãnh vực nghề nghiệp của mình đang theo đuổi
để cho được tinh xảo, để có thể tự mình làm và chỉ
vẽ cho người khác làm. Điều thứ hai là đầy đủ sự phòng
hộ. Bằng sức mạnh, bằng mồ hôi nước mắt để thu nhập
của cải một cách đúng pháp thì phải cố gắng giữ gìn
phòng hộ của cải đó đừng để vua quan tịch thu, trộm
cướp mang đi, lửa cháy thiêu hủy, nước cuốn trôi, gió
thổi tan và phải dạy dỗ, căn dặn những người con thừa
tự chớ có dại dột, hoang đàng phá phách cướp đoạt. Điều
thứ ba là phải bảo vệ tài sản mình kiếm được.Người
con thừa kế luôn luôn là sự mong đợi của dòng họ để
trao truyền và giữ gìn gia sản của mình trong khi mình đang
sống và sau khi mình qua đời.
Nhưng
nếu người con thừa kế đó không được giáo dục, cha mẹ
sanh ra thì có mà nuôi thì không hoặc nuôi thì có mà dạy
thì không, để đi theo bạn bè xấu ác tập nhiễm những hành
động phi pháp, tâm tính hoang đàn nghịch ngợm. Đối với
cha mẹ chẳng những đã không giữ gìn được tài sản để
lại mà ngược lại còn hỗn hào xấc láo, gây khổ cha mẹ
nữa là khác. Muốn tài sản được người giữ gìn tất nhiên
người làm cha, làm mẹ phải có bổn phận giáo dục con cái
mình ngay từ lúc tuổi còn đang nhỏ. Giáo dục con cái bằng
đủ cách như cho tiền con cái đúng pháp, dạy dỗ nó bằng
lẽ phải, bằng tình thương, bằng đạo đức. Phải để
ý hướng dẫn con cái đi đến những nơi hấp thụ được
điều hay lẽ phải, đạo đức nhân nghĩa, không nên bỏ con
cái đi lêu lỏng, để cho con cái muốn làm gì thì làm. Nhiều
Phật tử chúng ta chỉ biết rằng: Đạo Phật là hay, đạo
Phật là đúng, đạo Phật là sáng suốt rồi tự một mình
đi chùa lễ Phật, còn con cái tha hồ làm gì thì làm, đi đường
nào thì đi. Như thế thì con cái là những kẻ thừa tự, có
hy vọng ở nơi nó bảo vệ được tài sản của mình không?
Điều thứ tư là phải gần gũi với thiện. Ở xóm này hay
ở xóm kia, nếu ở đó có người hiền thiện, những người
có lòng tin chính đáng, có sự bố thí rộng rãi, có đức
hạnh, có trí tuệ, thì ta nên gần gũi họ để bàn bạc,
học hỏi điều hay lẽ phải về đạo đức luân thường
để mà sống theo. Điều thứ năm là phải sống thăng bằng
điều hòa. Ngày này ta thu được bao nhiêu tiền, chi ra bao
nhiêu còn lại bao nhiêu. Rồi ngày khác ta thu được bao nhiêu,
chi ra bao nhiêu, còn lại bao nhiêu tiền. Nếu thu nhập ít ỏi
mà tiêu phí hoang đàn vô bổ, thì người đó sẽ bị thiên
hạ chê cười, đó là những kẻ ăn của cải của mình mà
không biết phòng xa. Ngược lại nếu thu nhập khá nhưng lại
bỏn xẻn, keo kiệt, hà tiện không dám tiêu, không dám làm
việc phải, thì người đó cũng sẽ bị thiên hạ chê cười,
kẻ đó là kẻ sẽ chết đói trên đống của cải.
Có
4 điều làm cho của cải tiêu tán và cũng chính 4 điều đó
làm cho của cải được duy trì và phát triển, đó là: Đam
mê cờ bạc là diều thứ nhất, làm cho của cải đội nón
ra đi một cách khỏe khoắn. Đam mê rượu chè là điều thứ
hai. Đây là một cách đẩy của cải ra khỏi nhà. Đam mê
sắc dục là điều thứ ba. Đó là một cách không muốn giữ
của cải trong gia đình nữa, và giao du với bạn ác là điều
thứ tư. Đây là cách mời giặc về nhà để mang của ra đi.
Bốn điều trên là những điều thông thường nhưng hết sức
thâm thúy, những điều thông thường nầy xảy ra hàng ngày
nên không ai nghĩ tới, quá thông thường nên không ai sống
với. Cho nên khi giao du bạn ác mà không biết rằng mình giao
du bạn ác để người trong gia đình mình giao du bạn ác mà
không biết rằng gia đình mình đã có người giao du với bạn
ác. Thế là mở cửa để cho của cải trong nhà đi ra. Ngược
lại nếu không đam mê cờ bạc, không đam mê rượu chè, không
đam mê sắc dục, không giao du bạn ác thì của cải ta làm
được sẽ được bảo trì một cách vững vàng không bị
mất mát.
Tóm
lại, đức Phật dạy những điều vừa nói là những điều
đem lại hạnh phúc an vui ngay trong hiện tại. Các Phật tử
chúng ta thực hành theo những lời dạy đó thử coi, nó có
được an vui hay không? Tôi đoan chắc rằng khi chúng ta thực
hành những lời dạy đó của đức Phật thì chúng ta sẽ
được an vui.
Họ
lại hỏi tiếp: Những pháp nào đức Phật nói ra sẽ đem
lại an vui hạnh phúc trong tương lai nếu được áp dụng.
Điều thứ nhất là đầy đủ lòng tin. Chúng ta nghèo khổ
bao giờ cũng ước ao được giàu có, chúng ta sống trong một
cái thân mạng ngắn ngủi thì bao giờ cũng ước ao được
sống lâu dài. Chúng ta thiếu từ bi ước ao được sống trong
từ bi, chúng ta dốt nát ao ước được trí tuệ sáng suốt.
Chúng ta sống triền phược ước ao được sống tự do giải
thoát. Chính những ao ước đó dắt dẫn chúng ta bước lên,
đi tới cảnh giới rộng rãi, tự tại an vui. Nhưng muốn được
như thế thì phải có lòng tin. Có lòng tin đặt đúng chỗ
gọi là chánh tín. Một người học trò muốn học giỏi phải
tin tưởng lời dạy của người thầy giáo, nếu không tin
tưởng ở ông thầy giáo và lời dạy của ông, thì người
học trò đó không thể giỏi được. Một người bệnh đến
bác sĩ chữa bệnh, tin tưởng ở người thầy thuốc, tin tưởng
thứ thuốc bác sĩ cho có thể chữa lành bệnh, thì bệnh nhân
mới có thể chữa mau lành bệnh được. Cũng vậy, bây giờ
chúng ta ao ước được Từ bi, chúng ta phải tin tưởng vào
Đấng có từ bi viên mãn đó là đức Phật. Chúng ta ao ước
trí tuệ thì chúng ta phải tin tưởng vào đức Phật là đấng
sáng suốt và trí tuệ giác ngộ như danh từ đã gọi. Phật
nghĩa là giác, có thêm chữ đại giác nữa gọi là sự giác
ngộ lớn lao. Giờ chúng ta đang bị vô minh, chúng ta ao ước,
mơ ước được giác ngộ thì chúng ta phải tin vào Đấng
Giác ngộ thì ta mới giác ngộ được. Chúng ta đang sống
trong triền phược, bó buộc, bó buộc ở ngoại cảnh và bó
buộc trong chính nội tâm chúng ta. Chúng ta muốn được tự
tại giải thoát thì phải tin tưởng vào Đấng Tự tại giải
thoát mới mau được tự tại giải thoát. Đấng tự tại
giải thoát đó là đức Phật. Tin vào đức Phật một cách
đúng đắn, tin vào lời dạy của đức Phật một cách đúng
đắn, tin vào các bậc chân Tăng xuất gia tu hành theo đạo
Phật một cách đúng đắn đó là ba niềm tin quí báu của
người Phật tử chúng ta, là những người đang mong mỏi bước
lên con đường giác ngộ giải thoát và từ bi của đức Phật.
Thứ hai là đầy đủ giới đức: Giới đức tức là những
điều răn dạy, những điều luật để kềm chế thân của
chúng ta đừng làm bậy, miệng của chúng ta đừng nói bậy,
tâm của chúng ta đừng nghĩ bậy. Mỗi người chúng ta phải
sửa cho được thân không làm bậy, miệng không nói bậy,
ý không nghĩ bậy, đó gọi là giới luật, là những điều
răn dạy của Phật. Những người sơ cơ tại gia Phật tử
có 5 điều răn dạy mà đức Phật dạy cho người tại gia
cố gắng giữ gìn, thì tự nhiên có đức hạnh. Năm điều
căn bản của giới tại gia tạo nên đạo đức là: 1. Không
sát sanh; 2. Không trộm cắp; 3. Không tà hạnh trong các dục;
4. Không nói dối; 5. Không uống rượu. Đó là căn bản của
đạo đức, của lẽ phải. Chúng ta thử hỏi, ta muốn sống,
người khác cũng muốn sống thì đừng vì ta mà giết hại
kẻ khác Đó là một sự hợp tình thuận lý. Nếu giữ được
cái hợp tình hợp lý đó thì gọi là đạo đức, trái lại
làm một việc phi tình phi lý thì gọi là vô đạo đức. Không
trộm cắp là biết tôn trọng của cải của người khác trong
xã hội, đó là một việc hợp tình hợp lý gọi là đạo
đức. Không tà dâm, giữ nhân cách, nhân phẩm cho đứng đắn
vững vàng đó cũng là đạo đức mà xã hội con người không
thể thiếu được. Không nói dối cũng là một cách giữ gìn
đạo đức, nhưng điều này hơi khó. Các Phật tử lên chùa
nghe các thầy khuyên đừng nói dối, đó là lời khuyên hay
và có lợi vô cùng, nhưng đến khi ra giữa chợ đời thì
chịu. Một thước vải chị bên này bán 10 ngàn, chị nọ
12 ngàn, chị kia 15 ngàn, chị khác 11 ngàn. Trong khi đó thước
vải xuất xưởng đúng giá chỉ có 9 ngàn thôi. Nếu mình
nói thước vải này 10 ngàn thì người ta cho là vải xấu.
Nói thách 15 ngàn đó là vải ngoại họ cho là vải tốt. Còn
11 ngàn thì cho là vải nội hóa không ra gì, không thèm mua.
Cho nên thật khó nói. Như vậy mình là Phật tử, nói thật
thà thì không nên đi buôn và cũng đừng nên làm chuyện gì
hết, bởi trong giới nào cũng có sự nói láo cả, không nhiều
thì ít, nhất là trong sự buôn bán nói láo nhiều hơn ai hết.
Vậy làm sao vừa giữ giới được vừa buôn bán được? Nếu
là người năng đi buôn, các vị tìm cho một cách vừa giữ
giới được vừa buôn có lời! Các vị có làm được không
?
Tôi
đã nghĩ ra cách này không biết các Phật tử có chịu không?
Trong thước vải đó, người bên này nói 12 ngàn thì mình
cũng nói 12 ngàn. Đúng ra là nói láo rồi đó, láo 3 ngàn so
với 9 ngàn là giá chính thức. Nếu gặp một người từ quê
ra, cực khổ, lâu nay gom góp được 12 ngàn đồng, lên chợ
mua tưởng vải chưa trượt giá, họ tính nếu mua một thước
6 ngàn, hai thước 12 ngàn thì may được 1 cái áo. Chừ nó
trượt giá 12 ngàn một thước, nhưng họ cũng đành nhắm
mắt mua. Chị bán hàng bên này không đi chùa, chị không giữ
giới bất vọng ngữ, nên chị nói 12 ngàn, chị từ quê ra
đồng ý mua và trả tiền lấy vải về. Khi mua được vải
đó đem về tốt xấu chị ta không thèm để ý. Còn mình là
Phật tử nói 12 ngàn và chị ta cũng đưa 12 ngàn nhưng mình
nói nhỏ với chị ta, tuy nói là nói vậy, nhưng tôi bớt cho
chị 2 ngàn lấy 10 ngàn thôi. Thế là mình cũng nói láo, bán
được có lời, nhưng nói láo đó là nói láo phương tiện,
không mắc tội, không phạm giới. Đó là tôi đề nghị như
vậy để các vị tham khảo vì tôi không đi buôn, nếu còn
giải pháp nào hay hơn thì các Phật tử tìm cách suy nghĩ thêm,
miễn sao buôn bán có lời mà không mắc tội nói láo là được.
Nói
đến giới bất vọng ngữ này thì căn bản của nó là nền
tảng của đạo đức. Trong chúng ta nếu ai cũng cố gắng
giữ đừng nói láo, hay có nói láo thì nói ít ít thôi, 10
nói ra 11 chứ đừng nói ra 20. Như vậy chợ nó bớt ồn, thì
giờ bớt mất, đồ đạc của cải bán ra cũng rất mau. Còn
nói láo thách nhau nhiều quá nhất định chợ sẽ ồn, bán
rất chậm, vì sao? Vì một thước vải 9 ngàn mà nói 20 ngàn
nhất định họ phải trả giá thôi. Trả tới trả lui, trả
lên trả xuống... một giờ mà chưa mua được một thước
vải nào và người bán cũng không bán được một thước
vải nào. Đó là hậu quả của sự nói láo quá mức, đã
mất thì giờ cho mình mà lại còn mất thì giờ cho người
mua, thậm chí đôi khi xảy ra xích mích, cãi lộn rồi đánh
nhau nữa. Xã hội nào nói láo nhiều thì xã hội đó sẽ bất
an. Nếu nói láo ít thì đó là một xã hội an lạc.
Tôi
thấy vì nói thách quá nhiều nên có người đi cả buổi chợ
rồi quay trở về chứ không mua được gì hết. Ở nhà nghe
nói một thước vải 5 ngàn, lên chợ hỏi chỗ này 7 ngàn,
chỗ kia 9 ngàn, thậm chí 11, 15 ngàn nên không mua được vải
mà lại mất toi một ngày. Bên kia cũng không bán được, bên
này cũng không mua được. Cho nên giới không nói láo tưởng
đơn sơ nhưng đó là căn bản của an lạc, trật tự của
xã hội. Nếu một xã hội mà người nói láo nhiều thì đâm
ra mất trật tự và nguy hiểm vô cùng. Tôi ví dụ, chúng ta
tới mua vé xe, nếu họ bán thật giá thì khách sẽ mua và
lên xe đi ngay, còn nói thách thì khách sẽ đắn đo, so sánh
nên chưa vội mua ngay. Đáng ra vé xe đi 5 ngàn, bây giờ họ
nói 10 ngàn nên khách phải trả giá, vô tình họ làm mất
thì giờ cho khách mà xe cũng không thể chạy được. Như vậy
là bên này kẻ mất buôn, bên kia kẻ mất bán, xã hội vì
vậy mất trật tự nên không có đạo đức. Cho nên Phật
chế giới cấm nói láo là rất hay, nếu chúng ta suy nghiệm
kỹ thì lời dạy của đức Phật thâm thúy vô cùng, nếu
đem áp dụng được giới không nói láo vào trong đời sống
thì sẽ đem lại sự an lạc cho xã hội ngay tức thời.
Không
uống rượu là điều thứ năm: ở giữa xã hội kinh tế thị
trường này, là một người Phật tử lên chùa mà không uống
rượu, tôi nghĩ các Phật tử chẳng qua khi nghe lời các thầy
khuyên không nên uống rượu thì dạ dạ cho qua chuyện mà
thôi, chứ ở ngoài đời nói không uống rượu thì khó quá.
Xã hội ta bây giờ ở đâu đông người là ở đó có uống
rượu. Ngồi hai người họ cũng uống. Bình thường không
có người họ cũng bày ra độc ẩm. Quán nào cũng có rượu
cả. Nếu Phật tử khi lên chùa các thầy khuyên đừng uống
rượu thì e cũng có người nói: Thôi thôi các thầy ơi, các
thầy cho tôi quá 70 tuổi rồi tôi sẽ nghỉ uống, chứ bây
giờ còn trẻ nghỉ uống sao được, tu cái giới này chưa
được, khó quá? Thực tình ra đức Phật dạy những giới
điều như vậy, Ngài nói chu đáo nhưng sự thực hành bao giờ
cũng từ từ, chứ không phải khuyên các Phật tử không giữ.
Tôi ví dụ: Nếu hôm trước chúng ta uống 10 lít một ngày
thì bây giờ thọ giới rồi uống 9 lít thôi. Hoặc tháng sau
hay tháng sau nữa lên chùa lạy Phật, xin Ngài cho con bữa nay
uống 8 lít thôi. Tháng sau tháng sau nữa lên lạy Phật nói,
thưa Ngài bữa nay cho con uống 7 lít thôi, cứ như thế từ
từ mà bỏ. Chính đó là thọ giới không uống rượu, chứ
không phải lên thọ rồi là bỏ liền, nên các đạo hữu
đừng sợ. Như thế thì ai đang uống rượu đó cũng có thể
xin thọ ngũ giới được chứ không phải nói tôi đang uống
tôi thọ không được. Nhưng vị ấy phải có quyết tâm bỏ
từ từ, như tháng này tôi bỏ một ly, tháng sau tôi bớt một
ly, cứ như thế từ từ mà bỏ dần, đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai là khi đã thọ giới không uống ruợu thì không
được đem rượu mời nài ép người khác uống. Có nhiều
khách tới nhà liền đem ruợu tới nài ép: Mời anh uống với
tôi một chén cho vui. Người kia nói: Không, tôi thọ giới
rồi tôi không uống rượu. Người kia nài nỉ: Thôi anh à,
hôm nay anh xả giới một bữa, anh cụng với tôi một ly cho
vui. Như thế là mình không biết giữ cho mình mà cũng không
biết giữ cho người khác. Như vậy là giữ giới bất ẩm
tửu không trọn vẹn. Nên khi giữ thì phải giữ cho mình và
cũng giữ cho người khác nữa, chứ mình không uống mà cứ
ép người khác uống một chén cho vui, vì mấy khi anh đến
nhà tôi. Ép người ta như vậy thì mai mốt làm sao ta lên chùa
để thọ giới không uống ruợu được, vô tình mình chận
con đường hành đạo của mình và còn chận con đường tu
đạo của người khác mà không biết. Cho nên việc chế giới
của Phật thâm thúy vô cùng, mình phải tìm hiểu và thực
hành thì bản thân mình mới được thanh thản an vui. Nếu
không ý thức được như vậy, thì việc uống rượu tràn
lan trong xã hội như hôm nay là một tai hại rất lớn. Có
biết bao người chết vì rượu và cũng có biết bao gia đình
tan nhà nát cửa cũng vì rượu.
Một
lần, có một Phật tử chở tôi bằng xe Honda, tôi ngồi sau
hỏi: Sao Bác, mấy hôm rày ăn làm ra sao? Anh ta trả lời: Thưa
thầy, dạ kinh tế con không lo nhưng khổ quá. Tôi hỏi Bác
khổ chuyện gì vậy? Thưa thầy, nhà tôi mấy đứa con nó
say sưa cả ngày, đánh lộn cãi vã nhau hoài, xử mãi xử hoài,
xử một chặp tôi mệt quá, lần sau nghe la lối to tiếng là
tôi phải bỏ đi chỗ khác, qua nhà hàng xóm ngồi. Như vậy
là nhà mình giao cho con uống rượu phá phách, còn mình qua
nhà hàng xóm ngồi. Vậy là tại ai mà xảy ra chuyện bất
hạnh như vậy? Tại mình không giáo dục con cái mình chứ
không phải khổ vì ngoại cảnh bên ngoài đem lại. Cho nên
chúng ta phải ý thức cho được lời đức Phật dạy không
uống rượu là một điều rất hay, rất là đạo đức.
Ở
ngoài xã hội, chúng ta cho chuyện đó là chuyện thông thường,
không quan trọng, nhưng nhìn ra ngoài xã hội, nhìn lại trong
gia đình của mình chúng ta sẽ thấy đó là một điều hết
sức hợp lý và rất hay. Nếu giữ được thì sẽ đem lại
sự hạnh phúc cho gia đình và xã hội.
Điều
thứ 3 là đầy đủ sự bố thí. Thường thường khi nghe nói
bố thí chúng ta hay quan niệm rằng: Có của mới bố thí chứ
tôi nghèo xơ nghèo xác thì làm sao mà bố thí được. Ngày
chỉ cần đủ được hai ba bữa ăn là tốt lắm rồi chứ
lấy đâu ra của mà bố thí. Như vậy là cái bụng chưa no
làm sao mà bố được. Khi nào no mới bố chứ, chứ giờ đây
chưa no mà biểu bố cho ai được. Thế chắc Phật dạy bố
thí là dạy cho mấy ông nhà giàu, còn hạng nghèo khổ, hạng
đi xin ăn bố sao được Có nhiều người nghĩ vậy nên cho
Phật chỉ chú trọng mấy ông nhà giàu, chứ không chú trọng
mấy người nghèo khổ. Chứ nhà nghèo quá không đủ ăn lấy
đâu mà bố với thí.
Thật
ra bố thí là một cách mở rộng lòng mình, chan hòa sự sống
của mình với người khác. Khi đã biết thu vào thì cũng phải
biết thí ra. Hằng ngày chúng ta thở vào và thở ra để mà
sống. Nếu chúng ta tham lam hơi thở, hít vào thật nhiều không
tống nó ra, có được không? Chắn chắn là không được,
chết ngay. Có cho ra rồi mới hít vào được, có hít
vào rồi mới cho ra được. Từ đó suy ra, của cải cất cho
nhiều để làm gì? Của cải để nuôi sống, không khí để
làm gì? cũng để nuôi sống. Vậy khi hít không khí vào cũng
chỉ vừa đủ để nuôi sống mà thôi, nếu dư quá sẽ ngập
tràn phổi cũng chết. Của cải nếu giữ mãi mà không đưa
ra, lâu ngày nó không chết cách này thì cũng chết cách khác.
Sau
giải phóng có một ông đạo hữu, tôi chắc ông này là đạo
hữu nhưng cũng ít đi chùa, không bao giờ bố thí và không
nghe Phật dạy cái luật vô thường, đến với tôi ông nói:
Ôi chao thầy ơi ? Thầy có cách chi thầy vẽ cho tôi sống
với, chứ tôi hoảng quá thầy ạ! Tôi hỏi: sao mà hoảng
quá rứa bác? Ông nói: Thưa thầy, nhà cửa con họ lấy hết
trơn. Tôi hỏi: họ lấy mấy cái? Dạ, họ lấy 9,10 cái lận.
Tôi tiếp tục hỏi: Có còn cái nào không ? Dạ, còn một cái.
Còn nhà gì bác? Dạ, nhà lầu. Vậy giờ bác ở với ai ? Dạ,
hai vợ chồng già thôi. Tôi nói: Ôi chao, sao bác không chịu
ngó xuống mà ở. Hai vợ chồng già rồi ở một cái nhà lầu
mà bác nói hoảng. Một mai kia bác không có gạo ăn, bác bán
cái nhà ấy rồi mua một cái nhà nhỏ nhỏ, hai vợ chồng
ở với nhau, tôi nghĩ bác sống đến 120 tuổi cũng tiêu chưa
hết tiền! Khi đó bác ta kêu lên: à, à.
Thường
thường chúng ta mê lầm lắm. Trong khi mình sướng mà không
biết mình sướng, cứ nói mình khổ. Còn cái nhà lầu 3 tầng
so với nhiều người còn ở nhà tranh, thậm chí có nhiều
người không có nhà, ở bụi ở bờ thì mình sướng biết
mấy mà không biết mình sướng. Cho nên khi ta biết sướng
thì tự nhiên ta sướng, nếu không biết sướng thì tự nhiên
ta khổ. Khổ đó phần lớn do mình đem tới chứ không do ai
đem lại cả.
Đức
Phật có một lần, Ngài ngồi yên tịnh bên gốc cây. Có người
đi ngang qua hỏi: Ngài có hoan hỷ không Ngài? Ngài nói: Ta được
gì mà Ta hoan hỷ. Ngài không hoan hỷ chắc là sầu muộn hay
sao mà ngồi một mình như vậy? Ngài nói: Ta mất chi mà Ta
sầu muộn. Ông ta nói: Lạ chưa, không hoan hỷ thì sầu muộn,
không sầu muộn thì hoan hỷ, chứ sao đây hoan hỷ cũng không
mà sầu muộn cũng không? Đời không có ai có chuyện lạ như
vậy bao giờ. Ngài mới nói: Sầu muộn chỉ đến với người
có tâm hoan hỷ, hoan hỷ chỉ đến với người có tâm sầu
muộn. (Bây giờ đang đói bụng quá, sầu hết sức; có ai
đem cho một ổ bánh mì ăn thì hoan hỷ. Thế là từ trạng
thái sầu muộn mà sinh ra hoan hỷ. Hôm nay có một lượng vàng
bỏ trong túi, đi rá đường nó rớt mất. Vì có vàng là hoan
hỷ lắm mà giờ nó rớt mất là sầu muộn). Như Lai là người
đã dứt hết sầu muộn rồi thì lấy đâu mà hoan hỷ. Hoan
hỷ chỉ đến với tâm người sầu muộn, mà đức Phật không
còn sầu muộn, cho nên Ngài không sầu muộn cũng không hoan
hỷ. Nhưng chính không sầu muộn không hoan hỷ đó là một
cái hoan hỷ vượt lên trên mọi hoan hỷ và sầu muộn tầm
thường đối đãi của thế gian, đó là một cái hoan hỷ,
giải thoát tự tại, cho nên đức Phật khi nào miệng Ngài
cũng mỉm cười luôn. Cười to như ngài Di-lặc hay cười mỉm
như đức Thích-ca cũng là nụ cười bao giờ cũng hoan hỷ.
Khi
nào các Phật tử lên chùa hỏi đức Di-lặc, Ngài có được
cái gì không mà Ngài cười luôn như vậy? Ngài có trúng số
độc đắc không mà Ngài cười hoan hỷ như vậy? Rồi đến
vỗ vỗ nơi chân đức Thích-ca hỏi Ngài có được gì không
mà Ngài mỉm cười như vậy. Nếu lên hỏi mà đức Di-lặc
nói: Ta không được gì cả mà Ta vẫn vui; hay đức Thích-ca
cũng không được gì cả mà Ngài vẫn cười, vẫn hoan hỷ.
Mình cũng bắt chước theo các Ngài rằng: Dù chúng ta không
được gì cả thì chúng ta vẫn cứ vui vẻ. Lẽ tất nhiên,
cái vui của Phật không phải như cái vui của mình. Mình cười
ha hả là trước mắt có cái vui cho chính mình. Tuy nhiên, cái
vui cái cười của mình hiện ra rồi biến mất khiến mình
lại buồn liền. Bởi vì mình đang còn ở trong cảnh vui vui
buồn buồn của thế gian. Cái vui cái buồn của mình không
phải tự chính trong mình có, mà nó tùy thuộc vào cái vật
bên ngoài. Bây giờ nếu ai đem tới cho chúng ta một thỏi
vàng mà còn ca ngợi chúng ta nữa, rứa là chúng ta vui, nhưng
nếu chúng ta để mất thỏi vàng thì buồn liền. Như vậy
là dựa theo thỏi vàng đó mà vui mà buồn, chứ trong tâm này
không có. Đó là cái vui buồn theo ngoại cảnh.
Đức
Phật không vui buồn theo thỏi vàng đó cho nên khi nào Ngài
cũng mỉm cười, cũng vui hết. Ngài biết cái buồn vui theo
thỏi vàng đó là cái buồn vui giả tạo, một cái buồn vui
không bền vững, cho nên Ngài đã bỏ quốc thành thê tử để
đi tu, hầu chứng ngộ một cảnh giới không buồn không vui
gì cả, đó là Niết-bàn, nên dù cho ngồi dưới gốc cây
Ngài cũng vui.
Sự
bố thí mà đức Phật dạy rất thiết thực và thâm thúy
lắm. Nếu tất cả chúng ta, hằng ngày có một ý nghĩ bố
thí thôi, chứ chưa phải bố thí cho ai hết thì cũng đã có
lợi rồi. Khi tâm của chúng ta nghĩ đến bố thí: Ví dụ
ta nghĩ ước gì có một đồng bạc để bố thí cho người
nghèo, thì khi ấy chúng ta sẽ không móng tâm ăn cắp ăn trộm
nữa. Cho nên chỉ một việc suy nghĩ đến bố thí cũng đã
có lợi rồi, chứ chưa nói đến việc đem tiền đem bạc
đi bố thí. Khi tâm đã nghĩ đến bố thí thì sẽ không có
tâm nào nghĩ đến ăn trộm ăn cắp nữa, như thế đã là
có lợi và vui rồi. Nếu không bố thí thì tâm bỏn sẻn sẽ
làm cho mình mù quáng, không biết đâu là phải đâu là trái,
đâu là hay đâu là dở. Khi ấy cái gì có lợi thì ta cho là
đúng, không lợi thì cho là sai.
Có
một bà già, bà này chuyên sống với tiền với bạc; nên
ngày nào có tiền có bạc đem đến thì bà vui, ngày nào không
có tiền đến thì bà buồn. Khi nào mở tủ ra mà thấy bạc
chất từng chồng cao thì bà vui, còn chồng bạc lưng lưng
thì bà buồn lắm. Suốt ngày chỉ nghĩ đến tiền, nên bà
tìm đủ mọi cách để thu càng nhiều tiền càng tốt, vì
vậy bà đã tìm đủ mọi mưu mô thủ đoạn, để vơ vét
tiền bạc về cho mình và không từ một thủ đoạn nào. Vì
thế, nếu có ai tới nói có lợi cho bà thì bà đãi cơm mời
nước rất ân cần, còn người nào tới quyên tiền như nói:
Bữa nay trên chùa có lễ, chị nên cúng cái này cái kia để
làm phước, thì bà liền quay lưng từ chối lia lịa. Không
cho mà lại ác cảm nữa.
Bên
cạnh nhà bà có ông hiền sĩ, thấy tâm bà ác quá nên anh
ta tìm cách thức tỉnh bà. Bữa nọ, anh ta qua nhà bà mượn
một cái nồi nấu cơm. Anh nói, bà ơi mấy lúc này tôi ở
một mình nên nấu cái nồi một là đủ ăn, bữa nay có bạn
bè tới thăm, nên bà cho tôi mượn cái nồi rưỡi về nấu
vài hôm. Năn nỉ đủ cách bà mới cho mượn và còn nói: Cả
đời tôi chưa cho ai mượn hết, bữa nay nể anh nên cho anh
mượn, nhưng sáng mai phải đem trả sớm cho tôi. Sáng mai anh
ta đem trả nồi ruỡi và trong còn có một cái nồi con nữa.
Thấy
vậy bà hỏi : Cái nồi con này đâu đây? Anh ta nói: Hồi hôm
tôi rửa cái nồi rưỡi định sáng mai đem trả cho bà, không
ngờ ban đêm nó đẻ ra cái nồi một này. Nghe nói vậy bà
ta khoái trá nói: Phải, nồi tôi là nồi đặc biệt, bữa
sau có mượn qua đây tôi cho mượn, với lại nếu anh mượn
nồi gì tôi cũng cho anh mượn hết. Bà dặn dò như vậy mấy
lần nhưng lâu rồi không thấy anh ta qua mượn. Lâu lâu bà
lại cho người qua nhắc, sao không thấy anh qua mượn nồi.
Bà nhắc mãi nhắc hoài, bữa đó anh ta qua mượn. Anh xin mượn
nồi rưỡi, bà nói không có, chỉ cho mượn nồi lớn thôi
chứ nồi rưỡi tôi bận rồi.
Một
hồi lời qua tiếng lại, cuối cùng anh nói: Thôi bà cho mượn
cái nồi gì cũng được. Bà đưa nồi lớn, anh nói: Nồi này
to quá làm gì hết. Anh năn nỉ bà cho mượn nồi nhỏ thôi.
Bà nói, thôi cho mượn nồi ba cũng được. Khi đó bà nghĩ
thầm trong bụng: Nồi ruỡi đẻ ra nồi một thì bây giờ
nồi ba nó sẽ đẻ ra nồi em nồi một. Bà vội vàng lấy
nồi cho anh ta mượn. Anh ta mang nồi về. Khi đi ngang qua con
sông cạnh nhà anh ta, anh liền vứt nồi xuống sông rồi về
nhà nằm ngủ. Bà ở bên nhà cứ thấp thỏm sao đêm nay trời
lâu sáng quá, canh một, canh hai, canh ba gà đã gáy nhưng trời
vẫn chưa sáng. Bà trông cho mau sáng để anh ta qua trả nồi.
Hy vọng anh đem trả nồi ba thế nào cũng có cái nồi nhỏ
ở trong đó.
Nhưng
một ngày trôi qua vẫn không thấy anh ta đem trả. Ngày hôm
sau mặt trời vừa lên quá đọt cau mà vẫn chưa thấy anh
ta trả nồi, bà nóng lòng nên chạy qua nhà thì thấy anh ta
đang vách râu nằm ngủ. Bà tới đập anh ta thì anh ta lăn
qua lăn lại mà không thấy dậy. Bà lấy que đập đập vào
người khi ấy anh ta mới dụi mắt thức đậy. Bà mắng anh
ta và nói: Sao sáng nay không thấy anh đem nồi qua trả? Anh
trả lời: Ôi chán quá bà ơi! Bà hỏi anh chán cái gì? Anh
nói: Cái nồi bà hắn chết rồi. Bà nói: Anh nói hiện ngụy,
có bao giờ nghe nồi chết đâu mà sao hôm nay anh nói lạ thế!
Anh buồn rầu nói và khóc: Cái nồi nó chết nên tôi đem chôn
hồi hôm rồi. Bà la lớn: Anh đừng nói hiện ngụy. Nồi mà
nồi chết, xưa nay chưa nghe ai nói chuyện đó! Anh nói: Bà
không biết sao, xưa nay đã có sanh thì có chết chứ sao. Bà
dậm chân dậm cẳng la lối, nồi của tôi đâu rồi đem về
cho tôi, còn không tôi sẽ đi kiện quan. Anh nói: Bà có đi
kiện đâu thì kiện chứ hắn chết tôi cũng chịu thôi.
Bà
chạy về nằm gác tay lên trán suy nghĩ nếu muốn đi kiện
quan thì biết viết đơn làm sao để đi kiện. Dù cho ông tiến
sĩ cử nhân gì đi nữa làm sao viết được cái đơn này mà
đi kiện. Thua buồn thua kiện nên bà về nhà nằm nghĩ. Nghĩ
một hồi tinh thần hơi ổn định và nhớ lại: Khi kia mình
nồi ba cũng có, chừ lại không! Nồi rưỡi cũng có giờ lại
không? Tự ai gây ra cớ sự như thế này? Vua cũng không lấy,
giặc cũng không cướp mà sao ta lại mất nồi? Tính đi tính
lại té ra mình quá tham. Tham quá hóa thành u mê.
Câu
chuyện nghe kể có vẻ ngớ ngẩn, bây giờ một em bé 15 tuổi
cũng không tin cái nồi sanh nồi chết. Nhưng bà con chúng ta
không tin cái nồi sanh nhưng lại tin cục vàng nó đẻ. Một
cây nó có thể sanh ra bốn cây hay bảy cây một lần. Báo
chí có nêu đây đó tỉnh này tỉnh kia, nạn chơi và bể hụi
làm cho bao gia đình tan nhà nát cửa. Tôi có một người quen
hiện bây giờ vợ bỏ chạy trốn vì sợ chủ nợ tới đòi,
nên chồng phải treo bảng bán nhà, vì sao? Đó là vì nạn
chơi hụi. Vàng không đẻ một ra ba cây mà cứ ép nó đẻ
cho nên khổ. Nồi không đẻ mà cứ ép cho nó đẻ nên sinh
ra khổ. Nếu có cái tâm bố thí, không bỏn sẻn, không tham
lam thì đâu đến nỗi như thế.
Đức
Phật dạy: Tham, sân, si là ba căn bệnh gây đau khổ cho chúng
sinh. Làm sao bớt tham, bớt sân, bớt si thì mới có an lạc.
Có ba cách bố thí để đem lại an lạc: Đó là bố thí tài
vật, là cúng của, cúng tiền giúp áo giúp cơm. Ví dụ thấy
bên nhà hàng xóm có một em bé học hành giỏi, tánh nết dễ
thương nhưng nhà không đủ tiền nuôi con cho đi học thì mình
tìm cách giúp cho em đó đi học. Đó là cách bố thí thiết
thực nhất.
Xưa
có một người ăn xin thấy đức Phật đi ngang qua, trong lòng
ưng bố thí quá nhưng không biết lấy gì mà bố thí, đi xin
còn không đủ ăn lấy đâu mà bố thí. Người ấy chạy tới
nói: Bạch Phật, con muốn cúng cho Ngài nhưng cực quá không
làm sao mà cúng cho Ngài được. Đức Phật đưa bình bát của
Ngài cho người đó và nói: Ngươi đến nơi giếng múc cho
ta một bát nước. Khi múc nước đem tới dâng Ngài, Ngài nói:
Ngươi đã bố thí cho ta rồi đó.
Hiểu
cái nghĩa bố thí rộng rãi như vậy thì bất cứ giờ nào
chúng ta cũng bố thí được hết. Đi ra đường gặp một
người đẩy xe nặng ta đến đẩy phụ cho họ một chút cũng
là bố thí, vì mình đã đem cái sức của mình giúp cho họ.
Một người nằm bệnh viện cần ít máu, mình đến cho họ
vài mili máu cũng là cách bố thí. Đó là bố thí nội tài.
Thứ hai là bố thí pháp: Tức là bố thí điều hay lẽ phải,
an ủi người đang khi sầu khổ. Học hỏi giáo lý của đức
Phật để đem những lời dạy đó mà truyền trao lại cho
người khác, mở mang khai sáng tâm trí cho họ cũng là một
cách bố thí. Góp tiền in kinh ấn tống cúng dường để phổ
biến giáo lý của đức Phật cũng là bố thí. Đó là bố
thí tài vật. Hoặc giả tối hôm nay ở đây có giảng, có
thuyết pháp, mình rủ bạn bè đi nghe để cho họ hiểu giáo
lý của đức Phật, đó cũng là một cách bố thí. Đây là
bố thí pháp. Ông thầy giảng là bố thí đã đành, người
đi nghe và rủ người khác cùng đi nghe cũng là bố thí pháp.
Mình đi nghe pháp và rủ bạn cùng đi nghe tức là mình đã
góp phần bố thí pháp cho họ. Hiểu bố thí như vậy thì
bất cứ lúc nào ta cũng bố thí được cả . Không bố thí
tài thì bố thí pháp, miễn rằng ta có tâm thì ta bố thí
được.
Thứ
ba là vô úy thí: Là bố thí sự không sợ. Có nhiều người
bình thường thì hiền lắm, nhưng khi nói với ai thì ưa trợn
mắt phồng mang nguýt nguýt làm cho người ta khiếp vía, cốt
để dọa cho những kẻ yếu bóng vía. Thế là họ đã bố
thí cái sợ chứ không phải bố thí cái không sợ.
Thế
thì Phật tử chúng ta phải chú ý bao giờ miệng cũng nói
ôn hòa từ tốn, thân mật chứ không nên nói áp đảo làm
cho người đối diện khó chịu. Đó cũng là cách bố thí
không sợ sệt. Giữ giới không trộm cắp cũng là cách bố
thí không sợ sệt. Đi tàu xe, nếu ngồi gần một người
mà trước nay nghe báo đài nói anh ta là người ăn cắp có
tiếng thì mình ngồi bên cũng sợ lắm. Thành vô tình anh ta
bố thí cho mình cái sợ nên không dám ngủ, không dám đi đâu
hết. Ngược lại nếu lên trên tàu ngồi bên một người
Phật tử, họ là người có tu, rộng rãi, không bao giờ bớt
xén của ai, có ai khó khăn thì liền giúp đỡ nên lòng rất
an tâm, không sợ sệt gì cả, đi đâu cũng không sợ. Như
vậy là người Phật tử đó đã bố thí cho mình cái không
sợ. Sự không sợ đó thì ai bố thí cũng được hết chứ
không phải chỉ có Phật mới bố thí sự không sợ đó mà
thôi. Cho nên người ta sợ và không sợ cũng tự nơi mình.
Bố thí tài, bố thí pháp và bố thí không sợ là thế.
Điều
thứ 4 là đầy đủ trí tuệ: Phật là giác ngộ, ngược lại
chúng sinh là vô minh. Vô minh là đau khổ. Đau khổ vì cái
Ta, cái Tôi của chúng ta lớn quá, mong rằng bất cứ ai đừng
đụng tới nó. Anh có nói với tôi thì nói tử tế, ca ngợi
tôi thì được nhưng chê tôi và nói xấu tôi là không được.
Cái tôi của tôi lớn lắm. Cái tôi lớn như vậy nhưng hỏi
cái tôi ở đâu thì chỉ không ra, đến nỗi một gốc cây
đến khi thành tôi rồi là quan trọng lắm.
Khi
cha mẹ mình đẻ ra thì đẻ cục thịt ra trước, nó không
có tên có tuổi gì cả. Rồi sau mới đặt cho một cái tên
rất đẹp như Thúy Nga, Ngọc Bích, Lan Hương, Thu Ba ... tên
nào tên nấy nghe dậy trời, kêu lên ai cũng tưởng người
đó là đẹp như tiên, nhưng thực tế chưa chắc đã đẹp.
Rồi cũng có khi cha mẹ vô tình đặt cho con một cái tên rất
xấu. Thỉnh thoảng chúng ta thấy trên báo chí, có một số
người được cha mẹ đặt cho cái tên cũng xấu lắm. Khi
đặt tên đó rồi thì nó gắn chặt cả đời mình vào cái
tên đó. Ví dụ: Cha mẹ đặt cho mình tên Kèo. Mới đầu
ai kêu Kèo mình cũng không để ý, nhưng sau kêu mãi rồi mình
tự nhận Kèo là mình, nùnh là Kèo. Một chặp nó đồng hóa
hai thành một. Khi đã đồng hóa rồi thì đi đâu nó cũng
gắn chặt với mình. Nếu lo một mai đi ngang qua xóm đó họ
mất xe đạp, họ kêu tên Kèo ra chưởi trong khi mình định
đi xa. Nhưng đè tên Kèo nó chưởi đúng như tên mình, khi
đó mình đứng cự lại ngay. À, mụ kia, ai ăn cắp xe đạp
của mụ mà mụ kêu tên tôi ra chưởi. Hai bên cãi qua cãi
lại, cãi sáng chưa xong lại để chiều cãi, chiều cãi chưa
xong mai lại cãi tiếp, nên chuyến đi xa đành bỏ dở, ăn
cũng không mà uống cũng không.
Vậy
có ai trói anh ta đâu mà cứ đứng mãi đó, cũng không ai giam
anh ta mà anh ta vẫn cứ đợi mãi. Giả sử khi đó mấy ông
công an có mặt chắc họ cũng không dại gì sờ tới. Cứ
đứng đó chưởi chưa đã, còn về kéo bà con tới chưởi
nữa. Nếu lỡ chưởi chưa xong mà hấp hối thì dặn con cái
nhớ chưởi tiếp. Chưởi cho hết sức cũng vì cái tên Kèo.
Thế thì tên Kèo khi cha mẹ sinh ra có hay không? Chắc là không
có. Đã không mà chấp chặt lấy làm của mình. Vì chấp chặt
tên Kèo là mình nên khi ai đụng tới cũng không được. Hễ
ai chưởi thì phồng mang trợn mắt lên liền. Nhưng nếu có
ai đó ca ngợi: Ồ, anh Kèo như rứa nhưng sống có đạo đức
lắm, lại thông minh và có lòng giúp đỡ mọi người, mặc
dầu anh ta chưa giúp ai chút nào hết. Nhưng khi nghe ca ngợi
là Kèo có đạo đức, hay giúp đỡ người thì thích lắm.
Khi đã chấp cái giả làm thật như vậy rồi thì quyết sống
chết với nó. Đó thật là vô minh mà mình không biết, cho
nên cứ sống chết với nó .
Trái
lại Phật là đấng giác ngộ, Ngài không chấp ta, của ta
và vì ta nên Ngài được tự tại. Là Phật tử mình phải
học cái trí tuệ của Ngài để chữa cái bệnh vô minh đó.
Thứ đến là phải biết cái luật nhân quả, bởi vì mọi
sự mọi vật giữa đời này là quay theo luật nhân nào quả
nấy, giống như cây chua thì sinh trái chua, giống lúa thì trồng
lên cây lúa, giống bắp thì trồng lên cây bẩp. Như vậy
là hành động thiện thì đưa đến quả thiện, hành động
ác thì đưa đến quả ác. Ai biết được luật nhân quả
là người có trí tuệ. Thứ ba là biết được luật vô thường
của vạn pháp là sự vật không đứng yên một chỗ. Không
đứng yên một chỗ cho nên đã có ngày sanh tức phái có ngày
chết. Chứ nếu đứng một chỗ chắc chắn bây giờ chúng
sanh đứng chật ních cả vũ trụ, đứng yên một chỗ chứ
không đi đâu được hết. Nhưng mà luật vô thường có sanh
thì có diệt, nên chúng ta hiện còn có chỗ để đi tới đi
lui. Vô thường không phải trong từng kỳ hạn mà vô thường
trong từng sát na. Ví dụ: Tóc trên đầu ta bạc từ khi nào
đố mấy ai biết được. Ai biết tóc trên đầu mình nó bạc
vào giờ nào, phút nào không? Không biết. Lâu lâu soi gương
thấy nó bạc vài sợi mới biết tóc ta hôm nay bạc rồi,
nhưng kỳ thật nó đang bạc mà mình không thấy. Nó bạc trong
từng tích tắc trong từng ly từng tí mà cứ ngỡ tóc mình
còn xanh. Từ đó đâm ra kiêu ngạo chê tóc anh bạc, tóc tôi
xanh, tôi xanh anh bạc, nhưng kỳ thật cả hai đều đang bị
lão hóa, đang bị bạc dần, nếu hiểu rõ luật nhân quả,
hiểu rõ luật vô thường, vô ngã, và cũng còn phải hiểu
rõ cái thực tánh, thực tướng của sự vật, cái sai biệt,
cái đồng nhất của sự vật nữa. Chúng ta biết sự vật
đây là biết trên sự sai khác của nó mà thôi, như cái bông
này trắng, bông kia xanh, bông nọ đỏ, bông kia cao, bông đó
thấp. Người này gầy, người kia mập, cái đó dài, cái kia
ngắn . . . chúng ta chỉ biết cái sai biệt nọ kia như vậy
thôi, chứ không biết cái đồng nhất của vạn pháp, không
biết cái bình đẳng của tất cả vạn pháp.
Đức
Phật dạy cho chúng ta, mở mắt mở lòng cho chúng ta phải
nhìn đủ cả hai phương diện: Sự sai biệt và đồng nhất
của vạn pháp thì mới gọi là thấy đúng sự vật. Ví dụ:
Tôi đưa ngón tay lên, xin hỏi quí vị ngón tay này dài hay
ngắn? Có ai nói ngón tay này dài không? Có ai nói ngón tay này
ngắn không? Chắc không ai nói ngón tay này dài, ngón tay kia
ngắn. Nhưng nếu để kèm vào đây một cái thước thì ta
mới so sánh nói ngón tay ngắn và cái thước dài. Để kề
bên một que diêm thì ta nói que diêm ngắn ngón tay dài. Thế
là vì đem cái tâm so sánh nên người thì nói ngón tay ngắn,
cái thước dài... Khi đó, anh nói ngón tay ngắn thì cho mình
đúng, còn anh nói ngón tay dài thì cho là sai, là không đúng.
Ngón tay ngắn mà cứ nói dài là vô minh. Cả hai đều nói
ngón tay dài, ngắn nên sinh ra cãi vả, có khi dẫn tới đánh
lộn nhau. Dầu có cãi vả dài ngắn gì đi chăng nữa thì ngón
tay vẫn là ngón tay. Trong khi anh nói ngón tay dài thì ngón tay
cũng không dài thêm một chút nào! Trong khi nói ngón tay
ngắn thì ngón tay cũng không ngắn bớt một chút nào. Vậy
thì ngón tay không dài cũng không ngắn, nhưng vì ta vô tình
so sánh cái này qua cái khác rồi nói đài ngắn thành ra sinh
sự xích mích với nhau. Thế là chúng ta sinh sự xích mích
vì cái chúng ta tạo ra chứ không phải ngón tay dài ngắn gì
hết. Cái đó trong nhà Phật gọi là Duy thức biến. Do cái
thức biến này, cái tướng dài ngắn này là cái thức ta biến
mà ta không biết cái thức ta biến, rồi ta chấp chặt, một
bên thì nói nhất định dài, một bên nói nhất định ngắn,
hai cái nhất định đó sẽ va chạm nhau. Nếu hiểu rằng cái
đài cái ngắn đó chỉ là do thức biến, chứ ngón tay không
dài không ngắn gì hết, khi ấy ta sẽ ngồi cười với nhau,
hòa thuận không ai sinh sự với ai hết.
Do
đó đầy đủ trí tuệ thì chúng ta sẽ mở mang cái tầm nhìn
của mình đến sự vật, tức là chúng ta sẽ sống được
một tâm hồn rộng mở. Khi đã sống rộng mở thì chúng ta
sẽ có hạnh phúc an lạc.
Nói
tóm lại, với 4 điều kiện. Đầy đủ lòng tin, đầy đủ
giới đức, đầy đủ bố thí và đầy đủ trí tuệ là sẽ
đem lại hạnh phúc an lạc cho tương lai. Cộng với đầy đủ
tháo vác, đầy đủ sự phòng hộ, làm bạn với thiện và
đầy đủ sự sống thăng bằng điều độ, không đam mê rượu
chè, không đam mê cờ bạc, không đam mê sắc dục và không
giao du bạn ác là những điều đem lại hạnh phúc an lạc
cho tương lai, cho trong hiện tại.
Đây
là một bài kinh đức Phật dạy rất thâm thúy, vừa cao vừa
thấp, nếu chúng ta áp dụng vào trong cuộc sống thì sẽ đem
lại hạnh phúc cho tương lai. Hàng Phật tử chúng ta hiểu
được như vậy, cố gắng thực hành lời Phật dạy, tức
nhiên chúng ta sẽ thấy mình được an lạc, dầu không được
viên mãn cũng hơn là khi chúng ta chưa biết lời dạy đó.
Các
Phật tử, tất cả những điều tôi nói trong buổi giảng
hôm nay đều dẫn ra từ trong kinh đức Phật dạy. Nhưng lời
dạy đó là một trong muôn ngàn lời dạy của Ngài mà thôi.
Còn biết bao nhiêu trường hợp khác đức Phật còn dạy nhiều
giáo lý thậm thâm vi diệu khác nữa, nếu chúng ta đủ cơ
duyên thì chúng ta có thể học hỏi thêm, tu tập thêm để
cho mỗi ngày chúng ta thấm nhuần được giáo lý của Phật,
tự nhiên tâm hồn của ta, đời sống của ta được sống
nhịp nhàng theo lời dạy của đức Phật để được an lạc
giải thoát.
Tôi
cầu mong tất cả Phật tử được bồ-đề tâm kiên cố,
dõng mãnh và luôn luôn tỉến bước trên đường giải thoát
của đức Phật./. (trính từ sách “Hư Tâm học Đạo” của
HT Thích Thiện Siêu)
Down
Load " Word Document" (WinZip File 296 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân

|