Vài sự
kiện Phật giáo nổi bật tại Ấn Độ năm 2003
TN.Giới Hương
Hòa
bình và đoàn kết nhân loại. Phật giáo là nhịp cầu tạo
sự tin tưởng và tình yêu thương mà thế giới ngày nay cần
thiết để phục hồi lại tình đoàn kết trong đại gia đình
nhân loại.
Thực
tế cho thấy, Phật giáo là một tiến trình chuyển hoá tâm
thức trong thời đại mới và tiến trình trí tuệ mang đầy
chất liệu yêu thương qua phương tiện thiện xảo trí tuệ
này phải được duy trì bằng mọi giá ngay cả trong những
hình thức nghi lễ.
thức
nghi lễ. quan đến những hoạt động và các nhân vật quan
trọng như sau:
TRÙNG
TU HANG ĐỘNG AJANTA VÀ ELLORA
Một
ngân hàng Nhật bản đã cho vay với lãi suất thấp một ngân
khoản 300 crore rupees (1 crore = 1 triệu rupees) cho việc trùng
tu lại các hang động Ajanta và Ellora. Các hang động Ajanta,
nơi mà cách đây 1600 năm là trụ xứ tôn nghiêm cho chư Tăng
tu tập. Nơi đây có nhiều tượng Phật tạc trên đá và trên
các vách hang có khắc các bức phù điêu, bức bích họa...
mô tả nhiều giai đoạn về cuộc đời Đức Phật như trong
kinh Bổn Sanh đã tường thuật. Còn các hang động Ellora có
những công trình điêu khắc tuyệt hảo của cả Phật giáo,
Hindu và Jain thuộc thế kỷ thỷ VII - XIII. Cả hai hang động
này đều là di sản văn hóa thế giới.
Hiện
nay, do độ ẩm cao trong hang đã ảnh hưởng các bức bích
hoạ và trụ tường bằng đá của hai hang động Ajanta và
Ellora khiến chúng đã trở thành lốm đốm và đen đậm hơn.
Để bảo tồn chúng, cần phải sử dụng hóa chất để cứu
vãn một số bức bích họa và việc này đang được làm khẩn
cấp. Một chuyên gia trong công tác trùng tu đã trình bày như
vậy.
Hai
hang động này đã thu hút khoảng 700.000 du khách mỗi năm và
trong mỗi hang, các nhân viên hướng dẫn cho phép không quá
40 người một lần vào tham quan. Công ty Phát triển Du lịch
của tiểu bang Maharashtra đang xem xét việc thiết lập Viện
Bảo tàng Phương Đông (Museum-cum-Orientation) tại đây cho du
khách.
Một
sự kiện có ý nghĩa nữa trong sự phát triển Phật giáo tại
Ấn Độ là Bộ Khảo cổ học Ấn Độ đã khám phá ra nền
móng của một đại tu viện Phật giáo Singhaprasta có cách
đây 2000 năm, tọa lạc trên ngọn đồi Udayagiri ở làng Jaipur
và một trụ đá Phật giáo thuộc thế kỷ thứ III cũng được
phát hiện trên ngọn đồi Langudi cạnh bên.
Trong
công cuộc khai quật mới đây nhất về đại tu viện Singhaprasta
cao hai tầng này, đã thấy có một tượng Phật cao 10 feet
trong tư thế Bhumisparsa. Có một thông tin chưa được kiểm
chứng cho biết đã tìm thấy xá lợi của Đức Phật trong
một ngôi tháp gần đại tu viện Singhaprasta này. Một vài
bia khắc cũng được tìm thấy và theo các nhà sử học thì
chúng thuộc khoảng thế kỷ thứ IV. Một số nhà lịch sử
nói rằng theo khám phá mới đây cho thấy Udayagiri là trung
tâm Phật giáo nổi tiếng nhất của Orissa vào thời cổ đại.
PHÁT
HIÊN TRUNG TÂM PHẬT GIÁO TẠI BANGLADESH và TRIPURA
Cũng
mới đây, Bộ Khảo cổ Ấn Độ đã khám phá nền móng của
một trung tâm Phật giáo lớn ở Boxanagar gần biên giới Bangladesh
và Tripura. Điều này đã dẫn tới niềm tin rằng Phật giáo
là một tôn giáo hưng thịnh ở Bangal và Tripura từ giữa thế
kỷ thứ VII cho đến đầu thế kỷ XIV.
Điều
này được xác định bởi ông Guvahati Syed Jarnal Hasan, nhà
giám sát khảo cổ của Bộ Khảo cổ học Ấn Độ. Ông Guvahati
Syed Jarnal Hasan cho rằng do khám phá mới đây của Bộ Khảo
cổ học về một ngôi tháp đồ sộ bằng gạch đã cho thấy
vị trí của Boxanagar vào thời cổ đại là trung tâm Phật
giáo.
Ông
ta cũng nói rằng mặc dù các nguồn sử cũng như tài liệu
cổ đã không cung cấp bất kỳ thông tin nào về sự thiết
lập Phật giáo ở Tripura. Tuy nhiên, công tác khai quật của
các nhà khảo cổ đã cho thấy có các trung tâm Phật giáo
trong tiểu bang này, một trong số chúng đã tọa lạc Shvam
Sundar Tila ở phía Nam Tripura (được khai quật 2000-2002) và
một trung tâm nữa mới đây tại Boxanagar.
Ông
Hasan cũng nói rằng có thể từ lúc các nhà cai trị của triều
đại Devas đã thiết lập thủ phủ của họ ở Mainamati (hiện
nay toạ lạc trong Bangladesh) và họ đã tôn đạo Phật là
quốc giáo của họ. Ông hy vọng rằng các cuộc khai quật
sẽ được tiếp tục và có thể đưa ra nhiều kết luận
hơn về Tripura và Bangladesh.
LADAKH
Hội
đồng những nhà lãnh đạo tôn giáo Ấn Độ vào ngày 31-5-2003
đã tổ chức một cuộc hội nghị vào dịp lễ hội Sindhu
Darshan ở Leh, Ladakh với sự tham gia của các nhà lãnh đạo
tôn giáo (Indian Council of Religious Leaders: ICRL). Tiến sĩ B.K.
Modi, Chủ tịch Hội ICRL, trong lời khai mạc đã phát biểu
rằng Sindhu đã đưa ra một sự nhận thức mới về sự hợp
nhất trong đa dạng. Trong khi nhà học giả nổi tiếng Kushok
Bakula nhấn mạnh rằng bất bạo động là vũ khí tối ưu
hơn các vũ khí hạt nhân và vũ khí này luôn luôn hữu hiệu
mọi lúc và mọi nơi.
SARNATH
Tháng
2-2003 ông Vajira Aheywarddhana, Bộ trưởng Bộ Quản lý và Điều
hành của Chính phủ Sri Lanka đã đến chiêm bái tu viện
Mulagandhakuty, Sarnath. Ông rất vui khi thấy chư Tăng Sri Lanka
hiện diện ở Ấn Độ và có nhiều cống hiến cho đất nước
này.
Ông
Trần Trọng Khánh, Đại sứ nước Cộng hòa Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam tại New Delhi, đã đến chiêm bái khu di tích
Sarnath và tu viện Mulagandhakuty vào tháng 2-2003. Sau khi lễ Phật,
cúng dường hương hoa, ông bày tỏ sự hoan hỉ về các hoạt
động tôn giáo, xã hội, giáo dục và văn hóa của Hội Đại
Bồ Đề. Trong buổi tọa đàm ngắn với Thượng tọa Kahawatte
Shri Sumedha Thero, Đại sứ rất vui khi thấy một bức tranh
của Chủ tịch Hồ Chí Minh được treo trên bức tường của
Bảo tàng viện Dhammapala.
Ngày
19-7, vì lợi ích của dân chúng ở Okinawa và Hội Okinawa Peace
Prayer Monument Okinawa, Nhật Bản, ông Nagarmine Nobuo tại Okinawa
và ông Pramod Bakshi của Công ty Du lịch Okinawa cùng với 16
thành viên người Nhật đã đến viếng thăm tu viện Mulagandhakuty
vào ngày 19-7-2003 để dự lễ nhận cây bồ đề con và đem
về trồng tại Đài tưởng niệm Hòa bình Okinawa. Đài tưởng
niệm Hòa bình Okinawa là nơi kỷ niệm những người đã mất
trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai.
BỒ
ĐỀ ĐẠO TRÀNG
Tại
Bồ Đề Đạo Tràng, vào tháng 1-2003, đã tổ chức lễ Kalacakra
-10 ngày thuyết pháp do Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng chư Tăng
và các giáo sư Phật học thuyết giảng và lễ cầu nguyện
hòa bình. Cũng dịp này, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tham dự
lễ khánh thành chùa Việt Nam Phật Quốc tự tại Bồ Đề
Đạo Tràng vào ngày 11-11-2003 do Thượng tọa Huyền Diệu thành
lập. Thượng tọa Huyền Diệu cũng đã sáng lập một ngôi
chùa Việt Nam Phật quốc tự khác tại Lâm Tỳ Ni. Sự hiện
diện các ngôi chùa Việt Nam tại Ấn Độ như một nhịp cầu
nối nhau biểu hiện tình thân hữu Ấn Độ - Việt Nam trong
mối liên kết toàn cầu hiện nay.
ANDRA
PRADESH
(Bắc
Ấn Độ)
Vào
ngày 6-4-2003, lễ khánh thành chùa Ananda Buddha Vihara thuộc tiểu
bang Andra Pradesh ở phía Bắc Ấn Độ được cử hành. Ông
Sh. Chandrababu Naidu, Thống đốc bang Andra Pradesh và Hòa thượng
Hui Chong ở Phật Quang Sơn, cũng đến tham dự và đặt viên
đá xây dựng tháp thờ Xá lợi Phật. Một nhánh cây bồ đề
từ Anuradhapura ở Sri Lanka do Hòa thượng Gnaninda mang đến
cúng dường và trồng tại chùa này. Đến tham dự còn có
Hòa thượng T.Ananda, Hòa thượng Panyatikoka... từ Bangladesh,
Myanmar...
Hòa
thượng Tinh Vân (Hsing Yun), Chủ tịch Hội Buddha’s Light International
Association và cũng là vị khai sáng Phật Quang Sơn, đã rất
hoan hỷ kết luận rằng: “Tôi tin rằng sẽ có nhiều Phật
tử nữa trên thế giới sẽ đến đây để tu tập những
lời Phật dạy và sẽ làm hồi sinh lại Phật giáo như thời
Đức Phật còn tại thế” và ngài cũng tán thán chùa Ananda
Buddha Vihara đã có nhiều nỗ lực để mang ánh sáng Chánh
pháp của Đức Phật tại đây. Hòa thượng Satyamarayan Goenka
ở Trung tâm Thiền Vipassana Dharmagiri cũng tán thán công đức
về những thành tựu mà chùa Ananda Buddha Vihara đã đạt được.
Hòa thượng Madine Pannasiha, Tổ của phái Dharmarakshita ở Amarapuranikaya,
Maharagama, Sri Lanka đã tường thuật lại những mối liên kết
giữa Andhra Desa và Sri Lanka trong thời cổ đại như sự vận
chuyển Xá lợi răng Phật từ Dantapura, tiểu bang Andra Pradesh
đến Kandy, Sri Lanka và được các vị vua xem như là một báu
vật. Việc hiện nay cúng dường và trồng cây bồ đề con
chiết từ Anuradhapura, Sri Lanka đem đến trồng tại chùa Ananda
Buddha Vihara như một biểu tượng tình đoàn kết giữa Sri
Lanka và Andra Pradesh vì mục đích truyền bá Chánh pháp và
làm hồi sinh Phật giáo tại đất nước đã sản sinh ra Phật
giáo nói chung và tiểu bang Andra Pradesh nói riêng.
Để
kết thúc buổi lễ, ông C. Ạnancya Reddy, Phó ban Hộ tự chùa
Ananda Buddha Vihara đã trình bày lý do thành lập chùa: “vì
thành lập một ngôi chùa có nghĩa là xây dựng một mô hình
Phật giáo, nơi đó sẽ sản sinh ra nhiều trí tuệ, niềm tin
và những thăng hoa trên tiến trình giải thoát tâm linh”.
NEW
DELHI
Báo
Asian Age, 13-10, New Delhi đã tường thuật rằng một Mạn đà
la (Mandala hoặc Thanka) lớn nhất thế giới, dài 70m x 50m, nặng
2.000 kg mô tả về cuộc đời Đức Phật được làm tại
Nhật Bản do 10.000 nghệ nhân từ 16 nước trên thế giới
thực hiện hơn 5 năm qua. Tác phẩm đồ sộ này trị giá 3
- 4 triệu dô-la. Hòa thượng D.S.Uchida, vị Tổ thứ 17 của
chùa Daijoki (thành lập năm 1150) đã trả lời phóng viên của
Báo Asian Age rằng: “Chúng tôi đã tổ chức một buổi lễ
khánh thành và đặt toàn bộ linh hồn của mình vào bức Mạn
đà la đó. Tâm nguyện của chúng tôi muốn đưa bức Mạn
đà la này đến triển lãm ở Ấn Độ, nơi đã sản sinh ra
Phật giáo và tại các nước lân cận Ấn Độ. Giáo lý Đức
Phật rất rộng lớn, vì thế chúng tôi quyết định mô tả
cuộc đời và sự nghiệp của ngài trong một hình thức Mạn
đà la to lớn, đó là lý do cho bức Mạn đà la được ra đời.
Nếu sau khi được triển lãm ở New Delhi rồi, chúng tôi cũng
muốn triển lãm bức Mạn đà la ở Nalanda, vì đó là nơi
mà Phật giáo được du nhập đến Trung Hoa và Nhật Bản.
Ngày triển lãm có thể khoảng từ ngày 7 đến ngày 12, tháng
12, 2003. Sau đó chúng tôi cũng sẽ triển lãm bức Mạn đà
la ở buổi hòa nhạc vì hòa bình thế giới ở Nhà hát nổi
tiếng Shokichi Kina”.
MAHARASHTRA
Tại
cung điện Dragon, Komthi, quận Nagpur, tiểu bang Maharashtra, ngày
8-11-2003, đã tổ chức một buổi thảo luận về hòa bình
thế giới với sự hỗ trợ của Hội Ogawa, Nhật Bản. Chủ
tọa là ông S. Sulekha Tai.
MUMBAI
Báo
của Hội Đại Bồ Đề cũng đã vô cùng thương tiếc báo
tin bà S. Savita Ambedkar, phu nhân của cố Tiến sĩ B.F.Ambedkar
đã từ trần tại thành phố Mumbai. Cố Tiến sĩ B.F.Ambedkar
là nhân vật hoạt động Phật giáo nổi tiếng tại Ấn Độ,
đã có nhiều cống hiến to lớn trong việc làm hồi sinh Phật
giáo tại Ấn Độ trong thế kỷ XX. Cùng với chồng, bà S.
Savita Ambedkar cũng đã tham gia trong nhiều công tác xã hội
từ thiện và truyền bá Phật pháp.
Ngoài
ra, những cống hiến trong nhiều lãnh vực Phật học bao gồm
các bài viết, các chuyên khảo, tin tức, chú giải thuật ngữ,
bản dịch... cũng được in ấn xuất bản. Các tạp chí Sambodhi
của Hội Đại Bồ Đề ở Bồ Đề Đạo Tràng, Mahabodhi ở
Kolkata và Dharmadoot của Hội Đại Bồ Đề ở Sarnath, Buddha
Vacana Trust của Hội Đại Bồ Đề ở Bangalore, các tạp chí
của Học viện Phật giáo cao cấp Tây Tạng, Sarnath, Kannada
của Dhamma Publications, Bangalore, và những sách báo Phật giáo
của những nhà xuất bản tư nhân..., bà đã cùng chồng góp
phần trong việc truyền bá con đường an lạc hạnh phúc đến
các Phật tử, đặc biệt trong năm 2003 tại Ấn Độ này.
Delhi,
2-12-2003
Tạp
chí tham khảo:
The
Maha Bodhi, Maha Bodhi Society of India, Kolkata, 2003.
Dhammadoot,
Maha Bodhi Society of India, Mulagandhakuty Vihara, Sarnath - The Birth
Place of Buddhism, 2003
(Giác
Ngộ Xuân Giáp Thân 2004)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân