THƠ XUÂN
TRẦN NHÂN TÔNG
Các
vua nhà Trần (thế kỷ 13) dùng núi rừng Yên Tử làm nơi tu
hành và phát triển đạo Phật, hình thành phái Trúc Lâm Tam
tổ .
Vua
Trần Nhân Tông, người đã cùng vua cha Thánh Tông chiến thắng
quân xâm lược Nguyên Mông và là người sáng lập thiền phái
Trúc Lâm - cũng đồng thời là một nhà thơ với nhiều bài
cảm tác về mùa xuân đầy tinh tế và sâu sắc.
Trần
Nhân Tông là vị vua thứ ba của đời Trần. Ông thừa hưởng
sự thông tuệ của ông nội là Thái Tông và cha là Thánh Tông,
lên ngôi năm 1278, mất năm 1320.
Nhân
Tông là vị vua cùng Thượng hoàng Thánh Tông chủ trì hai cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên Mông oanh liệt nhất, cũng là
vị vua sáng suốt, kiến tạo những năm đầu xây dựng đất
nước sau chiến tranh.
Ông
còn là người lập ra thiền phái Trúc Lâm, cùng Trần Thái
Tông, xây dựng thiền phái riêng ở trời Nam này, và có những
học thuyết về thiền học khá sâu sắc. Nhưng vua cũng là
người yêu thiên nhiên, hay làm thơ.
Ông
để lại nhiều thơ trong các tập Thơ Trần Nhân Tông, Đại
hương hải ấn thi tập, Tăng già toái sự, Thạch thất mỵ
ngữ. Nhưng hiện nay, theo các nhà sưu tập thơ Lý Trần, thì
chỉ giữ lại được 31 bài thơ của ông. Trong 31 bài thơ
này, có đến gần chục bài thơ về mùa xuân. Có thể về
mùa xuân, nhà vua hay đi du ngoạn, và từ đó làm thơ.
Đây
là một nét xuân ban mai:
Xuân
hiếu
Thủy
khởi khải song phi
Bất
tri xuân dĩ quy
Nhất
song bạch hồ điệp
Phách
phách sấn hoa phi
Buổi
sớm mùa xuân
Ngủ
dậy tung song cửa
Nào
hay xuân đã sang
Một
đôi bươm bướm trắng
Gặp
hoa, cánh vội vàng.
Nhà
thơ bất ngờ trước cảnh xuân đến, càng bất ngờ thấy
cái rộn rã của mùa xuân qua đôi bướm trắng chớp cánh
bay đến với hoa. Tình kín đáo mà cảnh thì hồn nhiên. Thi
tứ đã chớp được cái khoảnh khắc ấy. Còn đây là ý
nghĩ khi đến vãn cảnh chùa Cổ Châu:
Đề
Cổ Châu hương thôn tự
Thế
số nhất sách mặc
Thời
tình lưỡng hải ngân
Ma
cung hồn quản thậm
Phật
quốc bất thăng xuân
Đề
chùa Cổ Châu
Số
đời thật mờ mịt
Mắt
giấu tình bên trong.
Cai
quản cung ma chặt
Đất
Phật xuân thong dong
Từ
chùa nghĩ về xứ Phật. Cõi thiền vậy đấy, nhưng biết
đâu, khi mùa xuân đến thì cái tình vẫn nhen nhóm. Muốn tu
được thì không gì khác phải giữ sao cho không có đất của
sự cám dỗ thì mùa xuân cửa Phật mới thật yên ổn. Chuyện
Phật ư? Chuyện đời và cả chuyện răn mình nữa đấy chứ!
Còn
đây là xuân trên hồ Động Thiên:
Động
Thiên hồ thượng
Động
Thiên hồ thượng cảnh
Hoa
thảo giảm xuân dung.
Thượng
đế liên sầm tịch
Thái
thanh thì nhất chung
Trên
hồ Động Thiên
Cảnh
hồ Động Thiên nọ,
Hoa
cỏ giảm mầu xuân
Thượng
đế thương hiu quạnh
Tầng
xanh chuông bỗng ngân
Trần
Lê Văn dịch
Hồ
ở nơi vắng vẻ cằn khô, khiến vẻ xuân hoa cỏ cũng kém
phần. Nhưng cái phần xuân ở trên tầng trời xanh vẫn dồi
dào lắm. Và trời đã đem cái hương xuân ấy từ trời đến
cho vùng đất xa xôi hẻo lánh này qua những tiếng chuông ngân...
Phải có tâm hồn tinh tế đến thế nào mới nhận biết được
cái tình của vũ trụ, không để cho một nơi nào dù hiu quạnh
phải thiệt thòi. Cái tâm nhân hậu bao la mới có được cái
tứ thơ như thế.
Nhà
vua thường hay quyến luyến với cái vẻ xuân, và lần nào
người cũng nhận được những điều sâu kín từ trong những
ngày xuân ấy. Người viết:
Xuân
cảnh
Dương
liễu hoa xuân điểu ngữ trì
Họa
đường thiềm ảnh mộ vân phi
Khách
lai bất vấn nhân gian sự,
Cộng
ỷ lan can khán thúy vi!
Cảnh
xuân
Khoan
nhặt chim kêu hoa liễu dầy
Họa
đường thềm dãi bóng mây bay
Chuyện
đời khách đến không hề hỏi
Cùng
tựa lan can ngắm cảnh ngoài.
Mùa
xuân đẹp đến nỗi không muốn bàn đến chuyện thế sự
nữa. Khách đành cùng chủ tựa lan can mà ngắm vẻ xanh thắm
của mùa xuân.
Nhưng
bài thơ hay nhất của Trần Nhân Tông về mùa xuân lại là
bài Xuân nhật yết chiêu lăng:
Xuân
nhật yết Chiêu lăng
Tì
hổ thiên môn túc
Y
quan thất phẩm thông
Bạch
đầu quân sĩ tại
Vãng
vãng thuyết Nguyên Phon
Ngày
xuân thăm Chiêu lăng
Nghiêm
trang nghìn cửa quân hùm,
Trăm
quan bảy phẩm một vùng cân đai.
Bạc
đầu, chàng lính nhắc hoài,
Chuyện
Nguyên Phong cũ những ngày ruổi rong
Đến
thăm lăng mộ của Trần Thái Tông, vào mùa xuân, trước ba
quân hùng mạnh, trăm quan rờ rỡ. Sau lúc bái yết lạy ở
trước lăng, hỏi chuyện người lính già, thì ông ta luôn
nhắc đến chuyện thời Nguyên Phong, tức là đời Trần Thái
Tông... Thế là khi đất nước triều đình hùng mạnh, thì
những người lính lại là người nhớ đến những ngày khởi
nghiệp gian nan vất vả nhất. Ý tứ thật sâu sắc. Cái ý
ngày xuân, được nhắn nhủ kín đáo và thâm trầm xiết bao.
Một vị vua anh hùng, một vị học giả uyên thâm, mới có
được những vần thơ xuân như thế.
NGÔ
VĂN PHÚ (Báo Văn Nghệ Trẻ)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân