XIN LỘC
TẠI CÁC CHÙA ĐẦU NĂM
(VietNamNet)
- …Khi khói hương cùng những lời tâm niệm lan toả vào không
gian Xuân, niềm vui, hạnh phúc, may mắn như đang chạm vào
Ta và đi cùng Ta trong cuộc hành trình 365 ngày của năm mới…
Từ 22h30 đêm nay, mời các bạn cùng VietNamNet hoà trong dòng
người XIN LỘC đêm giao thừa tại nhiều ngôi chùa ở nhiều
miền đất nước qua ghi nhanh trực tuyến “Xin lộc từ những
ngôi chùa Việt”.
Chuẩn
bị bàn thờ đón giao thừa ở chùa. Ảnh: Đức Tài
Hầu
như thôn nào, làng nào trên đất nước Việt Nam cũng có một
ngôi chùa, dù lớn, dù bé. Những ngôi Chùa bao giờ cũng là
nơi thiêng liêng của người dân nước Việt, và cửa Chùa
muôn đời vẫn là mái ấm của mọi người, mọi nhà.Nhiều
năm trở lại đây, đất nước phát triển, đạo Phật hưng
thịnh, dòng người đến cửa Chùa thắp hương càng đông
vui hơn, nhất là vào dịp đầu năm mới. Thắp nén nhang lên
ban thờ Phật khi Mùa Xuân đang ùa về, chúng ta có một đức
tin rằng những ước vọng cao đẹp và thiêng liêng cho một
năm mới, lời cầu chúc bình an, hạnh phúc cho những người
thân yêu sẽ thấu tận “chín phương Trời, mười phương
Phật”.
Đi
lễ chùa để cầu chúc cho một năm mới bình an, hạnh phúc.
Ảnh: Phạm Cường
Và
khi khói hương cùng những lời tâm niệm lan toả vào không
gian Xuân, niềm vui, hạnh phúc, may mắn như đang chạm vào
Ta và đi cùng Ta cuộc hành trình 365 ngày sắp tới. Như
thế là chúng ta đã được việc XIN LỘC năm mới mà không
phải làm đau một cành non. Đó cũng là tâm niệm của chúng
tôi - những người làm báo VietNamNet khi thực hiện chủ đề
“Xin lộc từ những ngôi chùa Việt” trong chương trình
báo Tết. Từ 22h30 đêm nay, mời các bạn cùng VietNamNet
hoà trong dòng người XIN LỘC đêm giao thừa tại nhiều ngôi
chùa ở mọi miền đất nước qua phóng sự ghi nhanh “Xin
lộc từ những ngôi chùa Việt”.
Những ngôi
chùa nổi tiếng của Việt Nam
09:55'
21/01/2004 (GMT+7)
(VietNamNet)
- Không thể tính đếm được có bao nhiêu ngôi chùa lớn nhỏ
trên khắp nước Việt. Bởi thế chúng tôi chỉ có thể giới
thiệu một số ít ngôi chùa nổi tiếng - đó là những nơi
đã được coi là danh lam thắng cảnh, là di tích văn hoá...
để độc giả tiện hình dung khi tham gia "Xin lộc từ những
ngôi chùa Việt" cùng VietNamNet tối nay.
Chùa
Dâu (Hà Bắc) Đây là ngôi chùa
đầu tiên của Việt Nam được khởi dựng vào đầu thế
kỷ thứ III. Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, vùng Dâu
đã là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng trong và ngoài nước.
Chùa còn có tên là Thiền Định, Duyên Ứng, Pháp Vân.
Vào
đời Tuỳ, thế kỷ VI, VII, chùa là chốn tu trì và là đạo
tràng thuyết pháp, nơi truyền bá Phật giáo quan trọng của
các danh tăng Tỳ-ni-đa-luu-chi, Pháp Hiền, Quan Duyên... Vào
thời này, Lưu Phương theo lệnh Tuỳ Văn Đế dựng tháp để
bảo tàng xá-lợi. Tháp Hoà Phong ở sân chùa, trước có 9
tầng, sau đổ mất. Năm 1738, tháp được xây lại 3 tầng.Vào
các năm 1073, 1169, 1434, 1448, các vua Lý Nhân Tông, Lý Anh Tông,
Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông đã tổ chức cầu đảo tại
chùa, hoặc đến chùa rước tượng về chủa Bảo Thiên ở
Hà Nội để cầu đảo.Ông Mạc Đĩnh Chi là người đứng
ra hưng công xây dựng lại chùa với quy mô to lớn vào thế
kỷ XIV. Chùa đã được trùng tu nhiều lần.
Chùa
Côn Sơn (Hải Hưng)
Toạ
lạc ở xã Chi Ngại, huyện Chí Linh, trong khu vực Côn Sơn
nổi tiếng với những núi non, chùa tháp, rừng thông, khe suối...
và những di tích gắn liền cuộc đời nhiều danh nhân trong
lịch sử. Côn Sơn còn là một trung tâm Phật giáo lớn ở
nước ta.
Chùa
Côn Sơn, tên chữ là Tư Phúc Tự dựng ở chân núi phía Nam,
Chùa có từ thời Trần. Vua Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã
từng đến đến thăm chùa. Chùa được trùng tu mở rộng
từ đời Lê, tương truyền có tới 83 gian nguy nga đồ sộ.
Ngày nay chỉ còn là ngôi chùa nhỏ, còn gọi là chùa Hun.Chùa
có nhiều pho tượng cổ. Phía sau chùa là khu tháp mộ, nổi
bật là: ''Đăng Minh Bảo Tháp'' cao trên 5m đặt xá-lợi và
tượng của Huyền Quang tôn giả (1254 - 1334).Phía trước chùa
có dùng 4 nhà bia. Một tấm bia có 3 chữ lớn ''Thanh Hư Động''
bút tích của Trần Nghệ Tông (1322 - 1395) được khắc trên
phiến đá lớn đặt trên thung lũng rùa. Nhà bia cũ bên trái
có tấm bia ghi bài minh có tựa đề là: ''Côn Sơn Tư Phúc
Thiền Tự Bi'' hình trụ 6 mặt, nóc bia tạc kiểu long đình,
dựng năm Hoằng Định thứ 8 (1608) đời vua Lê Kim Tông, nội
dung ghi lại việc trùng tu chùa.
Chùa
Keo (Thái Bình) Toàn cảnh chùa Keo
(Thái Bình)
Toạ
lạc ở thôn Dũng Nhuệ, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, Thái Bình:
Chùa có tên chữ là: Trần Quang Tự, dựng trên một khu đất
rộng 20 hecta vào năm 1608. Chùa nguyên dựng bên bờ sông Nhĩ
Hà nên bị nước xói lở dần. Quận công Nguyễn Quyên đã
dâng đất cúng vườn để dựng lại chùa. Ngôi chùa hiện
nay được trùng kiến vào năm 1930. Chùa còn lưu giữ được
nhiều di vật, đồ thờ quý giá: Đại hồng chung đúc từ
đời Lê, đôi lọ sứ Bát Tràng, bàn hương án...Gác chuông
của chùa là một kỳ công về mặt nghệ thuật kiến trúc.
Gác gồm 3 tầng, cao 11,50m, mỗi tầng treo một quả đại hồng
chung. Gác chuông trong như đoá sen mới nở vươn lên bên những
thân cau cao vút.Hàng năm, chùa mở hội vào ngày rằm tháng
9 âm lịch.
Chùa
Trấn Quốc (Hà Nội)
Toạ
lạc ở đường Thanh Niên, quận Ba Đình.Đây là một trong
những ngôi chùa cổ nhất nước ta, tương truyền có từ thời
Lý Nam Đế (544 - 548), lúc ấy có tên là Khai Quốc Tự; đến
đời Lê Thánh Tông (1440 - 1442), đổi là chùa An Quốc. Đến
đời Lê Kính Tông (1600 - 1618), chùa được dời vào hòn đảo
Cá Vàng ở giữa Hồ Tây, tức địa điểm hiện nay. Đời
Lê Hy Tông (1680 - 1705), đổi tên là chùa Trấn Quốc. Chùa
còn giữ được 14 tấm bia, đáng kể là tấm bia của Trạng
nguyên Nguyễn Xuân Chính dựng năm 1639 và tấm bia của Tiến
sĩ Phạm Quý Thích dựng năm 1815.Chùa có nhiều tượng đẹp,
đáng chú ý là pho tượng đức Phật Thích-ca nhập Niết bàn
bằng gỗ thếp vàng.Chùa đã được trùng tu nhiều lần.
Bia
chùa
Khu
bảo tháp
Chùa
Láng (Hà Nội)
Toạ
lạc ở làng Yên Lãng (tên nôm là Láng), thuộc phường Láng
Thượng, quận Đống Đa, cách trung tâm thành phố Hà Nội
khoảng 6km về phía Tây, chùa có tên chữ là Chiêu Thiền Tự,
được dựng từ đời Lý Anh Tông (1138 - 1175), đã được
trùng tu nhiều lần. Kiến trúc hiện nay là do lần trùng tu
vào giữa thế kỷ XIX.Trong chùa, ngoài các pho tượng phật,
có đặt thờ tượng vua Lý Thần Tông và tượng Thiền sư
Từ Đạo Hạnh.Chùa là một danh lam thắng cảnh của thủ
đô.
Chùa
Quán Sứ (Hà Nội)
Toạ
lạc ở số 73 phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, Xưa thuộc địa
phận thôn An Tệp, huyện Thọ Xương, Thăng Long.Sách: ''Đại
Nam Nhất Thống Chí'' có ghi về chùa: ''Về đời nhà Lê (1428
- 1788), các nước Chiêm Thành, Vạn Tượng. Ai Lao thường cắt
sứ giả sang cống nước ta. Nhà vua dựng một ngôi chùa cho
sứ giả vào ở (vì những nước kể trên rất sùng đạo
Phật) và đặt tên chùa là Quán Sứ để phân biệt với các
chùa khác...''.Chùa đã trải qua bao thay đổi. Tới năm 1934,
Tổng hội phật giáo Bắc Kỳ ra đời, đặt trụ sở ở chùa.
Chùa đã được xây dựng lại theo bản thiết kế của 2 kiến
trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng do tổ Vĩnh
Nghiêm duyệt vào năm 1941.Điện phật chùa được bài trí
trang nghiêm. Các pho tượng đều khá lớn và thếp vàng lộng
lẫy.Lá cờ Phật giáo thế giới lần đầu tiên được treo
tại Việt Nam ở chùa Quán Sứ nhân ngày lễ Phật đàn năm
1951, Phật lịch 2495.Chùa nay là trụ sở của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam, Trường cao cấp Phật học Việt Nam (cơ sở
1).
Chùa
Liên Phái (Hà Nội)
Toạ
lạc ở phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng. Theo tài liệu của
Sở Văn hoá Thông tin Hà Nôi, chùa thuộc phái Lâm Tế do vị
Lâm Giác Thượng Sĩ sáng lập từ năm Bính Ngọ, năm Bảo
Thái thứ 7, dưới triều vua Lê Dụ Tông (1726).Lâm Giác Thượng
Sĩ tên là Trịnh Thập, con trai của Tân Quang Vương, là cháu
nội của chúa Trịnh Căn, cưới con gái thứ tư vua Lê Hy Tông.
Ông đã sai đào ở gò cao sau nhà để xây bể cạn thì thấy
trong lòng đất có cái ngó sen. Phò mã cho mình có duyên với
đạo Phật nên đi tu, trở thành vị tổ đầu tiên của chùa,
lúc đó gọi là chùa Liên Tông. Đến thời Tự Đức, chùa
đổi tên thành Liên Phái để tránh phạm huý.Tháp Diệu Quang
ở bên sau cổng chùa, hình lục lăng cao 10 tầng, xây vào khoảng
thế kỷ XIX, trong đó đặt hài cốt tổ Diệu Quang cùng 5
vị sư khác.
Chùa
Đậu (Hà Tây)
Toạ
lạc ở thông Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín.Chùa
có tên chữ là Thành Đạo Tự, thờ nữ thần Pháp Vũ nên
còn gọi là chùa Pháp Vũ, tương truyền có từ đầu công
nguyên cùng thời với chùa Dâu (Hà Bắc). Nhưng theo văn bia
ở chùa thì được dựng từ thời Lý. Các triều đại kế
tiếp đều có trùng tu, nhất là lần trung tu vào năm Dương
Hoà thứ 1 (1635) đời Lê Thần Tông do bà Ngô Thị Ngọc Quyên
đứng ra làm hội chủ hưng công.Chùa dựng theo kiểu: ''Nội
Công ngoại quốc''. Tam quan chùa đồng thời là gác chuông,
bên trong treo quả đại hồng chung đúc năm Canh Thịnh thứ
9 (1801) đời Tây Sơn. Chùa còn lưu lại nhiều di vật và đồ
thờ có giá trị như đôi rồng đá (dáng dấp đời Trần),
gạch (đời Mạc), sách đồng (đời Lê), khánh chuông...Tương
truyền 2 vị Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường là
người thôn Gia Phúc, sống vào đầu và giữa thế kỷ XVII,
đã kế tiếp nhau trụ trì Chùa Đậu. Trước lúc viên tịch,
cả 2 vị đều cho biết nhục thân sẽ không bị hư thối.
Quả đúng như thế, nhưng lâu về sau, người ta gia thêm vào
nhục thân một số kỹ thuật để hạn chế sức phá huỷ
của thời gian.Tượng thiền sư Vũ Khắc Minh ngôi theo tư thế
nhập Thiền, mình gập hẳn, đầu hơi cúi về phía trước.
Sau năm 1931, ở đầu có một vết nứt 2mm đã thấy bên trong
cùng là xương sọ, tiếp đến khoảng không, rồi lớp bồi
dày từ 2 đến 4mm. Chất bồi là đất gò mối mịn trộn
sơn sống và mùn cưa giã nhỏ. Sau đó là một lớp sơn màu
cánh gián, ngoài cùng là một lượt quang dầu.Toàn bộ pho
tượng hiện nay chỉ còn nặng 7kg, cao 57 cm.Tượng Thiền sư
Vũ Khắc Trường. Theo lời truyền thì Thiền Sư đã khắc
tấm bia năm Dương Hoà thứ 5, là người thừa kế thiền sư
Vũ Khắc Minh. Tượng được quét sơn trắng, môi tô son, mắt
và lông mày được tô vẽ.Đây là phương pháp giữ xác độc
đáo ở Việt Nam, đang còn là điều bí ẩn với các nhà khoa
học.
Nhục
thân vị thiền sư
Nhục
thân vị thiền sư
Chùa
Trăm Gian (Hà Tây)
Hình
gác chuông chùa Trăm Gian (Hà Tây)
Toạ
lạc ở thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Hoài Đức, trên
một quả đồi cao khoảng 50m, xung quanh có nhiều cây cổ thụ.
Chùa có tên chữ là Quảng Nghiêm Tử, được lập từ thời
Lý Cao Tông, niên hiệu Trịnh Phù thứ 10 (1185).Đến đời
Trần có Hoà thượng Bình An, quê ở Bối Khê, tu ở đây được
người đời gọi là đức Thánh Bối.Chùa gọi là Trăm Gian
vì có 100 gian theo cách tính 4 cột là 1 gian.Ở sân chùa có
gác chuông 2 tầng 8 mái được dựng vào năm Quý Dậu, niên
hiệu Chính Hoà, đời Lê Hy Tông (1693), là một công trình
có giá trị nghệ thuật cao.Chùa còn giữ được nhiều di
vật, đồ tế khí và tượng quý.Đây là ngôi chùa đẹp về
mặt kiến trúc và khung cảnh thiên nhiên, nên ca dao đã có
câu:
Chùa
Trăm Gian (Hà Tây)
Đình
So, quân Giá, chùa Thầy
Đẹp
thì có đẹp, chưa tày Trăm Gian
Chùa
Mía (Hà Tây)
Toạ
lạc ở làng Mía, xã Dương Lâm, huyện Ba Vì.Chùa có tên chữ
là Sùng Nghiêm Tự, được đại trùng tu vào năm Đức Long
thứ 4 (1632) do bà Nguyễn Thị Dong (còn có tên là Nguyễn Thị
Ngọc Diệu) , vợ chúa Trịnh đứng ra hưng công.Chùa có 37
pho tượng lớn nhỏ, một nửa tạc bằng gỗ, một nửa tạc
bằng gỗm, một nửa bằng đất luyện, sơn son thếp vàng.
Tiêu biểu là Bát bộ Kim Cang bằng đất luyện ở toà thượng
điện, là những điển hình nghệ thuật miêu tả dung mạo
những con người giàu tinh thần thượng võ. Pho tượng tuyệt
tác ở chùa là ''Quan Âm Tống Tử'' với đường nét chạm
khắc mềm mại, sinh động. Tượng Thuyết Sơn chùa Mía cũng
là pho tượng có giá trị nghệ thuật cao.Chùa còn lưu giữ
rất nhiều cổ vật, như đại hồng chung đúc năm 1743, khánh
đồng đúc năm 1846, bia Bà Chúa Mía dựng năm 1632...
Chùa
Thiên Trù - Hương Sơn (Hà Tây)
Suối
Yến - Chùa Thiên Trù - Hương Sơn (Hà Tây)
Toàn
cảnh chùa Hương là một khi vực rộng lớn, có đủ khe suối,
núi rừng, hang động, thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức,
cách Hà Nội khoảng 60km.Chùa Thiên Trù nằm ở Bến Trò, được
dựng vào đời Lê Hy Tông, niên hiệu Chánh Hoà năm thứ 7
(1686). Chùa bị đổ năm 19947, nay mới được xây lại và
đang tiếp tục công cuộc trùng tu.Ở chùa có tấm bia cổ
dựng vào năm 1686, nói việc nhà sư Viên Quang có công sửa
sang động báu Hương Tích và xây dựng ngôi chùa Ngoài. Có
2 ngọn tháp đáng chú ý là tháp Thiên Thuỷ - một khối đã
nước mưa bào mòn và tháp Viên Công xây bằng gạch cổ.Chùa
Hương là một danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Việt Nam.
Động Hương Tích được gọi là ''Nam Thiên Đệ Nhất Động''.
Chùa
Thiên Mụ (Thừa Thiên - Huế)
Mặt
tiền chùa Thiên Mụ
Toạ
lạc trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách thành phố
Huế 5km, về phía Tây, do chúa Nguyễn Hoàng tái thiết năm
Tân Sửu (1601). Năm Ất Tỵ (1665), chùa Nguyễn Phúc Tân cho
trùng tu chùa. Sau đó, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc chuông và
dựng bia. Năm Giáp Ngọ (1714), chúa Nguyễn Phúc Chu lại tiếp
tục cho sửa sang chùa. Đến năm 1815 và năm 1831, vua Gia Long
và vua Minh Mạng cho trùng tu chùa sau thời gian bị hư hỏng.
Năm 1844, vua Thiệu Trị cho dựng tháp Phước Duyên. Năm 1907,
vua Thành Thái cho trùng tu chùa sau cơn bão Giáp Thìn (1904).
Đến năm 1943, chùa lại bị hư hỏng, Hoà thượng trụ trì
Thích Đôn Hậu đã chỉ đạo công cuộc đại trùng tu kéo
dài hơn 30 năm. Hiện nay chùa vẫn tiếp tục được chỉnh
trang.Chùa Thiên Mụ là ''Quốc Tự Đệ Nhất'' nên nhiều sư
được phong tước hiệu. Chùa là ngôi danh lam cổ tự bậc
nhất của đất Thần Kinh.
Tháp
Phước Duyên
Tháp
Hoà Thượng Thích Đôn Hậu
Chùa
Báo Quốc (Thừa Thiên - Huế)
Cửa
Tam quan - Chùa Báo Quốc (Thừa thiên - Huế)
Năm
1824, vua Minh Mạng lấy lại tên chùa Báo Quốc. Năm 1858, vua
Tự Đức cho trùng tu. Năm 1957, chùa được tái thiết, song
vẫn giữ nguyên kiến trúc cổ kính. Cổng tam quan chùa được
xây năm 1808 và sửa lại năm 1873. Năm 1940, trường Cao đẳng
Phật học được mở tại chùa Báo Quốc, và chùa trở thành
một trung tâm đào tạo Tăng Ni cho đến ngày nay.
Chùa
Linh Quang (Lâm Đồng)
Mặt
tiền chùa Linh Quang
Toạ
lạc tại số 133 đường Hai Bà Trưng, thuộc khu phố 4, thành
phố Đà Lạt.Chùa do Hoà thượng Thích Nhân Thứ tạo lập
vào năm 1931, sau đó được các Hoà thượng trụ trì kế tiếp
trùng tu, nhất là đợt trùng tu năm 1958 và năm 1972 dưới
thời Hoà thượng Minh Cảnh trụ trì.Chùa có lối kiến trúc
cổ, mái chồng cong, trên mái hình long, lân, quy, phụng được
gắn bằng những mảnh sành đủ màu sắc. Chính điện thờ
đức phật Thích - ca, 2 bên là Bồ-tát Quán Thế Âm và Hộ
Pháp.Chùa được xem là ngôi Tổ đình đầu tiên của thành
phố Đà Lạt.
Chùa
Giác Lâm (TP.HCM)
Mặt
tiền chùa Giác Lâm
Toạ
lạc ở số 118 đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình.Chùa
ở trên gò Cẩm Sơn, do Lý Thuỵ Long người xã Minh Hương
quyên tiền xây dựng vào mùa xuân Giáp Tý (1744) đời chúa
Thế Tông (Nguyễn Phúc Khoát). Năm Giáp Tý (1804), Hoà thượng
Viên Quang đã cho xây dựng lại ngôi chùa. Đến năm Kỷ Dậu
(1909), Hoà thượng Hồng Hưng và Hoà thượng Như Phòng đã
cho trùng tu lại như kiến trúc hiện nay.Chùa được xây theo
hình chữ ''Tam'', gồn chánh điện, giảng đường và nhà giám
trai. Hai bên chánh điện là 2 bộ Thập Bát La-Hán (bộ lớn
và bộ nhỏ). Chùa có cả thảy 133 pho tượng bằng danh mộc
(chủ yếu là gỗ mít nài) được sơn son thếp vàng. Tất
cả những pho tượng, các bộ bao lam, bàn ghế, bài vị, các
tháp mộ cổ... đều được chạm khắc cực kỳ tinh xảo.Chùa
là ngôi đình danh tiếng bậc nhất ở thành phố.
Chùa
Xá Lợi (TP.HCM)
Tháp
Chuông - Chùa Xá Lợi
Toạ
lạc tại số 69, đường Bà Huyện Thanh Quan, quận 3.Chùa được
khởi công xây dựng vào ngày 5 tháng 8 năm 1956 dưới sự quản
đốc công trường của 2 kỹ sư Dư Ngọc Ánh và Hà Tố Thuận
thi công theo hoạ đồ của 2 kiến trúc sư Trần Văn Đường
và Đỗ Bá Vinh. Chùa được khánh thành vào các ngày 2, 3,
4 tháng 5 năm 1958.Chánh điện ở lầu 1, dài 31m, rộng 15m,
tôn tri đức Phật Thích-ca. Tượng này do Trường Mỹ nghệ
Biên Hoà thực hiện năm 1958 bằng bột đá màu hồng.Ở trên
tường chánh điện có những bức tranh minh họa đời sống
đực Phật Thích-ca do họa sĩ Nguyễn Văn Long thực hiện vào
các năm 1959 - 1960.
Chánh
điện - Chùa Xá Lợi (TP.HCM)
Tháp
chuông có 7 tầng, được khởi công xây dựng ngày 15/12/1980
và khánh thành ngày 23/12/1961.Đại hồng chung được đem lên
tháp ngày 17/10/1961 dưới sự chững minh của cố Hoà thượng
Thích Tịnh Khiết.Trước đây, chùa là nơi đặt trụ sở
Hội Phật học Việt Nam. Chùa được chọn làm nơi tổ chức
Đạo hội thành lập Giáo hội phật giáo Việt Nam họp từ
ngày 30/12/1963 đến ngày 01/01/1964. Chùa nguyên đặt trụ sở
của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Văn phòng II).Ngày 31/8/1991,
chùa là nơi tổ chức lễ tiếp nhận và phát hành 2 tập đầu
tiên Đại Tràng Kinh Việt Nam.
Chùa
Vĩnh Nghiêm (TP.HCM)
Quang
cảnh chùa Vĩnh Nghiêm (TP.HCM)
Tạo
lạc ở số 339 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3.Chùa được
xây dựng từ năm 1964 và hoàn thành năm 1971, do kiến trúc
sư Nguyễn Bá Lăng vẽ kiểu với sự cộng tác của kiến
trúc sư Lê Tấn Chuyên và Cổ Văn Hậu.Chùa có sân thượng
sâu khoảng 10m, bên trái có tháp Quan Âm với 7 tầng mái, bên
phải có tháp chuông xây cao trên sân thượng. Quả đại hồng
chung do Giáo hội Phật giáo Nhật Bản hiến cúng. Bái điện
là một toà nguy nga, bề rộng 22m, dài 35m, cao 15m. Những công
trình chạm khắc gỗ ở đây có bao lam tứ linh, bao lam cửu
long, các tượng La-hán... Đặc biệt là các phù điều trên
các hương án chạm các ngôi chùa danh tiếng trong nước và
các nước Châu Á. Các nghệ nhân Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn
Văn Dụ, Bá Nhâm và tập thể thợ chạm những năm 1960 đã
đạt những thành tựu đáng kể về mặt điêu khắc gỗ ở
đây.Bàn thờ Phật được thiết lập rất trang nghiêm. Chính
giữa thờ đức Phật Thích-ca, 2 bên là Bồ-tát Phổ Hiến
và Bồ-tát Văn-thù.Hiện nay, chùa đặt Trường cơ bản Phật
học TP.HCM.· VietNamNet (Tài liệu tham khảo: Việt Nam danh lam
cổ tự)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân