ĐỂ TRỞ
THÀNH MỘT PHẬT TỬ
HT
Thích Trí Thủ
Để
thành một Phật Tử trước hết phải quy y Tam Bảo. Và muốn
quy y Tam Bảo một cách chân chánh. Tín đồ Phật Giáo sơ cơ
cần phải thật biết mục đích đạo Phật, thật hiểu con
đường đưa đến mục đích ấy và thật hành đúng đắn
những lời Phật khuyên bảo. Như thế, sự quy y Tam Bảo mới
thật có ích. Vì vậy, đạo Phật được mệnh danh là đạo
Như Thật hay đạo của Sự Thật.
Mục
đích của đạo Như Thật là gạn lọc ý nghĩ cho trong sạch,
vì ý nghĩ quyết định mọi hành động thiện hay ác.
Để
hiểu rõ sự liên quan giữa ý nghĩ và hành động. Phật dạy
luật nhân quả, tức con đường mà xưa Phật đã trải qua
và ngày nay hằng trăm triệu con Phật trên khắp thế giới
đương lần bước hướng theo.
Hành
trình đòi hỏi nhiều cố gắng liên tục và một số hành
trang tối thiểu. Muốn giữ cố gắng liên tục, điều quan
trọng là phát lòng chánh tín; còn hành trang tối thiểu chính
là 5 giới cấm.
Tập
sách nhỏ này (dưới hình thức vấn đáp) không nhắm cao vọng
nào khác hơn là hướng dẫn tín đồ sơ cơ về các yếu điểm
căn bản nói trên, để cho sự quy y Tam Bảo đem lại lợi
ích thiết thật nhằm mục đích xây dựng con người gây hạnh
phúc cho gia đình và xã hội.
Tác
Giả Cẩn Chí
1)
Hỏi: Một tín đồ Phật Giáo trước hết phải hiểu và làm
những gì?
Đáp:
Trước hết là phải hiểu rõ những yếu điểm căn bản của
Phật dạy, thứ đến là phát lòng chánh tín Tam Bảo, cuối
cùng là thật hành năm điều răn trong đời sống hằng ngày
của mình.
2)
Hỏi: Vì sao phải theo thứ tự ấy?
Đáp:
Vì phàm làm việc gì, phải hiểu mục đích của việc ấy.
Có thật hiểu mới phát được lòng chánh tín và chí tâm
thật hành để đem lại lợi ích cho bản thân, cho gia đình
và cho xã hội. Phật dạy : "Tin ta mà không hiểu ta là báng
bổ ta".
3)
Hỏi: Những yếu điểm căn bản của Phật dạy là những
điểm nào?
Đáp:
Không làm các điều ác. Siêng làm các điều lành. Giữ ý
nghĩ trong sạch.
4)
Hỏi: Thế nào là ác?
Đáp:
Là những việc làm, lời nói và ý nghĩ không hợp lý, hại
mình, hại người cả trong hiện tại lẫn tương lai.
5)
Hỏi: Thế nào là thiện?
Đáp:
Là những việc làm, lời nói và ý nghĩ hợp lý, lợi mình,
lợi người cả trong hiện tại lẫn tương lai.
6)
Hỏi: Thế nào là ý nghĩ trong sạch?
Đáp:
Là ý nghĩ hợp với lẽ phải, không tham giận kiêu căng, không
ganh ghét đố kỵ, không gây hậu quả khổ đau cho mình và
cho người. Ý nghĩ trong sạch khi phát hiện ra nơi hành động
thì hành động chân chánh, khi phát hiện ra nơi lời nói thì
lời nói hiền hòa, làm cho đời mình và đời người đều
an vui tươi đẹp.
7)
Hỏi: Làm lành lánh dữ là những điều mà bất luận Tôn
giáo nào hay học thuyết nào cũng dạy, đâu có riêng gì Phật
Giáo?
Đáp:
Vâng, đúng thế. Nhưng nói là một việc, còn có thật hành
đúng như lời nói được hay không lại là một việc khác.
Đó là chưa nói đến sự làm lành lánh dữ ấy có hợp lý
hay không, vì nếu người đề xướng lên một lý thuyết mà
chưa phải là một đấng giác ngộ chân lý thì lý thuyết
ấy khó mà hoàn toàn được.
8)
Hỏi: Bằng chứng đâu để biết lý thuyết đúng và thật
hành cũng đúng như lý thuyết?
Đáp:
Cứ xem lịch sử đời sống của vị Tổ sáng lập Tôn giáo
và lịch sử truyền bá của Tôn giáo ấy thì biết.
9)
Hỏi: Đời sống của Đức Phật như thế nào?
Đáp:
Nhất nhất phù hợp với lời Ngài dạy. Phù hợp một cách
hoàn toàn đến nỗi các học giả khảo cổ Tây phương khi
mới nghiên cứu Phật Giáo tưởng Đức Phật là một nhân
vật hoang đường không thật có trong lịch sử.
10)
Hỏi: Còn lịch sử truyền giáo của Phật Giáo?
Đáp:
Một lịch sử trong trắng, chưa từng gây đau thương cho một
dân tộc nào, chưa từng gây chiến tranh với ai, dù được
mệnh danh là thánh chiến. Ngược lại Phật Giáo đến đâu
hòa bình đến đó.
11)
Hỏi: Như vậy, ta phải kết luận về Phật Giáo như thế
nào?
Đáp:
Đức Phật và môn đồ của Ngài trải gần 26 thế kỷ là
những gương sáng của việc làm lành lánh dữ.
12)
Hỏi: Nhờ đâu Phật Giáo giữ được trọn vẹn như thế?
Đáp:
Nhờ yếu điểm đặc biệt thứ ba: giữ ý nghĩ trong sạch.
Ý nghĩ soi đường cho hành động, hướng dẫn hành động;
ý nghĩ đã trong sạch thì hành động tất nhiên phải thuần
thiện.
13)
Hỏi: Như thế, Phật Giáo hẳn phải đặc biệt lưu tâm đến
vai trò của ý nghĩ?
Đáp:-Đúng
như thế. Thiên kinh vạn quyển hiện đương lưu truyền đều
dạy cách phân biệt thế nào là tư tưởng chân chánh, thế
nào là tư tưởng tà vạy; tám vạn bốn ngàn pháp môn tu hành
đều nhằm mục đích gạn lọc ý nghĩ cho trong sạch mà thôi.
14)
Hỏi: Muốn thật hiện ba yếu điểm trên, trước hết phải
làm gì?
Đáp:-Phát
lòng chánh tín Tam Bảo, vì trong kinh dạy : "Tín vi đạo nguyện
công đức mẫu", nghĩa là: "Tín là nguồn gốc của đạo,
là mẹ đẻ của phước đức".
15)
Hỏi: Thế nào là chánh tín?
Đáp:
-Là tin những điều chân chánh, hợp lý có lợi ích thiết
thật, như tin gây nhân tốt sẽ hưởng quả tốt, nhân nào
quả nấy như hình với bóng. Không tin những điều mơ hồ
viễn vông, không hợp lý và không lợi ích thiết thật như
tin ma quỷ thần quyền xằng bậy.
16)
Hỏi:Thế nào là Tam Bảo?
Đáp:-Là
ba ngôi báu: Phật, Pháp, Tăng.
Phật
là tiếng gọi tắt chữ Phật Đà trong Phạn ngữ, chỉ cho
những bậc Thánh nhân đã hoàn toàn giác ngộ và vị đó đã
hoàn toàn giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi. Trung Hoa
dịch là Giác giả.
Pháp
là danh từ Trung Hoa dịch chữ Đạt Ma trong tiếng Phạn, chỉ
cho giáo lý Phật, vì giáo lý ấy thể hiện đúng đắn chân
lý vũ trụ nhân sinh, dùng làm khuôn vàng thước ngọc trong
việc diệt trừ đau khổ tận gốc và đem lại an vui vĩnh
viễn.
Tăng
là tiếng gọi tắt chữ Tăng Già trong Phạn ngữ, chỉ cho
một đoàn thể từ 4 người sắp lên, tu theo giáo pháp Phật
và sống theo tinh thần lục hòa; Trung Hoa dịch là Hòa hiệp
chúng.
Phật,
Pháp, Tăng là mục tiêu mà mọi Phật tử phải nhắm đến.
17)Hỏi:
Vì sao gọi Phật, Pháp, Tăng là ba ngôi báu?
Đáp:-
Thế thường cho vàng bạc ngọc ngà hay quyền cao chức trọng
là quý, nhưng thử hỏi khi gặp cảnh đời tang thương dâu
bể như giặc cướp tật dịch v..v. các thứ ấy có vơi bớt
nỗi khổ cho ta được không? Hay lại càng gây thêm khổ lụy
cho ta nữa? Đó là chưa nói vinh hoa phú quý có ngày tiêu tan,
vàng bạc ngọc ngà là vật nay tụ mai tán, chưa ai giữ được
vĩnh viễn. Trong cõi đời vô thường này, cảnh ông hóa nên
thằng không phải hiếm. Duy có Phật, Pháp, Tăng mới thường
trú, thường an vui, thường chân thật, thường thanh tịnh
và thường cứu vớt ta mà không phân biệt thân sơ thù bạn.
Vì bốn đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh và đại nguyện độ
sanh ấy nên gọi Phật, Pháp, Tăng là ba ngôi báu.
18)
Hỏi: Chánh tín Tam Bảo có lợi ích gì?
Đáp:
-Lợi ích chánh tín Tam Bảo không thể nói hết và cũng không
thể nghĩ bàn được.
19)
Hỏi: Xin nói một vài lợi ích của sự chánh tín Phật.
Đáp:
-Trong kinh nói: "Chư Phật trong mười phương thương nhớ chúng
sanh như mẹ thương nhớ con". Mẹ thương nhớ con như vậy
mà nay con đáp ứng lại lòng thương vô biên của mẹ, đặt
hết tin tưởng vào trí sáng suốt vô lượng của mẹ thì
khác nào như người đi đêm mà có đuốc soi đường, qua nơi
nguy hiểm mà có người dìu dắt, không còn lo lắng sợ hãi
gì nữa.
20)
Hỏi: Còn lợi ích chánh tín Pháp?
Đáp:
-Phật dạy hễ tạo nhân lành thì hưởng quả tốt, tạo nhân
dữ thì chịu quả xấu. Luật nhân quả là một luật xác
thật. Phật lại dạy: "Tất cả chúng sanh đều là Phật sẽ
thành", nghĩa là đều có khả năng thành Phật. Vậy nếu tin
và thật hành đúng lời Phật dạy, nhất định sẽ hết mê
được ngộ, hết khổ được vui.
21)
Hỏi: Giáo pháp Phật dạy chỉ có chừng ấy thôi sao?
Đáp:
-Còn nhiều, rất nhiều. Nhưng chung quy cũng không ngoài nhân
quả.
22)
Hỏi: Lợi ích chánh tín Tăng như thế nào?
Đáp:
-Tăng là những vị thay Phật tiếp tục việc giáo hóa giống
như Phật đã làm lúc còn tại thế. Đã thay Phật thì Tăng
tức là Phật. Về mặt gây phước đức, lợi ích chánh tín
Phật như thế nào thì lợi ích chánh tín Tăng như thế ấy.
23)
Hỏi: Khi đã phát lòng chánh tín rồi, phải làm gì nữa?
Đáp:
-Phải quy y Tam Bảo.
24)
Hỏi: Thế nào là quy y?
Đáp:
-Quy nghĩa là quay về; Y nghĩa là nương tựa. Chúng sanh vì
mê lầm nên bị dục vọng lôi cuốn khiến bị chìm đắm
trôi lăn mãi trong biển khổ luân hồi, không nơi nương tựa,
khác nào đứa con hoang mải mê theo tiếng gọi giang hồ du
đãng, lăn mình vào gió bụi, nếm đủ mùi chua cay, nay bỗng
giác tỉnh, muốn chấm dứt cuộc sống ba đào trôi nổi, quay
về với quê hương xứ sở để tìm chỗ nương tựa, nên
gọi là quy y.
25)
Hỏi: Thế nào gọi là quy y Phật Bảo?
Đáp:
-Là quay về nương tựa đức Phật, thờ đức Phật làm thầy,
thề suốt đời không thờ trời thần quỷ vật.
26)
Hỏi: Thế nào gọi là quy y Pháp Bảo?
Đáp:
-Là quay về nương tựa giáo lý đức Phật, lấy giáo lý ấy
làm đuốc soi đường, thề suốt đời không nghe lời dụ
dỗ của tà ma ngoại đạo truyền bá giáo lý quàng xiên.
27)
Hỏi: Thế nào gọi là quy y Tăng Bảo?
Đáp:
-Là quay về nương tựa Tăng Già, xem Tăng Già như Phật còn
tại thế, đủ nêu gương sáng cho ta bắt chước noi theo, thề
suốt đời không thân cận bạn hữu xấu xa và độc ác.
28)
Hỏi: Nghe nói có vô lượng chư Phật trong mười phương thế
giới, vậy nên thờ đức Phật nào hơn?
Đáp:
-Đã là giác ngộ như nhau thì đức Phật nào cũng có trí
tuệ viên mãn như nhau và thương xót chúng sanh như nhau. Nhưng
tùy theo cơ cảm chúng sanh có cơ duyên với đức Phật nào
hơn thì thờ đức Phật ấy, như người tu Tịnh độ thì
thờ đức Phật A Di Đà, người tu Mật tông thì thờ đức
Phật Đại Nhật ..v..v.. Nhưng nếu thờ đức Phật Thích Ca
thì đầy đủ hơn cả, vì ngài là giáo chủ cõi Ta Bà chúng
ta trong hiện tại.
29)
Hỏi: Ngài là nhân vật có thật trong lịch sử hay chỉ nghe
truyền thuyết nói lại?
Đáp:-Ngài
là một nhân vật lịch sử, ra đời cách đây trên 2,500 năm,
tên là Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Da
ở nước Ca Tỳ La Vệ thuộc miền bắc Ấn Độ ( nay là nước
Népal). Năm 29 tuổi, sắp nối ngôi vua cha thì Ngài xuất gia
cầu đạo, 35 tuổi thành Chánh giác dưới gốc cây Tất Bát
La tức cây Bồ Đề, hiệu là Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau khi
thành Phật, Ngài thuyết pháp khắp xứ Ấn Độ, cứu độ
vô lượng chúng sanh thoát ly đau khổ, 80 tuổi nhập diệt
tại rừng Sa La Song Thọ trong lãnh thổ nước Câu Thi Na. Giáo
lý của Ngài dạy như thế nào thì đời Ngài thật hành y
đúc như thế ấy.
30)
Hỏi: Giáo lý ấy hiện còn đầy đủ không?
Đáp:
-Còn giữ nguyên vẹn, gồm đủ 3 tạng Kinh, Luật, Luận và
đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Trung Hoa đã dịch đầy
đủ ra Hán văn từ lâu, gọi là Đại Tạng Trung Hoa. Việt
Nam ta chỉ mới bắt đầu dịch một số thôi. Giáo lý ấy,
tiếng Phạn gọi là Đạt ma và Trung Hoa dịch là Pháp.
3l)
Hỏi: Còn Tăng Già, vì sao Trung Hoa dịch là hòa hiệp chúng?
Đáp:
-Vì chữ Tăng Già trong tiếng Phạn, chỉ cho chúng đệ tử
của Phật từ bốn người trở lên sống hòa hiệp với nhau
theo tinh thần lục hòa:
1.
Thân hòa đồng trú: thân hòa hiệp, ăn ở như nhau.
2.
Khẩu hòa vô tranh: miệng hòa hiệp, không tranh cãi nhau.
Ý
hòa đồng duyệt: ý hòa hiệp, thuận thảo với nhau.
Kiến
hòa đồng giải: có chánh kiến cùng nhau chia xẻ.
Giới
hòa đồng tu: cùng chỉ bày kiến giải cho nhau.
Lợi
hòa đồng quân: cùng san sẻ lợi lộc như nhau.
32)
Hỏi: Không quy y Tam Bảo có hại gì không?
Đáp:
-Có rất nhiều điều hại. Trước tiên là không được dịp
thân cận Tăng để được chỉ bày, bảo ban phương pháp tu
hành theo con đường chánh. Thứ lại là không được thân
cận Pháp để tìm hiểu và phân biệt chánh tà chân ngụy.
Sau hết là không gây được thiện duyên với Phật để mong
Phật cứu độ. Trong kinh dạy: không quy y Phật thì dễ đọa
địa ngục; không quy y Pháp thì dễ đọa ngạ quỷ; không
quy y Tăng thì dễ đọa súc sanh.
33)
Hỏi: Vì sao vậy?
Đáp:
-Vì nguồn gốc của đau khổ luân hồi là tham, sân, si. Không
quy y Phật, không bắt chước đức từ bi của Phật thì sân
hận mỗi ngày mỗi tăng mà sân hận là nguyên nhân của địa
ngục. Không quy y Pháp, không tìm hiểu chánh pháp để phân
biệt chánh tà thì tham lẩn dễ dấy, mà tham lẩn là nguyên
nhân của ngạ quỷ. Không quy y Tăng, không có gương thanh tịnh
hiền hòa cho ta bắt chước và không người chỉ lối đưa
đường cho ta tránh ác làm lành thì si tâm càng ngày càng dày
đặc thêm, mà ngu si là nguyên nhân của súc sanh.
34)
Hỏi: Muốn quy y Tam Bảo phải làm như thế nào?
Đáp:
-Tìm một vị tu hành giới hạnh trang nghiêm, học thức uyên
bác, thay mặt chúng Tăng bạch Phật làm lễ truyền thọ 3
pháp quy y trước điện Phật.
Trong
lúc nghe 3 pháp quy y thì lòng mình nhất tâm hướng về Tam
Bảo và thiết tha phát nguyện giữ 3 pháp ấy trọn đời,
dù gặp hoàn cảnh nào cũng không biến đổi. Như thế lễ
quy y mới thành tựu.
35)
Hỏi: Tin Phật mà chưa quy y có được gọi là Phật tử không?
Đáp:
-Chỉ bắt đầu từ giờ phút nhất tâm thọ trì 3 pháp quy
y trước điện Phật, do các vị tu hành thanh tịnh truyền
thọ mới chính thức là một Phật tử, hay nói đúng hơn,
một Ưu Bà Tắc hoặc một Ưu Bà Di.
36)
Hỏi: Ưu bà tắc, Ưu bà di là gì?
Đáp:
-Ưu bà tắc, Ưu bà di là tiếng Phạn; Trung Hoa dịch là Cận
sự nam, Cận sự nữ hoặc dịch thiện nam, tín nữ. Là những
người đàn ông hay đàn bà gần gũi Tam Bảo, phụng sự Tam
Bảo và được Tam Bảo luôn luôn ủng hộ.
37)
Hỏi: Thọ trì Tam Quy rồi, người Phật tử có cần làm gì
khác nữa không?
Đáp:
-Trên con đường hướng đến mục tiêu Tam Bảo, tam quy như
hai mắt, ngũ giới như hai chân. Mắt ngước nhìn mục tiêu
nhưng đồng thời chân phải cất bước mới mong đạt được
mục tiêu ấy. Ngũ giới là bước đầu của địa vị thánh
hiền.
38)
Hỏi: Ngũ giới là những gì?
Đáp:
-1.- Không sát sanh.
2.-
Không trộm cắp.
3.-
Không tà dâm.
4.-
Không nói dối.
5.-
Không uống rượu.
39)
Hỏi: Thế nào là không sát sanh?
Đáp:
-Không manh tâm hoặc không giết hại sanh mạng, dù cho sanh
mạng ấy là loài vật, vì chúng cũng biết đau khổ như ta.
Trái lại, còn phải luôn luôn tôn trọng và cứu sống sanh
mạng của muôn loài. Tội ác lớn không gì bằng giết hại;
công đức lớn không gì bằng cứu sống.
40)
Hỏi: Thế nào là không trộm cắp?
Đáp:-
Không trực tiếp hay gián tiếp phỉnh gạt để lấy của của
người. Trái lại còn phải cố gắng bố thí cho muôn loài.
Họa hoạn lớn không gì hơn tham lam; phước báu không gì hơn
bố thí.
41)
Hỏi: Thế nào là không tà dâm?
Đáp:
-Không lang chạ với vợ người, chồng người, hoặc với
người không phải vợ mình, chồng mình.
42)
Hỏi: Thế nào là không nói dối?
Đáp:
-Không nói lời độc ác, không nói lời thêu dệt, không nói
hai lưỡi, không nói lời gian trá, như có nói không, không
nói có. Trái lại, phải nói lời chân thật ngay thẳng hiền
hòa, lợi mình lợi người.
43)
Hỏi: Thế nào là không uống rượu?
Đáp:
-Rượu là thứ làm loạn tinh thần, làm mất trí tuệ. Trong
hiện tại, rượu là nguyên nhân sinh ra nhiều tật bệnh; trong
tương lai, rượu là nguyên nhân của ngu si mờ tối. Trong kinh
ví rượu dữ hơn thuốc độc. Mục đích người Phật tử
là tu tập trí tuệ, phát huy trí tuệ để tìm hiểu sự thật
thì tuyệt đối không được uống rượu. Ngoài ra, cũng không
được dùng các thứ kích thích thần kinh khác như thuốc phiện
và các đồ gia vị như hành, hẹ, nén tỏi, v..v..
44)
Hỏi: Công dụng thiết thực của ngũ giới là gì?
Đáp:
-Tạo nên những con người có tư cách, có nhân phẩm, được
mọi người kính yêu. Trong gia đình, đó là cha hiền, con thảo;
ra quốc gia, đó là người dân tốt. Nếu toàn thể nhân loại
giữ được 5 giới cấm thì xã hội an lạc, thế giới hòa
bình.
45)
Hỏi: Giữ một lần cả 5 giới e khó chăng?
Đáp:
-Người giữ trọn 5 giới gọi là toàn phần Ưu bà tắc (nếu
là đàn ông) hoặc toàn phần Ưu bà di (nếu là đàn bà). Người
chỉ giữ được 2 giới gọi thiểu phần Ưu bà tắc hoặc
thiểu phần Ưu bà di. Người giữ 3 giới gọi là bán phần
Ưu bà tắc hoặc bán phần Ưu bà di. Người giữ 4 giới gọi
là đa phần Ưu bà tắc hoặc đa phần Ưu bà di. Nếu chưa
đủ sức giữ trọn 5 giới thì chọn 2 giới mà mình nghiệm
có thể giữ được để phát nguyện thọ trì. Về sau quen
dần sẽ phát nguyện thọ trì thêm cho đủ 5 giới.
46)
Hỏi: Nếu không thọ trì được giới nào cả thì sao?
Đáp:
-Chả lẽ một Phật tử đã quy y rồi mà vẫn còn giữ nhiều
tánh độc ác xấu xa sao!?
47)
Hỏi: Phát nguyện giữ giới, nhưng bất đắc dĩ hoặc vô
tình phạm phải thì làm thế nào?
Đáp:
-Sám hối trước Tam Bảo và nguyện không tái phạm. Điều
cốt yếu là trong khi sám hối, lòng mình có tự thấy xấu
hổ và thành thật ăn năn thì tội lỗi mới tiêu tan và giới
thể mới trở lại thanh tịnh như khi chưa phạm.
48)
Hỏi: Chỉ giữ đúng 5 giới cấm mà không quy y Tam Bảo có
được không?
Đáp:
-Quy y Tam Bảo là chánh kiến, thọ trì 5 giới là chánh giới.
Kinh dạy chánh kiến quan trọng hơn chánh giới; nếu chỉ giữ
5 giới cấm mà không quy y Tam Bảo, tương lai tuy vẫn hưởng
thọ phước báu giàu sang trong cõi trời hoặc cõi người,
nhưng vì không được Tam Bảo hướng dẫn thì không khéo phước
báu càng cao đọa lạc càng sâu.
49)
Hỏi: Quy y Tam Bảo và thọ trì năm giới rồi, có nên khuyên
người khác làm như mình không?
Đáp:
-Đó là một công đức rất lớn. Khuyên thêm được một
người quy y giữ giới tức là bớt cho xã hội một sự xấu
xa đau khổ. Kinh dạy: "Trong tất cả sự cúng dường, cúng
dường Chánh pháp là hơn hết". Mà cúng dường Chánh pháp
tức là tự mình sống đúng với Chánh pháp và khuyên người
sống theo Chánh pháp vậy.
50)
Hỏi: Như trên kia nói chánh tín là tin nhân quả, vậy nhân
quả là gì? Và có liên quan gì với năm giới không?
Đáp:
-Rất liên quan nhau. Nhưng trước hết hãy tìm hiểu nhân quả
là gì đã.
Nhân
là nguyên nhân, như cái mầm cây trong hột; quả là kết quả,
như cái trái trên cây. Trái do mầm sanh và mầm nào sanh trái
nấy, không lẫn lộn được. Mầm cây ngọt sanh trái ngọt,
mầm cây đắng sanh trái đắng. Quả nào không do một hay nhiều
nguyên nhân sanh, mà đã có nguyên nhân tất nhiên phải có
kết quả.
Luật
nhân quả chi phối toàn thể cuộc sống và bao trùm khắp vũ
trụ. Không có cái gì thoát ra ngoài luật nhân quả được.
Ngay giáo pháp vĩ đại của Phật cũng chỉ thuyết minh lý
nhân quả mà thôi.
51)
Hỏi: Còn liên quan giữa luật nhân quả và năm giới?
Đáp:
-Không sát sanh, trái lại còn phóng sanh, đó là nguyên nhân
của quả sống lâu vô bệnh. Không trộm cắp, trái lại còn
bố thí, đó là nguyên nhân của quả giàu sang bền vững.
Không tà dâm, đó là nguyên nhân của quả sum vầy, đầm ấm
trong gia đình. Không nói dối, đó là nguyên nhân của quả
tin yêu, không bị lừa gạt. Không uống rượu, đó là nguyên
nhân của quả trí tuệ. Đây là chỉ mới nói một ít kết
quả thông thường thôi.
52)
Hỏi: Sao có người từ nhỏ đến lớn siêng năng làm ăn,
không trộm cắp của ai mà suốt đời vẫn chật vật khốn
khổ?
Đáp:
-Đó là kết quả của nguyên nhân trong kiếp quá khứ. Luật
nhân quả rất phức tạp, chứ không giản dị như người
thường quan niệm. Có nhân quả đồng thời, có nhân quả
dị thời, có nhân quả chuyển biến v..v.. Nhân quả đồng
thời là như tay gõ thì tai liền nghe tiếng; nhân quả dị
thời là như trồng lúa hôm nay, ba tháng sau mới có ăn, hoặc
như một việc làm bất cẩn từ năm trước, trăm năm sau mới
thấy hại.
53)
Hỏi: Mọi sự việc trên đời này hô ứng theo luật nhân
quả thì cha tu cha hưởng, con tu con hưởng, hai bên dính líu
gì nhau?
Đáp:
-Lý đương nhiên như thế. Nhưng ở đời mọi cuộc gặp gỡ
đều do túc duyên mà thành. Một người sở dĩ thọ sanh vào
một nhà nào đó, tất nhiên phải thuộc loại đồng thanh
đồng khí với nhà ấy. Có những gia đình đông con mà đứa
thì thông minh hiền hòa, đứa lại ngu đần hung ác, đó là
do tâm tính và hành vi của cha mẹ lúc thọ thai. Nếu thọ
thai trong thời gian cha mẹ làm được nhiều điều phước
thiện, tâm tính tốt lành thì đứa con thọ sanh vào hẳn phải
là đứa con tốt. Trái lại, tất gặp phải con xấu. Cho nên
cha mẹ ăn ở phước đức mới sanh được con hiếu thảo
thông minh.
54)
Hỏi: Luật nhân quả, ai đặt ra?
Đáp:
-Đó là qui luật tự nhiên không do ai đặt ra cả. Phật nhờ
giác ngộ mà phát minh được định luật ấy, soi đường
cho chúng ta. Đã là định luật thì tạo nhân tốt hưởng
quả tốt, tạo nhân xấu hưởng quả xấu, không trời thần
quỷ vật nào cưỡng lại hoặc xen vào thưởng phạt hết.
55)
Hỏi: Thế thì thờ Phật và lạy Phật để làm gì?
Đáp:
-Để tỏ lòng biết ơn Phật và để hằng ngày chiêm ngưỡng
Phật mà noi gương Từ Bi Hỷ Xả của Phật, nhờ đó ta huân
tập dần dần các đức sáng ấy làm cho ta mỗi ngày mỗi
gần Phật hơn. Ngoài ra, lạy Phật còn là một cách tu luyện
để thanh tịnh hóa 3 nghiệp thân, khẩu, ý. Khi lạy Phật,
thân đứng ngay ngắn để chiêm ngưỡng Phật, tức thân thanh
tịnh; miệng niệm danh hiệu Phật, không nói lời xằng bậy,
tức khẩu thanh tịnh; ý nghĩ đến 4 đức Từ Bi Hỷ Xả và
vô lượng công đức của Phật nói trong kinh, không có ý nghĩ
tạp loạn xen vào, tức ý thanh tịnh. Vì tội lỗi là do 3
nghiệp sanh ra, nay 3 nghiệp thanh tịnh tức tội diệt phước
sanh.
56)
Hỏi: Niệm Phật có lợi ích gì?
Đáp:
-Niệm Phật nghĩa là nhớ nghĩ đến Phật. Đã nhớ nghĩ đến
Phật, tất nhiên không nhớ nghĩ đến cái khác, giúp cho ý
nghiệp thanh tịnh như đã nói trên. Pháp môn niệm Phật hay
pháp môn Tịnh độ là pháp môn huyền diệu nhất và dễ tu
nhất.
57)
Hỏi: Tụng kinh có lợi ích gì?
Đáp:
-Tụng kinh cũng như niệm Phật, sự lợi ích thật không thể
nghĩ bàn được. Khi đọc tụng lời Phật dạy, tâm ta huân
tập đức thanh tịnh sáng suốt của Phật, tự nhiên mỗi
ngày ta gần Phật một bước, tụng niệm mãi cho đến khi
giữa ta và Phật không còn cách ngăn nhau nữa: tâm ta tức
tâm Phật, tâm Phật tức tâm ta. Đó là cứu cánh của sự
tụng niệm Phật.
58)
Hỏi: Thế thì vì sao còn phải ăn chay ?
Đáp:
-Tất cả sanh vật đều có tình thức như ta, đều biết đau
khổ như ta, nghĩa là đồng tham sống sợ chết như nhau cả.
Chả lẽ ta lại nhẫn tâm gây đau khổ cho những sinh vật
khác trong khi chính ta cũng đương ê chề với đau khổ? Vì
vậy, Phật dạy nên ăn rau để tỏ lòng thương xót loài vật.
Người đã quy y rồi, ít nhất cũng phải ăn được 2 ngày
chay một tháng, vào ngày rằm và mùng một.
59)
Hỏi: Đạo Phật có thừa nhận có ma quỉ không?
Đáp:
-Ngoài nhân quả ra, đạo Phật không thừa nhận gì cả. Nhưng
hễ lòng người muốn cái gì (nhân) thì có cái nấy (quả).
Nếu lòng mình luôn luôn nhớ nghĩ Phật thì Phật hiện, luôn
luôn nhớ nghĩ ma thì ma hiện. Trong kinh có chép một chuyện
ma như sau: Có một phụ nữ bị ma quỷ hãm hiếp và đã dùng
trăm phương nghìn kế dể trừ khử nhưng không kết quả.
Về sau nhờ gặp một thầy Tỳ kheo truyền cho 3 pháp quy y,
bà ta đêm ngày thành tâm tụng đọc 3 pháp ấy, tự nhiên
không còn thấy ma quỷ nữa và trở lại sống an vui như trước.
60)
Hỏi: Khi tụng kinh niệm Phật, muốn cầu Phật cứu giúp cho
một việc gì, như thế có đúng chánh pháp không và có được
không?
Đáp:-Nếu
mình đem hết tín thành vận lòng mình như lòng Phật để
gây nhân tốt thì tự nhiên Phật với mình cảm thông nhau,
quả tốt sẽ do đó mà có. Muốn cho công đức thành tựu
viên mãn, điều cốt yếu vẫn là phải giữ ý nghĩ trong sạch,
không làm các điều ác, siêng tu các điều lành, như bài kệ
Phật dạy trong Giới Kinh
Chư
ác mạc tác.
Chúng
thiện phụng hành
Tự
tịnh kỳ ý
Thị
chư Phật giáo.
Và
Nguyện
đem công đức này
Hướng
về khắp tất cả
Đệ
tử và chúng sanh
Đều
trọn thành Phật đạo.
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân