PHẬT PHÁP:
VĂN HỌC SỬ:
TRUYỆN NGẮN:
DINH DƯỠNG CHAY

SỐ 401 THÁNG 01 NĂM 2004
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA VÀ PHẬT GIÁO HOA KỲ
Jeffrey Paine (PTVN Chuyển ngữ và chú thích) 

If the words of the Buddha and the findings of modern science contradict each other, then the former have to go. (Đức Đạt Lai Lạt Ma) 

Cuối tuần này (14/9/03), một cuộc gặp gỡ bất thường diễn ra tại trường đại học M.I.T: đức Đạt Lai Lạt Ma gặp gỡ trí tuệ con người. Cùng với Đạt Lai Lạt Ma, những phật tử Tây Tạng và Tây Phương nổi tiếng khác cùng với những nhà thần kinh học, tâm lý học và các học giả khác tham dự một cuộc hội thảo gọi là "Thăm dò Tâm thức" (Investigating the Mind), trong đó những đề tài bao trùm từ ý thức cho đến các trạng thái xúc động được mang ra khảo sát dưới chiếc kính hiển vi tập thể của toàn nhóm.
 
Từ quan điểm khoa học, cuộc hội thảo hứa hẹn "tìm ra một mảnh đất chung giữa hai truyền thống thực nghiệm mạnh mẽ trên thế giới là Phật Giáo Tây Tạng và ngành hành vi học" (behavioral science). Nhưng từ quan điểm lịch sử, sự kiện có ý nghĩa nhất về cuộc hội thảo có lẽ là việc nó đang diễn ra. Để tham gia nó, đức Đạt Lai Lạt Ma đã phải vượt qua một chặng thời gian tương đương với chừng 1000 năm, trải qua một trong những cuộc hành trình tưởng như chẳng thể nào xảy ra.
 
Khi Đạt Lai Lạt Ma trốn đi lưu vong ở Ấn Độ vào năm 1959, Tây Tạng là một xứ sở còn nằm ở thời trung cổ, chẳng hề có xe chạy bằng bánh và nhiều người trong số họ chẳng bao giờ nghe nói đến nước Mỹ. Phật Giáo Tây Tạng - vốn bị cấm ngay tại quê hương của nó, nơi mà những kẻ xâm lăng Trung Quốc đã phá hủy 6000 tu viện và giết chết rất nhiều người - hình như bị buộc phải đi theo những tôn giáo bị chinh phục kể từ khi Incas và Aztecz (1) bị quẳng vào thùng rác lịch sử. Cuối cùng, ngay cả sau khi đức Đạt Lai Lạt Ma được cấp hộ chiếu sang thăm Hoa Kỳ vào năm 1978, những người ủng hộ ngài vẫn còn lo lắng sẽ có nhiều chỗ trống trong một phòng hội chỉ chứa khoảng 250 người. Khi người ta gọi các đài truyền hình để hỏi xem họ có muốn phỏng vấn đức Đạt Lai Lạt Ma không, thì câu trả lời thường là câu hỏi "Họ của bà ta là gì vậy?" (2)
 
Nhưng tối nay (tức tối chủ nhật 14/9/03, ghi chú của người dịch) có đến 13 000 người tham dự tại FleetCenter (Boston, bang Massachusetts) trong một cuộc gặp gỡ mà vé bán sạch sành sanh. Ở Hoa Kỳ hiện nay, con số tín đồ Phật Giáo tăng gấp đôi nhanh hơn bất kỳ tôn giáo nào khác, trong đó Phật Giáo Tây Tạng là tăng nhanh nhất. Chỉ riêng khu vực Boston không thôi cũng đã có đến 40 trung tâm Phật Giáo và hai cơ sở báo chí quan trọng, đó là Wisdom Publications và Shambhala (riêng Shambhala đã xuất bản đến 600 tác phẩm) - đặt cơ sở chính ở đây. Vậy thế nào mà chỉ trong có một thế hệ, chúng ta lại mang Phật Giáo Tây Tạng hầu như đã bị tiêu diệt trong xứ sở của nó, vào phát triển rực rỡ ở Hoa Kỳ này?
 
Trong một nghĩa nào đó, câu chuyện bắt đầu với một nhà văn Công Giáo nổi tiếng là Thomas Merton  và chuyến du hành định mệnh của ông sang vùng Hy Mã Lạp Sơn, Ấn độ vào năm 1968. Trước khi viếng thăm, ông ngờ rằng Đạt Lai Lạt Ma là một loại tu sĩ ưa khoa trương và xem Phật Giáo Tây Tạng là một thứ tôn giáo lạc hậu, mê tín với đủ loại ma thuật kể cả tình dục. Giống như những người phương Tây trước đó, Merton đã giải thích sai lầm những bức họa tôn giáo vẽ cảnh giao hợp, mà không biết rằng chúng là biểu tượng cho sự hợp nhất giữa con người và cái thiêng liêng. Thực tế, những người Tây Phương này không hoàn toàn hiểu lầm khung cảnh thác loạn mà họ nhìn thấy. Không giống như những tông phái Phật Giáo khác, Phật Giáo Tây Tạng thừa nhận các dục vọng và trạng thái xúc động và chuyển hóa chúng để tăng cường cho sự chuyển dịch vào cái mà người Phật tử gọi là lòng từ bi. Tây Tạng có lẽ là một trong những tông phái huyền bí nhất và trần tục nhất của Phật Giáo.
 
Ở Ấn Độ, Merton bắt đầu hiểu bản chất hai mặt của tôn giáo này khi ông quan sát những người lưu vong Tây Tạng vừa cười vừa hát. Ông ghi nhận, họ đầy cả "cường độ, năng lực và có cả đầu óc hài hước", mặc dầu trong lúc quê hương họ bị tàn phá dữ dội. Ông kết luận rằng nguồn suối tính lạc quan của người Tây Tạng nằm ngay chính trong tôn giáo của họ. Ông ghi lại trong nhật ký: "Những tín đồ Phật Giáo Tây Tạng là những người duy nhất, hiện nay, đã đạt đến trình độ hoàn thiện tâm linh phi thường". Ngược lại, ông tin rằng ở Hoa Kỳ, Thiên Chúa Giáo đã thích nghi với một kỷ nguyên càng lúc càng phồn vinh và trần tục, hiện đang trên đà giảm dần những truyền thống sống động nhất của nó. Merton quyết đoán, nếu tinh chất của Phật Giáo Tây Tạng được chắt lọc ra, nó có thể giúp phục hồi tôn giáo ở Hoa Kỳ trở về sức mạnh vốn có của nó. Về mặt thực hành, Merton trở thành người Mỹ đầu tiên quyết định dành hết thời gian của mình để nghiên cứu Phật Giáo Tây Tạng - cái chết của ông trong một tai nạn ngay trong năm đó đã khiến dự tính của ông đành bỏ dở khi mới bắt đầu (Trước đó, trước sự bối rối của Merton, một vị lạt ma - người đã trực giác rằng nhà học giả có thể chết sớm - định dạy ông về nghi lễ thực hành trước khi chết của người Tây Tạng - Tibetan pre-death exercises).
 
Thực ra, chủ nghĩa thế tục chiến thắng vốn đã là ý thức hệ ngự trị của một Hoa Kỳ giữa thế kỷ 20. Ngay vào lúc Đạt Lai Lạt Ma trốn thoát khỏi Tây Tạng, một bài viết trong tập san "The American Anthropologist", nhận định: "Đối với một nhà trí thức hiện đại, tôn giáo có lẽ là đề tài  xa lạ nhất trong thế giới". Hầu hết những nhà báo, học giả, và những nhà bình luận xã hội xem tôn giáo là một chủng loại đang bị đe dọa, mà những lời an ủi vô hiệu của nó bị xem như là lỗi thời bởi tính duy lý đang càng ngày càng gia tăng và bởi  sự thịnh vượng toàn thế giới. Vào giữa thế kỷ, những nhà trí thức thực tiễn nhất trí tiên đoán rằng sự tiến bộ về giáo dục và kinh tế sẽ xóa bỏ tính phi lý tôn giáo đồng thời nạn nghèo đói  và bất công xã hội khắp nơi trên trái đất, tất cả đều sẽ bốc hơi, tan biến y như những đám mây biến mất vào một ngày nắng ráo.
 
Dĩ nhiên, giấc mơ thế tục ảo tưởng đó không biến thành sự thật, nên những người tuyệt vọng bắt đầu mơ về một nơi khác. Vào đầu thập niên 1970, khi Geshe Wangyal, Chgyam Trungpa và những lạt ma Tây Tạng lưu vong khác đến xứ sở này, họ rất ngạc nhiên khi được đón tiếp nồng hậu bởi  những người thuộc xu hướng phản kháng văn hóa (countercultural types) như Allen Ginsberg, những kẻ đã từng mong mỏi các lạt ma đó giúp họ trở thành các hiền triết đông phương mang đặc trưng Mỹ. Ngoài họ, nhiều người khác -  kể cả những người Mỹ tự do, có giáo dục đã gạt bỏ tôn giáo gốc của họ và hoàn toàn không thích bất cứ điều gì có tính thần học - bắt đầu đòi hỏi các thỏa mãn khác gợi lại những gì vốn đã từng được tôn giáo cung cấp. Như Robert Wuthnow, nhà xã hội học trường đại học Princeton, ghi nhận vào năm 1998, đã có nhiều người Hoa Kỳ hơn tự nhận rằng "Họ có đời sống tâm linh nhưng không mộ đạo, sinh hoạt tâm linh họ phát triển nhưng ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống của họ giảm dần". Một số càng ngày càng gia tăng những người bất mãn quay sang các vị lạt Ma Tây Tạng lưu vong, những người không có việc làm và quay sang Phật Giáo Tây Tạng, thứ tôn giáo đã nhổ neo từ Tây Tạng, tự do trở thành Phật Giáo Hoa Kỳ - hay ít nhất cũng tìm thấy sự đồng thuận với người Mỹ.
Các lạt ma Tây tạng, tiếng Anh vốn còn kém cỏi và không biết gì về cuộc sống hiện đại, lúc đầu có vẻ như là những ứng viên không thích hợp cho vai trò đột nhiên rơi vào tay họ. Nhưng khi họ học được ngôn ngữ Âu Châu và hiểu rõ trạng thái tâm lý của những người phương Tây gần gũi họ, họ khám phá ra một điều bất ngờ: tôn giáo của họ thích nghi hay dễ dàng phù hợp với một thời đại và nơi chốn trần tục hơn.

Một lạt ma nhận xét: "Những người hiện đại muốn một thứ đạo giáo ít giáo điều, không cực đoan, độc quyền, siêu hình phức tạp mà lại mang tính cách văn hóa ngoại nhập, một thứ đạo giáo có thể hội nhập với đời sống bình thường và thực hành khắp nơi". Những nhà thần học Thiên Chúa Giáo già hơn cho rằng một loại đạo giáo như thế không phải là một tôn giáo, nhưng câu trả lời của người Tây Tạng là: "Không sao cả". Thật vậy, hơn 2.500 năm trước đây, chính Đức Phật đã tuyên bố rằng ngài không có ý định tạo lập một tôn giáo mới nhưng chỉ dạy phương phương thuốc giúp trị sự khổ đau, và không ai cần phải xem những bài giảng của ngài như là tôn giáo.

Trước đây, môn phái Phật Giáo duy nhất phổ biến ở Hoa Kỳ là Zen, và trong tác phẩm bán chạy nhất, "The Way of Zen" (1957), Alan Watts giải thích tính hấp dẫn của nó: "Zen là kho chứa sự khôn ngoan đông phương và nó cho phép (con người) giải tỏa khỏi thế giới phức tạp hiện đại". Tuy nhiên, những lạt ma Tây Tạng,, một khi thích nghi được với Hoa Kỳ rồi, cho rằng không có gì mang tính Á Châu đặc thù trong tôn giáo của họ và nó thích hợp với thời hiện đại cũng như đã từng thích hợp với bất kỳ thời đại hoàng kim nào trong quá khứ.

Bắt đầu với Chgyam Trungpa, người đã trốn thoát khỏi Tây Tạng năm 1959, những lạt ma này phát minh cho những môn sinh Mỹ mới của họ một thứ "tôn giáo không thần học" (religion without theology). Để dễ hòa đồng với những đồng đạo mới, Trungpa trả lại áo nhà tu và năm 1970, ông thành lập trung tâm Tây Tạng đầu tiên của Hoa Kỳ gần Barnet, bang Vermont. Cuối thập niên đó, những tác phẩm của ông đã bán được hàng trăm ngàn ấn bản. Những môn sinh Hoa Kỳ đầu tiên hết sức kích động khi khám phá thấy ở  trong Phật Giáo Tây Tạng một tôn giáo của kỹ thuật hiện đại, của phương pháp tâm linh: nó cung cấp những nguyên tắc chỉ đạo rõ ràng, thực tiễn, từng bước một để đạt được trạng thái tâm linh cao cả mà hầu như tất cả các tôn giáo đều mong ước.

Các lạt ma như Trungpa bắt đầu không phải bằng cách dạy những chân lý siêu hình mà hướng dẫn về thiền định, một phương pháp tựa như chủng ngừa trong y học, không cần đức tin cũng có kết quả. Bằng cách giới thiệu với những môn sinh Tây Phương của họ những điều thực tế, phi-giáo điều để thực hành, từ khả năng tưởng tượng đến những thực tập lòng từ bi (như quan tâm đến nỗi đau của người khác), những lạt ma này giúp họ kinh qua hiệu quả tâm lý của tôn giáo mà không cần nguyên nhân siêu hình của nó. Phật Giáo Tây Tạng  như vậy có thể lôi cuốn những tín đồ Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo lạc đạo đã không còn đi nhà thờ và bị bỏ rơi về mặt tâm linh, tự tìm lời giải cho những vấn đề then chốt của đời sống riêng của họ. Các lạt ma không đòi hỏi người ta phải cải đạo để hưởng được những lợi lộc của Phật Giáo Tây Tạng; trong thực tế, chính đức Đạt Lai Lạt Ma còn cản trở điều đó.

Lần đầu tiên khi đức Đạt Lai Lạt Ma đến Hoa Kỳ, thông điệp của ngài về mặt trí thức nghe không khác gì những điều mà các vị lạt ma đi trước đã nói. Nhưng ngành truyền thông đặc biệt chú ý đến ngài, và ngài  lôi cuốn, lúc đầu là hàng ngàn cho đến sau này là hàng triệu người, hướng về chính nghĩa của Tây Tạng bằng cách đưa ra cái sứ điệp hòa bình và lòng từ bi năng động. Ngài có đủ mọi lý do để thù ghét người Trung Hoa, nhưng thay vào đó, ngài nói về họ với lòng thông cảm và hiểu biết. Dù đang gánh vác đầy trách nhiệm, và bất chấp thảm kịch của Tây Tạng luôn luôn hiện hiện đối với ngài, rõ ràng ngài là một người hạnh phúc, thực sự là một kẻ yêu đời, để toát ra niềm tin cậy rằng tất cả mọi việc rồi đều có thể diễn ra tốt đẹp. Những người tây phương chứng kiến ngài làm nghi lễ tôn giáo trong tinh thần khoan hồng rộng lượng, phấn khởi và thiện ý.  (Tuy nhiên, những môn sinh cao cấp được nhìn thấy một phía khác của đức Đạt Lai Lạt Ma. Đối với họ, ngài dạy những thực hành bí truyền lâu đời hàng thế kỷ và làm sáng tỏ những ý tưởng về một vũ trụ đa chiều, điều có thể làm sửng sốt một mục sư  giáo phát Nhất Ngôi (Unitarian) hay Tân Giáo (Episcopalian).

Đức Đạt Lai Lạt Ma tỏ ra là ngài hết sức tinh thông trong việc phân biệt cái có tính chất phổ quát ra khỏi cái không mấy cần thiết được gọi là "giáo điều Himalaya". Ngài nổi tiếng về việc ngừng lại giữa chừng và lật ngược một tiền lệ đã có hàng ngàn năm của Tây Tạng mà chẳng hề bối rối (3). Khi một vài phóng viên đồng tính luyến ái vặn hỏi về quan điểm của ngài đối với đồng tính luyến ái, ngài lên tiếng kết án nó theo quan điểm Phật Giáo chính thức. Rồi ngài dừng lại, suy nghĩ và ném hàng thế kỷ thành kiến ra ngoài cửa sổ: "Nếu hai người không hề tuyên hứa sống đời sống độc thân (vows of chastity) và chẳng có ai hại ai, thì tại sao điều đó lại không được thừa nhận?"
Tương tự, đức Đạt Lai Lạt Ma xuất thân từ một truyền thống chống việc kiểm soát sinh đẻ, nhưng ngài thừa nhận những nguy cơ của nạn nhân mãn, và tin rằng người ta không nên cấm đoán. Ngài cũng chống đối chủ trương xem phụ nữ là loại công dân hạng nhì trong tư tưởng Phật Giáo và ngày nay một giáo sư Phật Giáo tây phương có thể, và rất có thể là một phụ nữ. Ngài còn tuyên bố "Nếu những lời dạy của Phật và những phát kiến hiện đại của khoa học mâu thuẫn nhau, thì những lời dạy đó phải ra đi" (If the words of the Buddha and the findings of modern science contradict each other, then the former have to go). Thử tưởng tượng có vị giáo hoàng công giáo hay một giáo chủ hồi giáo (ayatollah) nào nói một điều tương tự về Tân Ước hay kinh Coran như thế.

Năm 1959, khi Mao Trạch Đông được tin đức Đạt Lai Lạt Ma đã trốn thoát được, ông ta than thở "Nếu vậy thì chúng ta thua mất". Dĩ nhiên, Mao đã lầm, vì ngày nay, tràn ngập người Trung Hoa do chính sách di dân, Tây Tạng đã là một thuộc địa Trung Quốc khiến cho những cơ may giành lại độc lập càng ngày càng mờ nhạt đi. Nhưng không một nhân vật chính trị hay văn hóa nào có thể lôi kéo đến 13 ngàn người đến "FleetCenter (hiện nay ở Boston) - hoặc 50 ngàn đến Central Park ở New York , như ngài đã làm vào năm 1999. Sự tôn kính mà nền văn hóa Trung Hoa gợi nên  hàng thế kỷ đã và đang bị thay thế bởi một sự ngưỡng mộ toàn cầu đối với tôn giáo Tây Tạng.

Sự tồn tại của đức Đạt Lai Lạt Ma và tôn giáo của ngài gợi nên câu chuyện "David và Goliath" (4) trong thánh kinh, được cập nhật hóa và được viết lại bằng thứ ngôn ngữ văn-địa lý (geocultural) thời hiện đại. "Chiếc ná" (5) của đức Đạt Lai Lạt Ma trong cuộc tranh đấu không cân sức này đã và đang là thứ vũ khí hầu như chẳng mấy ai nghĩ đến: trong lúc chủ nghĩa cuồng tín tôn giáo (fundamentalist fanaticism) đang đốt cháy toàn thể các tôn giáo thành ngọn lửa, thì ngài tái định nghĩa tôn giáo là gì và cho nó một vai trò hữu ích, tích cực dùng cho thời đại bạo động của chúng ta"
(PTV Chuyển ngữ và chú thích) 

Ghi chú:  

Đầu tháng 9/2003, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thực hiện một chuyến du hành 20 ngày qua 5 thành phố Hoa Kỳ San Francisco, Bloomington, Washington D.C, Boston và New York. Ngài hội đàm với Tổng thống Bush, ngoại trưởng Colin Power, các nhà lập pháp quốc hội Hoa Kỳ và các nhà khoa học tại trường đại học Massachusetts Institute of Technology, tức M.I.T, Boston. Bài trên đây viết về ngài và Phật Giáo Hoa Kỳ nhân chuyến viếng thăm của ngài tại Boston, nguyên văn: "The Buddha of Suburbia - The Dalai Lama's American religion" đăng trên nhật báo Boston Globe số ra ngày 14/9/03. "The Buddha of suburbia" (1990) (tạm dịch là "Ông Bụt ngoại thành") là tựa đề của truyện dài đầu tay của Hanif Kureishi, tác giả Anh lai Pakistan, mô tả sự xung đột văn hóa, chủng tộc của một cuộc hôn nhân dị chủng trong một xã hội đa chủng. Người viết bài này,Jeffrey Paine, là tác giả của "Re-enchantment: Tibetan Bud dhism Comes to the West", phát hành mùa đông năm nay. Ông cũng là tác giả của hai tác phẩm khác: "Father India" và "The Poetry of Our World"

(1) Đế quốc Inca, một vương triều rộng lớn ở trong vùng núi Nam Mỹ, đuợc tạo dựng bởi Quechua, một dân tộc thổ dân Mỹ, vào thế kỷ 15. Đầu thế kỷ 16, đế quốc này bị người Tây Ban Nha chinh phục.
Aztecz, một nền văn hóa phát triển ở vùng thung lũng xứ Mễ Tây Cơ vào thế kỷ 15 và 16.

(2) Ý chỉ họ chẳng hề biết ngài là ai

(3) Nguyên văn: không nhấp nháy con mắt (without blinking an eye)

(4) David và Goliath là một câu chuyện nổi tiếng trong Cựu Ước, mô tả một cuộc  chiến đấu không cân sức giữa một chú bé chăn cừu nhỏ bé và người  chiến sĩ khổng lồ Goliath. Nhưng rốt cuộc, nhờ can đảm mưu mẹo và sự giúp sức của thiên thần, chú bé David đã chiến thắng. Chú bé về sau trở thành vua David và là tổ tiên của chúa Jesus.

(5) Chiếc ná bắn đá - slingshot - mà chú bé chăn cừu David đã dùng để chiến thằng người khổng lồ Goliath
 
 
 

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
TVHS