BẤT LẬP
VĂN TỰ
Không dùng
chữ nghĩa, ngôn ngữ.
Cư
sĩ Nhuận Bảo
(trích
đoạn của bài viết Vài suy nghĩ về tông chỉ của Bồ Ðề
Ðạt Ma )
Bất
lập văn tự ở đây chẳng có nghĩa là hoàn toàn không dụng
đến ngôn từ , chữ nghĩa như nhiều người thường nhận
lầm, hiểu lầm qua cách định nghĩa từng lời, từng chữ
một cách máy móc và giản đơn. Phải hiểu cách rốt ráo,
rằng Tông chỉ của Ngài Bồ-đề Ðạt-ma không ràng buộc
vào ngôn ngữ, chữ nghĩa hay triệt để y cứ vào kinh điển
theo thứ lớp mà truyền pháp, tức cũng có nghĩa Tông môn
này không ra ngoài chánh pháp mà hơn hai ngàn rưỡi năm trước
đức Phật đã truyền cho Sơ tổ Ấn độ Ma-ha Ca-Diêp....
ngay
giữa hội Linh sơn khi Phật đưa tay có cầm nhành sen vàng
giơ lên trước đại chúng, mà tất cả đều ngơ ngác, duy
chỉ có Ngài Ma-ha Ca-diếp đã nhìn Phật mỉm cười lãnh thọ
Tâm pháp, cũng là pháp thượng thừa tối vi diệu "Không pháp"
từ đức Phật. Phật đã ấn chứng việc truyền thừa Tâm
pháp cho Tổ Ca-diếp qua lời tuyên bố trước đại chúng:
‘ Ta có Chánh pháp Nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thật tướng
vô tướng, Pháp môn vi diệu, nay trao lại cho Ma-ha Ca-diếp.
Và
sau đó chính bài kệ truyền tâm ấn của Phật cho vị Tổ
đầu tiên của pháp môn này (Ma-ha Ca-diếp) đã nói lên tất
cả ý nghĩa của nó :
Pháp
bổn pháp vô pháp,
Vô
pháp pháp diệc pháp
Kim
phó vô pháp thời,
Pháp
pháp hà tằng pháp.
Dịch
:
Pháp
gốc pháp không pháp
Pháp
không pháp cũng pháp
Nay
hồi trao không pháp
Các
pháp đâu từng pháp.
Qua
sự việc Thế tôn tay đưa nhành sen trước đại chúng (thầm
trao Tâm pháp), chúng ta nào thấy Phật có thuyết pháp gì ở
đây đâu, thế mà ngài Ma-ha Ca-diếp ngay đây trực nhận yếu
chỉ.
Bỡi
đây là Tâm pháp, một pháp môn tối vi diệu của Phật giáo
mà Phật cũng như chư Tổ sau nầy thường gọi là Tối thượng
thừa pháp, dành để chỉ dạy cho những người căn trí cao,
phước sâu dày, và có duyên với Phật thừa vậy. Há chẳng
phải như thế sao, khi mà cả đại chúng trong hội Linh sơn
đều mờ mịt, duy chỉ có mỗi một đệ tử tối ưu của
Phật, đệ nhất đầu đà Ma-ha Ca-diếp mới lãnh hội được
yếu chỉ của pháp môn nầy mà thôi.
Tâm
pháp hay Không pháp, cũng còn gọi là Thiền tông, từ sau Phật,
tại chính đất Phật, đã được Tổ-Tổ trao truyền không
gián đoạn, mãi đến Tổ thứ hai mươi tám của Ấn độ,
ngài Bồ-đề Ðạt-ma, và Ngài cũng chính là Sơ tổ của Thiền
tông Trung hoa vậy.
Với
Tâm pháp, không dùng chữ nghĩa, ngôn từ chẳng có nghĩa là
không dùng gì cả mà có thể truyền pháp được, mà chữ
nghĩa, ngôn từ hay hành động của các Thiền sư vượt thoát
khỏi tri kiến nhị nguyên, không dính dấp, ràng buộc với
kinh điển, hoặc liên hệ trực tiếp với sự việc đang được
người đối diện đề cập đến theo vọng tâm phân biệt
của họ, hay nói chính xác, lối dùng ngôn từ hay hành động
có tính cách khai thị của chư Tổ thiền tông tuông ra từ
cảnh giới tự chứng giải thoát, vượt quá giới hạn của
thế trí để ngay đó phương tiện mở lối (khai thị) giúp
người đối diện bất giác ngoảnh đầu, chỉ sátnna toàn
bộ trí hiểu biết của tâm phân biệt cố hữu bị xóa sạch,
như "mây đen qua trăng lộ sáng", đưa người đối diện trực
diện Trung đạo, nhận rõ tự tánh (ngộ) để từ đây sống
chơn thật với chính mình, cũng là sống đồng bổn lai tự
tánh, cũng là Phật tánh (nhập) của mỗi người mà tu hành
để tự giải thoát. Ðến chỗ nầy, nói tu hành mà trong đây
thật chẳng có gì gọi là tu nếu đã tự sống chân thật
với chính nó, với tự thể tánh trọn thanh-tịnh, thì không
còn đối đãi. Ðến chỗ này ngôn ngữ chẳng thể với tới,
mà chỉ có thân chứng mới tự tri, như chư Tổ thường nói,
uống nước nóng lạnh tự biết vậy.
Nếu
diễn-tả được trạng thái tâm thể này qua ngôn từ , chữ
nghĩa thì Bồ-Ðề Ðạt-Ma đã có đề cập đến chữ Vô
Tâm mà ý nghĩa là chỉ thể tánh Không -Vô tướng -Vô tác
, Lục tổ Huệ Năng khi dùng pháp dạy người thì dụng chữ
Không tướng - Vô Niệm - Vô truï , gần đây nhất thì Sư
Ðại Lãn thể hiện nó qua tự thể và diệu dụng của tánh
bằng ba cụm từ Không tịch - Ðương Niệm - Vô phân biệt
, gồm lại thì một trong ba, phân ra thì ba trong một, nhưng
nói cho rốt ráo vẫn chỉ một, chỉ tùy ở chỗ động-dụng
của thể-tánh mà nói ba. Tuy-nhiên, dù dụng trăm lời ngàn
chữ có lẽ cũng không thật rõ-ràng bằng câu thốt trực
ngộ của Lục Tổ Huệ-Năng khi được Ngũ Tổ Hoằng-Nhẫn
giảng Kim-Cang Kinh, đến câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm"
Ngài đã bất giác thốt lên :
" Hà
kỳ Tự tánh bổn tự thanh-tịnh,
"
Hà kỳ Tự tánh bổn bất sanh diệt,
"
Hà kỳ Tự tánh bổn tự cụ túc,
"
Hà kỳ Tự tánh bổn vô động diêu,
"
Hà kỳ Tự tánh năng sanh vạn pháp."
Dịch:
Không
dè Tự tánh vốn tự thanh-tịnh,
Không
dè Tư tánh vốn chẳng sanh diệt,
Không
dè Tự tánh vốn tự tròn đầy,
Không
dè Tự tánh vốn không lay động,
Không
dè Tự tánh năng sanh các pháp.
Trong
pháp dạy người, tùy căn cơ duyên nghiệp cao thấp, nặng
nhẹ của từng người mà các vị Tổ thiền tông tự biết
phải có những câu hỏi hoặc đáp khác nhau, hoặc có khi ngậm
miệng chẳng nói năng, hoặc có lúc lại dùng hèo, dùng gậy,
cú , đấm, vv… để khai thị kẻ đối diện hốt nhiên tỏ
ngộ tự tánh.
Với
lý đạo, tất cả các pháp đều như huyễn hoá. Ngôn từ,
chữ nghĩa, dù là chữ nghĩa trong kinh điển đều cũng không
ra ngoài tướng ảo hóa nầy. Mà đã là tướng ảo hóa thì
làm sao có thể dùng nó để diễn tả, hay nói lên chỗ cùng
tột chơn thật của đạo được. Phải là tự chính mình
lìa được tất cả các tướng ảo hóa này mới mong lọt
vào cửa đạo. Thế nên Sơ tổ Bồ-đề Ðạt-ma khi nói "Bất
lập văn tự" chẳng có nghĩa là hoàn toàn không dùng văn tự,
mà có nghĩa là không dụng "Tướng" của văn tự, ngôn ngữ
để truyền pháp vậy. Không dùng tướng văn tự, cũng có
nghĩa là lìa văn tự, vượt thoát trên văn tự, không văn
tự. Không văn tự ở đây tức lìa các tướng, để ngay đó
tự không gì vướng mắc, trói buộc, tức là giải thoát vậy.
Ðây chính là chỗ hàng hàng châu ngọc tuông ra từ cảnh giới
giải thoát, nói thật nhiều mà thật chẳng có gì gọi là
nói, cũng như cái im lặng vi diệu như sấm, như sét của Phật
và chư Tổ, chẳng nói nhưng thật đã nói, đã chỉ quá rõ
ràng, trọn vẹn, tất cả đều phơi bày trước mắt chúng
ta. Ở chỗ này, trong Kim-cang kinh, Phật đã phơi bày tất cả
ruột gan, tha thiết chỉ bảo, nói xa nói gần với các đệ
tử của mình: muốn vào tri kiến Phật phải nghe, phải thấy,
phải hiểu "trên lời, vượt ý" khi Ngài nhắn nhủ : ‘ Suốt
bốn mươi chín năm thuyết pháp mà môi ta chưa hề động.’
Sự vi diệu và chân thật chính là chỗ này vậy.
Khi
dạy người, ngôn từ hay hành động vượt thoát của các
Ngài không ngoài mục đích trợ giúp phương tiện cho người
đối diện lìa kiến chấp, tự xóa tan toàn bộ vô minh (mà
con người tập nhiễm từ lâu đời lâu kiếp) mà họ đã
tự nhận lầm vì chấp ngã qua cái biết của lục căn, lục
thức. (Thật ra, cái biết đó chính là cái biết của vọng
tưởng, của sanh tử nhưng cũng ít ai dám quay lưng lại với
nó được, bỡi nặng chấp ngã) Một khi vô minh đã bị triệt
tiêu, ngay đó nhận rõ thật tánh của các pháp , cũng là lúc
tự mình khám phá được chính mình vậy.
Ðối
với Phật pháp, dù tu pháp môn nào đi nữa mà qua chữ nghĩa,
ngôn từ thì chúng cũng chỉ là phương tiện dẫn dắt, dò
dẫm, quan sát bên ngoài mà thôi, bỡi chúng (ngôn ngữ), thậm
chí kể cả tri thức cũng đều là sản phẩm hư giả (hữu-tướng)
của vọng tâm sanh diệt, nên chẳng thể thâm nhập, với tới
được chỗ thật tướng mà không tướng, vô sở đắc của
chơn tâm, cảnh giới của Thánh trí tự chứng, nhất như,
phi sanh diệt.
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân