ĐỨC PHẬT
VÀ CĂN BẢN NHÂN QUYỀN
Hòa
thượng Bửu Chơn
Hiện
nay trên thế giới đang cổ võ nhân quyền (quyền sống bình
đẳng của mọi dân tộc) hầu tránh khỏi nạn kỳ thị chủng
tộc trong một vài quốc gia.
Vì
thế mà Liên Hiệp Quốc đã vượt qua những nỗi khó khăn
để thành lập Luật Nhân Quyền quốc tế. Tuy đã có Luật
Nhân Quyền quốc tế, nhưng một vài quốc gia cũng vẫn còn
vấn đề kỳ thị chủng tộc.
Vấn
đề nhân quyền, trước kỷ nguyên Tây lịch đã được các
đại tư tưởng gia khởi xướng như Socrate (Hy lạp), Khổng
Phu Tử (Trung Hoa) và Ðức Phật (Ấn Ðộ). Những nhà tư tưởng
này chỉ có đức Phật là quan trọng và đáng chú ý hơn hết.
Lời giảng dạy của Ðức Phật cho nhân loại có liên quan
về tinh thần và ảnh hưởng cho xã hội. Ngài kêu gọi con
người nên vui thích trong sự phục vụ cho kẻ khác với tình
thương bao la của tất cả sinh mạng và nên chế ngự những
tham vọng phi pháp, phi nhân đạo.
Con
đường của Ðức Phật dạy có hai điều là tri thức và
tinh thần để đem đến mục tiêu đạt được bằng sự tự
thu thúc trong kỷ luật, đời sống được trong sáng và những
tư tưởng được cao cả,. Ngài khởi xướng sự công bằng
cho nhân loại. Vì vậy mà nhân quyền quốc tế càng nâng cao
thêm cho nền giáo lý của Ngài.
Trở
lại thời kỳ của Ðức Phật tại thế, cách đây 25 thế
kỷ đã qua, những người phụ nữ và hạng nô lệ của xã
hội Ấn không được nhìn nhận và đối xử tử tế. Chính
Ðức Phật đã phá tan cái hàng rào giai cấp ấy.
Ngài
đã cho hàng phụ nữ xuất gia theo phái Tỳ khưu Ni để thâu
ngắn sự khổ não trong vòng sanh tử luân hồi và được đắc
các qủa Thánh.
Sư
bình đẳng trong xã hội cũng như chánh trị giữa nam và nữ
trong các quốc gia cũng không có chi lấy làm lạ như bà Indira
Gandhi làm Thủ tướng xứ Ấn Ðộ, bà Bandananaraike làm thủ
tướng xứ Sri Lanka, bà Elizabeth, nữ hoàng nước Anh, và bà
Trưng, bà Triệu cũng một thời kỳ làm nữ vương Việt Nam.
Ðức
Phật không phân biệt giữa người và người, vì mọi người
đều bình đẳng trong kiến thức của Ngài và không có một
nhân vật nào mà không có ý nghĩa, vì Ngài hướng dẫn họ
trên con đường đạo đức. Từ người hành khất cho đến
bậc Ðế Vương, đều ở trong tình thương vằ lòng trắc
ẩn của Ngài. Trong thời kỳ của Ngài tại Ấn Ðộ, họ
rất kỳ thị các chủng tộc nhưng Ngài cách mạng chống lại
sự bất công ấy. Ngài hoan hỷ thu nhận tất cả những hạng
người hoặc chủng tộc gọi là thấp hèn nhất trong xã hội
vào hàng Tăng già. Chẳng hạn như Ngài nhận cho xuất gia ông
Sumita là người mà xã hội đã ruồng bỏ, ông Sati là con
người thợ làm chài lưới, cô Ambabali là một cô kỹ nữ
giang hồ, cô Punnà và Punkà là người tôi mọi.
Có
vài vị Tăng trong dòng tộc quý phái cho rằng Ðức Phật đã
lật đổ chế độ quý phái,. Nhân dịp ấy Ðức Phật nói
rằng: "Con người không phải vì saự sanh mà được cao thượng,
không phải sự sanh mà con người trở nên thấp hèn. Con người
được cao thượng là bởi hành vi của mình, con người bị
thấp hèn cũng bởi hành vi của mình".
Hơn
nữa, giáo lý của Ngài được ví như bể cả. Dòng nước
của các con sông như Gangà, Sarabhù, Yamunà, Màhì khi chảy
vào bể cả rồi thì mất hẳn tên riêng của mình, chỉ còn
được gọi là nước bể. Dầu cho bốn hạng người trong
xã hội như vua, Bà la môn, thương gia và nô lệ, một khi đã
xuất gia vào Phật giáo rồi thì cũng bỏ hẳn dòng giống
riêng biệt của mình mà chỉ gọi là dòng Thích Ca tử (Sakya
putta) trong Phật pháp mà thôi.
Hơn
nữa, trong sự kỳ thị chủng tộc ở Trung Ấn Ðộ thời
bấy giờ, dòng quý phái không bao giờ ăn uống chung hoặc
tự tay lãnh vật chi của phái thấp hèn tôi mọi. Nhưng chỉ
có người trong Phật pháp mới phá bỏ sự cố chấp ấy.
Như Ðại đức Ananda thuộc dòng quý phái và là một đệ
tử hầu cận của Ðức Phật, một hôm đại đức theo Ðức
Phật trong đường hoằng pháp, dọc đường Ðại đức khát
nước.
Ði
ngang qua giếng nước trong một làng nọ, ngài thấy cô Pakati
là một thiếu nữ của dòng nô lệ đang xách nước. Ðại
đức hỏi xin nước uống, cô gái ấy do dự và trả lời
rằng: "Thưa ngài là dòng quý phái. Tôi là kẻ thấp hèn nô
lệ không dám dâng nước cho Ngài đâu!"
Ðại
đức Ananda trã lời rằng "Này em gái, tôi không cần đến
dòng giống, nhưng chỉ cần dùng đến nước uống mà thôi".
Cô gái ấy lấy làm vui thích và đem nước lại dâng.
Như
thế thì trong Phật giáo không có sự kỳ thị chủng tộc.
Ðức Phật lúc nào cũng bác bỏ vấn đề kỳ thị chủng
tộc trong mọi hình thức. Vì vậy mà trong giáo phái của Ngài,
người xuất gia sau, dầu cho là dòng vua cũng phải lễ bái
kính trọng người đã xuất gia trước mình cho dù người
ấy thuộc dòng nô lệ. Ðó là ý định của Ngài muốn phá
tan cái tâm ngã mạn của chúng sanh vậy.
Ðức
Phật luôn luôn thành lập một căn bản công bằng bác ái
bằng những cách nêu lên những gương tốt. Như một hôm,
có một vị Tỳ Khưu bị bệnh ghẻ lở đầy mình, mùi hôi
thúi thấy rất ghê tởm, không ai muốn lại gần ông. Khi Ðức
Phật đi ngang qua biết được chuyện ấy, Ngài bèn vào chỗ
cư ngụ của vị Tỳ khưu bất hạnh này. Ngài bảo đem nước
nóng lại, chính Ngài chăm sóc rửa ráy cho vị Tỳ khưu ấy,
rồi tuyên bố rằng: "Người nào mà phụng sự cho bệnh nhân,
người ấy gọi là phụng sự cho Như Lai vậy".
Sự
tự do tín ngưỡng là một đức tính cao cả mà Ðức Phật
thường giảng dạy là phải có độ lượng khoan hồng từ
bi và không có xung đột lẫn nhau. Ngài còn dạy con người
không nên khinh bỉ hoặc nói xấu đến các tôn giáo khác.
Lời
huấn từ này được vua A Dục đem ra áp dụnng trong suốt
thời kỳ ngài trị vì xứ Ấn Ðộ. Ngài cho khắc huấn từ
và mệnh lệnh trong mọi nơi như vầy: "Tất cả các đạo
gìáo đều phải được tôn trọng. Hành vi như vậy là đã
tán dương đạo giáo của mình và đồng thời giúp đỡ những
người của tôn giáo khác".
Ðức
Phật luôn luôn kêu gọi sự tự do giải thoát của nhân loại.
Con người không nên tự ràng buộc dưới một thần quyền
hay một nhân vật tối thượng nào và Ngài khuyên con người
không nên vội vàng chấp nhận giáo lý nếu chính tự mình
không quán triệt được lý luận rõ rệt của tôn giáo ấy.
Nên Ngài có thuyết một câu kệ rằng:
"Attadhipà
attasaranà annasaranà dhamma dhipà dhamma saranà". Nghĩa là: "Tự
mình hãy tìm ánh sáng, tự mình hãy nương nhờ lấy, không
nên ỷ lại và nương nhờ kẻ khác".
Nên
tìm ánh sáng và nương nhờ nơi chân lý cho sự giải thoát
của mình.
Trích
Tuần báo Giác Ngộ, số 187, 28-08-2003
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân