MỘT NGƯỜI
BẠN
Truyện
ngắn của Hoàng Sơn Long
Người
ta thường đánh dấu thời gian bằng những cái mốc : năm,
mười năm hay nói một cách thi thơ : “Mười lăm năm thấm
thoát có ra gì.” của Dương Khuê. Phan Khôi ba mươi năm trong
“Tình Già”. Thời gian đã làm con người thay đổi, một
việc rất ư tình cờ tôi đã gặp lại một người bạn sau
ba mươi bảy năm xa cách. Thật tình tôi không nhận ra anh,
nếu người bạn của vợ tôi không giới thiệu tên anh. Trên
những nếp nhăn của khuôn mặt, tôi đã bắt gặp một nụ
cười và tôi nhớ lại anh. Vào giữa thập niên 1960 tôi và
anh cùng thụ huấn trong một quân trường chuyên môn, dáng
dấp thư sinh của anh làm tôi cảm mến và chúng tôi chơi thân
với nhau. Anh lớn hơn tôi hai tuổi, nhưng anh lõi đời, nếu
nhìn bề ngoài để đánh giá con người của anh người ta
sẽ nhầm lẫn, cái bề ngoài có vẻ như một thư sinh, nhưng
anh thực sự là một người chững chạc, anh biết nhiều chuyện
mà những người bạn cùng trang lứa khó có ai qua được anh.
Bất cứ một vấn đề gì, anh cũng có những nhận xét tinh
tế và sâu sắc, điều nầy cho thấy anh có nhiều kiến thức,
nhiều kinh nghiệm ở đời, nhất là vấn đề tình ái.
Anh
có khuôn mặt dễ cảm, đôi môi mỏng nhưng rõ nét, miệng
hơi rộng. Khoa tướng số đông phương thường bảo: “đàn
ông miệng rộng thì sang”, điều nầy có thể đúng với
anh. Anh có một nụ cười rạng rỡ, điểm thêm lúng đồng
tiền phơi bày hai hàm răng trắng bóng. Trên khuôn mặt anh
có những nét của mỹ nhân, nhưng vóc dáng của anh đầy nam
tính, cao 1 mét 6 nặng gần 60 kí-lô có thể nói anh có một
thân hình cân xứng, hơi dong dỏng cao. Anh ăn nói từ tốn
chậm rãi, câu nào ra câu đó. Con người anh tầm thước nhưng
không có bóng dáng võ biền, trái lại anh có phong thái ung
dung hoãn đãi. Điểm nổi bật trên khuôn mặt anh không phải
má lúng đồng tiền mà chính ở đôi mắt lúc nào cũng tinh
anh, biểu lộ lòng tư tin. Một cách tổng quát anh là một
thanh niên trên trung bình nếu không muốn nói anh “đẹp trai”.
Tôi
chơi thân với anh một phần cũng qua vóc dáng của anh, ít
ra mình cũng có người bạn bảnh trai. Thật ra con người anh
có nhiều tính dễ mến, anh rất dễ chịu, luôn vui vẻ, không
lỗi phải với mọi người, hết lòng với bạn bè, giao tiếp
sòng phẳng. Tôi thích anh ngoài tính tình cởi mở, anh còn
là một người rộng rãi và “chịu chơi”. Chính cái chơi
chịu mà mọi người đều quí trọng anh. Sống trong tập thể
cái không thỏa mái không phải kỷ luật quân đội, mà chính
là cái tánh nịnh bợ, tâu hót với cấp trên, hoặc tỏ vẻ
ta đây là một người quan trọng.
Trong
khóa học, có lẽ anh là người viết thư tình nhiều nhất,
những lúc vui, anh đã đưa cho tôi đọc và yêu cầu cho ý
kiến. Tôi có hỏi anh sao có nhiều bạn gái viết thư vậy.
Anh bảo trên mục tìm bạn chớ đâu. Anh như một con bướm
bay lượn từ đóa hoa nầy sang cánh hoa khác. Chủ trương của
anh là không bao giờ gắn bó với một ai lâu dài. Tôi bảo
anh “đểu”. Anh trả lời dứt khoát “không”. Anh nói với
tôi trước đi quen biết và đi chơi với nhau anh đã giao ước
rõ ràng. Chúng ta là bạn, là nhân tình, “chứ không phải
vợ chồng mà tính việc thủy chung.” Chịu thì hò hẹn chung
vui bằng không thì thôi gặp nhau. Thế mới kỳ, cái đòn tâm
lý nầy lại có kết quả. Các em thường cho mình đẹp, tự
hào về sức quyến rũ của mình. con trai lắm kẻ lụy tình,
không ngờ anh bạn tôi có nhiều đòn phép nên trên tình trường
anh luôn là người chủ động.
Tài
tán gái của anh thuộc vào hàng cao thủ. Trong một chuyến
công tác miền Trung. Thành phố Qui Nhơn, một thị trấn miền
ven biển tuy không thơ mộng bằng Nha Trang, nhưng là một thành
phố đẹp và yên tịnh. Chúng tôi được chánh quyền địa
phương cấp cho một phòng ngủ trong thị trấn, hai người
vào một phòng. Toán chúng tôi có sáu mạng. Tôi chơi thân
với anh nên chúng tôi chung phòng. Công việc của chúng tôi
rất nhẹ nhàng không phải cầm súng đạn gì cả, chỉ giúp
cho thị trấn tổ chức bầu cử và quan sát cuộc bầu cử.
Cơm ngày hai bữa ăn xong lấy phiếu đem về cho Quận trả
tiền. Tiền cà phê cà pháo tự túc. Ngang qua đường đối
diện với khách sạn của chúng tôi trú ngụ là một nhà hàng
tửu lầu. Để tiện việc sau giờ làm việc, chúng tôi thường
sang đó dùng cơm. Nhà hàng nầy thuộc loại trung bình lại
được sự giới thiệu của Quận, hơn nữa chúng tôi làm
công tác chứ không phải thượng khách để nhận sự biệt
đãi của chánh quyền địa phương. Vấn đề ăn ở cũng có
mức độ, thời gian công tác chỉ có ba tuần lễ mà thôi.
Điểm
đặc biệt của quán nầy không phải là đồ ăn ngon, mà chính
là cô con gái của ông chủ quán. Chúng tôi sáu mạng đứa
nào cũng thả hoa bắt bướm, rà tới rà lui, lân la làm quen.
Năm ấy cô trạc mười tám, cứng cạy lắm cũng chừng hai
mươi là cùng, nhan sắc đậm đà, nước da bánh mật, khuôn
mặt trái xoan nổi bật trên mái tóc thề, cốt cách thanh tao
lại biết ăn diện. Thân hình cân đối, sự nẩy nở của
một thiếu nữ mười tám với những đường cong tuyệt mỹ
mà tạo hóa đã dành cho những cô gái ở tuổi dậy thì. Cô
bé tươi mát như quả táo, mòng mọng như trái nho vừa chín
tới. Đôi mắt to đen lai lái, ướt rượt, cái liếc mắt
của cô như mời gọi. Cô có sống mũi dọc dừa ngự trị
trên đôi môi nũng nịu. Chúng tôi sáu mạng toàn là những
thằng độc thân, mỗi khi gặp các cô gái thì y như là những
chàng ngự lâm quân xông vào chiến trận đánh chiếm mục
tiêu. Nhưng tất cả đều thất bại không ai lọt vào cắp
mắt xanh của cô, ngoại trừ anh bạn của tôi. Anh chẳng những
loại chúng tôi khỏi vòng chiến, mà còn đánh ngã hầu hết
các chàng trai địa phương.
Tôi
chơi thân và luôn đi bên cạnh anh, nhưng không hiểu anh đã
dùng phương cách gì để lấy trái tim của người đẹp. Những
dòng chữ trên lá thư tình ướt át, hay là lời ru dịu mật
đã rót vào tai em, cũng có thể bộ gió “bô trai” của anh
không chừng. Nhưng khi trở lại quân trường là anh quên cô
ta ngay. Người ta thường nói : “Mèo lành không ở mả. Ả
lành không ở hàng cơm” nhưng trường hợp của cô bé thì
lại khác. Cô màu mè với những chàng thanh niên đến tán
tỉnh cô, nhưng với anh bạn của tôi thì cô thật tình. Cô
đã đánh xe đò xuôi nam vào tận quân trường để thăm anh.
Đó lần cuối cùng tôi gặp lại cô. Còn anh bạn của tôi
như loại bướm đa tình bồ bịp lung tung, có thể nói trái
tim của anh có quá nhiều ngăn trên cả hai tâm nhỉ và tâm
thất chăng?
Mãn
khóa ra trường chúng tôi mỗi người một phương. Anh đi vùng
II, tôi về vùng IV từ đó mãi về sau chúng tôi không còn
gặp nhau, nhưng hình ảnh một người bạn vẫn in sâu vào
ký ức của tôi. Chuyện gặp lại anh, tôi không thể nào ngờ
được, dường như một việc đưa đẩy tình cờ mà thôi.
Người mang anh đến trước của nhà tôi cũng không biết chúng
tôi đã quen nhau từ trước. Tôi mời anh vào nhà và chúng
tôi trao đổi với nhau những tin tức từ khi ra trường cho
đến nay. Trông anh bây giờ đã khác xưa rất nhiều thời
gian trôi qua đã lão hóa trên thân thể con người, tuy nhiên
nhìn anh vẫn thấy một vẻ đẹp lão. Anh không có cái bụng
phệ như nhiều người lớn tuổi, tướng đi vẫn còn cứng
cỏi nhanh nhẹn, trên gương mặt chưa thấy những dấu chân
chim
Tôi
được biết anh sang Mỹ từ ngày di tản năm 75. Anh nói năm
1972 anh được đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ sáu tháng và sau đó
anh về Sài-Gòn làm việc tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân cho đến
ngày mất nước. Anh là một người có nhiều may mắn trong
khi khói lửa chiến tranh mịt mù trên chiến trường thì anh
mặc quân phục nhưng làm việc văn phòng. Bạn bè anh đứa
ngồi tù cải tạo, đứa bỏ mạng ở sa trường. Bên kia nửa
vòng trái đất anh nhìn về quê hương với một nỗi xót xa.
Những năm đầu đến Mỹ thật vất vả và bơ vơ, anh đã
làm nhiều việc như rửa chén cho nhà hàng, khuân vác lao dọn
văn phòng nói chung là các công việc nặng nhọc, không có
thì giờ để trau dồi học vấn. Anh cư ngụ trong vùng Đông
Bắc Cali gần với thủ phủ Sacramento, mãi đến năm 1979 vùng
Silicon Valley kỹ nghệ điện tử phát triển đang cần nhiều
nhân công nên anh di chuyển về San Jose để xin việc làm. Một
điều may mắn hiếm có trên đất nước nầy là anh làm việc
cho một hãng trên 20 năm và chưa bao giờ ông chủ cho anh nghỉ
việc, thành ra cái mùi vị mất việc làm anh chưa nếm được
nhưng anh cũng cảm thấy chua cay lắm.
Chúng
tôi trao đổi số điện thoại, anh cũng cho tôi địa chỉ
nhà của anh, đồng thời mời vợ chồng chúng tôi nếu có
dịp thuận tiện ghé chơi. Điều làm tôi ngạc nhiên nhà anh
cách nhà tôi chỉ có sáu ngọn đèn xanh đỏ, cùng trên một
con đường nhưng có hai tên khác nhau, thế mà chúng tôi chưa
bao giờ có dịp nhận ra nhau. Nó không xa xôi như người ở
đầu sông Tương kẻ cuối sông. Có thể chúng tôi đã gặp
nhau đâu đó trong shopping hay trên những của hàng thực phẩm
Á đông nhưng chưa có cơ hội đối diện, cũng như trong phim
kiếm hiệp Trung Quốc thường nói : “Chưa đánh đấm nhau
thì chưa có dịp làm quen”. Tôi có nhiều vấn đề để hỏi
anh, nhưng có đàn bà ở đó nên không thuận tiện. Tội hẹn
anh cuối tuần tôi sẽ đến thăm anh. Từ nhà tôi đến nhà
anh không quá hai miles, lên xe nổ máy chưa đầy năm phút là
tôi có thể đến nhà của anh ngay.
Cuối
tuần hôm đó tôi gọi điện thoại báo cho biết là tôi sẽ
đến thăm anh. Lần theo địa chỉ tôi tìm thấy nhà anh. Trong
đầu của tôi cứ mường tượng nhà anh phải lớn rộng sang
trọng bởi vì anh đã an cư lâu ngày rồi. Thực tế ít khi
trùng hợp với sự tưởng tượng, nhà anh không rộng lắm
chỉ có hai phòng ngủ khiêm nhường trong một khu town house.
Trước của nhà anh có treo một bảng gỗ nhỏ khắc mấy chữ
“Đoài Phương Trang” làm tôi hết sức ngạc nhiên, trong
đầu tôi suy nghĩ thằng cha nầy sao lập dị thế, trên xứ
sở nầy làm gì có trang với trại ở một cái khu nhỏ xíu
và thị tứ như vầy.
Bước
vào nhà anh mới thấy sự ngăn nắp và sạch sẽ, tầng dưới
là phòng ăn, nhà bếp và phòng khách, trong nhà không có một
chút mùi vị nấu nướng chiên xào như nhiều nhà khác trong
vùng. Bên phòng khách ngoài bộ ghế salon còn có một kệ sách
và hai chậu Bonsai, hai chậu lan đang trổ bông, bên phòng ăn
cũng có một chậu Bonsai và một chậu hoa lan. Cách trưng bày
trong nhà trông rất mỹ thuật. Đối diện với kệ sách có
hai bức thư họa, trên tường nhà anh treo vài bức hình
chụp từ những thắng cảnh . Anh mời tôi lên lầu, từng
trên có hai phòng ngủ, một phòng lớn dành cho anh, phòng cạnh
bên nhỏ hơn thường dùng cho bạn bè hay khách khứa như thông
lệ, hoặc làm kinh tế thì có thể cho người khác chia phòng,
nhưng anh bố trí căn phòng đó rất đặc biệt. Anh gọi là
phòng tịnh tâm. Trong phòng ngoài kệ thờ không có một vật
dụng gì khác, trên bàn thờ có bức tượng Phật Thích Ca
nhỏ độ gang tay bằng đá, và một lọ nhỏ bằng đất nung
dùng để đựng tro tàn của nhang trầm hương, bước vào phòng
tôi cảm thấy một mùi vị rất thanh thoát.
Sau
khi quan sát bên trong, anh dẫn tôi ra phía ngoài nhà, vì là
khu town house nên sân sau không có nhiều đất, anh chỉ trồng
mấy bụi sả, một ít rau thơm, rau húng và vài đóa hoa hồng.
Tuy nhiên chung quanh nhà anh toàn là nhưng chậu hoa quỳnh, những
chậu lan đang chờ trổ hoa. Anh đã đặt tên cho những chậu
hoa nầy bằng những cái tên rất thơ mộng. Hoa lan thì tôi
đã thấy nhiều, sang đây người Việt thường chơi Lan, nhưng
Quỳnh thì hiếm người chơi. Hoa Quỳnh thường nở vào nữa
đêm và tàn vào sáng hôm sau, nhưng ở đây có nhiều loại
hoa Quỳnh vẫn giữ được vẻ đẹp trong nhiều ngày, màu
sắc cũng rực rỡ, đặc biệt cánh hoa trông như vải lụa.
Trở
vào phòng khách, anh mời tôi uống trà, trong khi anh đun nước
để pha trà tôi có thời gian xem kệ sách của anh, sách của
anh gồm một số thuộc loại nghiên cứu khoa học, sách dạy
trồng cây, sách Phật học, sách về văn học v..v.. Anh pha
trà một cách từ tốn và anh mời tôi uống. Nhâm nhi tách
trà tôi bảo anh đã thay đổi quá nhiều, từ một con người
hào hoa năng động bây giờ anh sống gần như người ẩn cư,
sự thay đổi nầy bắt đầu lúc nào? Anh bảo :
- Chuyện
nầy dài dòng lắm kể cho bồ nghe không hết đâu.
-
Anh
tóm lược : năm 75 sang đây bơ vơ cô độc, chỗ anh cư ngụ
không có nhiều người Việt. Anh hối tiếc ngày xưa không
lấy vợ sớm, bây giờ phải chịu cảnh độc thân. Những
năm đầu lo ổn định cuộc sống đâu có thì giờ đi làm
quen hay tìm bạn gái. Mãi cho đến năm 1985 nghĩa là mười
năm sau người Việt đến định cư trong vùng nầy ngày càng
đông. Tại sở làm anh có quen một phụ nữ theo gia đình vượt
biển, nhưng không may cho nàng trên đường tìm tự do, chồng
và con đã chết trên biển Đông. Ngay bản thân của nàng cũng
bị bọn hải tặc hành hạ. Trên đảo tị nạn nàng đã bị
khủng hoảng tinh thần trong nhiều ngày tháng, nhưng nhờ vào
sự khuyên giải của bà con, cũng như những các vị thầy
tu, từ từ tâm thần nàng quân bình trở lại và nàng đã
đến định cư ở San Jose, rồi đi làm và gặp anh. Cảm thông
hoàn cảnh của nàng. Trái tim anh bắt đầu rung động thật
sự . Anh có một số tiền đã dành dụm từ lâu, nên bỏ
ra mua một căn nhà ba phòng gần chỗ làm và anh quyết định
chung sống với nàng. Cả hai tuy không tổ chức đám cưới
linh đình, nhưng có mời một số bạn bè cùng chung sở làm
để chia vui.
Thời
gian qua thật nhanh, sáu năm trường chúng tôi sống với nhau
thật hạnh phúc, nhưng Ông Trời quả thật trớ trêu đã chia
cách chúng tôi. Một chứng bệnh ngặt nghèo đến với nàng
và tử thần đã cướp đi người thân yêu nhất của anh.
Trong khi anh bỏ hết tâm trí, cũng như thời gian để yêu thong,
để bù đắp những thiệt thòi mà nàng đã cưu mang. Cuối
năm 1991 anh bán căn nhà trên có dư thêm ít tiền và mua căn
nhà nầy, tuy nhỏ hơn nhưng gọn gàng cho anh. Căn nhà cũ có
quá nhiều kỷ niệm anh không muốn giữ nữa. Chính biến cố
trên đã làm anh thay đổi trong cách sống và cách suy nghĩ.
Anh bắt đầu nghiên cứu Phập pháp, anh đọc những sách nói
về Thiền. Anh thấy Thiền có khả năng hóa giải đời sống
của anh vì vậy anh đã thực tập đã áp dụng Thiền trong
cuộc sống hiện tại. Anh chưa muốn xuất gia, vì xuất gia
phải thọ thêm ân đàn na thí chủ, trong khi anh còn khả năng
làm việc để giúp ích nhân quần xã hội. Đức Phật đã
dạy : “Phàm làm con người ai cũng chịu bốn điều ân lớn.
Đó là ân Tổ tiên, cha mẹ, ân Đất nước, ân Tam Bảo, và
ân Đồng bào, nhân loại.” Bây giờ anh đã trường trai và
tiếp nhận năm giới cấm của người Phật tử. Tu ở chùa
hay tu tại gia cũng giống nhau thôi, người xuất gia khác người
thường ở bộ áo bên ngoài. Cứu cánh người tu hành là hai
chữ “Giác Ngộ”.
Anh
có một đời sống như một người tu sĩ, phong thái anh thoát
trần một cách rõ rệt. Về phương diện vật chất anh không
phải lo lắng, mặc dù anh đã xin thôi việc hơn năm nay theo
kế hoạch cắt giảm nhân viên của hãng cho những người
làm việc từ 15 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa. Hiện nay anh được
lãnh 70% số lương lúc làm việc, có bảo hiểm sức khỏe
đầy đủ. Số tiền nầy hãng trả cho anh đến khi anh hưu
trí thật sự ở tuổi 65 như đã qui định của Bộ Lao Động.
Bây giờ anh lo săn sóc đời sống tinh thần và làm một ít
việc từ thiện. Anh cho tôi biết thời khóa biểu trong một
ngày của anh như sau: 6 giờ sáng thức dậy làm vệ sinh cá
nhân xong vào phòng tịnh tâm lễ Phật, tọa thiền. Tư 7giờ
30 đến 8 giờ điểm tâm sáng. Sau giờ điểm tâm làm việc
chung quanh nhà như tưới hoa, chăm sóc cây kiểng. 10 giờ đi
tập thể dục độ hơn một tiếng, 12 giờ ăn trưa. Nghỉ
ngơi đọc sánh báo, buổi chiều lại chăm sóc cây và chuẩn
bị cơm chiều. Anh chọn lựa thực phẩm và tự nấu ăn lấy,
thường thì nấu một lần dùng cho hai ngày. Cơm chiều xong
dọn dẹp lau chùi nhà của, xem tin tức trên truyền hình. 9
giờ tối lại tọa thiền độ 30 hoặc 45 phút xong vào phòng
ngủ đọc vài trang sách rồi đi ngủ.
Cuộc
sống của anh một cách khách quan mà nói thì quá lý tưởng,
một người chỉ cần một phần nhỏ trong đời sống của
anh thì đã hạnh phúc rồi. Trong chỗ thân tình anh tiết lộ
một ít sở đắc của anh cho tôi biết chứ không có ý khoe
khoang. Từ ngày anh tiếp xúc với Thiền, anh không thấy lo
âu hay buồn rầu nữa. Anh cãm nhận đời sống nầy hết sức
kỳ diệu. Hạnh phúc con người không phải là sự hưởng
thụ vật chất. Quan điểm của anh là “ăn no mặc ấm”
chứ không phải “ăn ngon mặc đẹp” Cái ngon cái đẹp phải
ở trong tinh thần. Chính nguồn sống đạo đã thăng hoa cuộc
sống, và ngay trên bản thân anh đã chiêm nghiệm được. Bất
cứ không gian và thời gian nào chúng ta cũng có thể thực
tập một đời sống tỉnh thức. Người ta có thể Thiền
trong mọi tư thế đi, đứng, năm, hay ngồi..v.v.. Người ta
có thể Thiền qua ngọn bút lông trong khi sáng tạo một bức
thư họa, người ta Thiền qua cách uống trà, người ta cũng
có thể thực tập Thiền qua cách chăm bón và săn sóc hoa kiểng.
Anh
đã nói với tôi : “ Con người mới sinh ra không có gì hết,
khi chết đi cũng không mang theo được gì. Như vậy tranh danh
đoạt lợi, muốn mọi người phục tùng mình để làm cái
gì? Đó không phải là lòng tham hay sao?”. Điều mong ước
duy nhất của anh là một khi anh nhắm mắt lìa đời trong êm
thấm, xin những cơn đau chết người đừng đến với anh.
Anh là người biết chuẩn bị trước cho một việc ra đi vĩnh
viễn. Phật pháp đã giúp cho anh có một cái nhìn như thật,
thấy được mọi sự đều vô thường và vô ngã. Chính cái
thấy nầy đã giúp anh vượt thoát mọi tham đắm.
Trong khi tiếp chuyện với anh, tôi thấy dưới bàn có nghiên
mực và những cây bút lông dùng viết chữ Hán. Với óc tò
mò, tôi hỏi anh :
- Ông sắm những thứ nầy để làm gì? Tính làm ông Đồ
hay sao?
Anh mỉm cười và giải thích với tôi
- Tập viết Thư Pháp
Cố ý trêu anh tôi hỏi :
- Sao có tác phẩm nào chưa cho mình xem có được không?
Anh từ tốn nói :
- Đang tập luyện nên chưa có cái nào ra hồn cả.
Như gãi đúng chỗ ngứa, anh bắt đầu giải thích với tôi
về bộ môn thư pháp. Thư pháp là một nghệ thuật mà người
thực hiện đã thả hồn mình vào những nét chữ. Rèn luyện
thư pháp là cách tốt nhất để rèn luyện nhân cách. Dấu
mực tuy đơn sơ nhưng người ta có thể ẩn tàng một đạo
lý sâu sắc. Anh nói với tôi về cách sử dụng cây bút lông.
Rất tiếc anh đã lớn tuổi và chưa bao giờ dùng đến nó,
bây giờ tập viết thật là khó khăn. Anh hỏi tôi có bao giờ
nghe câu nói như thế nầy chưa : “Anh hùng khí đoản. Mã
táo mao trường” Tôi lắc đầu
Anh
nói đây là lời phê bình để chỉ một bức thư pháp tầm
thường. “Anh hùng khí đoản” có nghĩa là khi khởi bút
thì có một chút khí thế, nhưng khi thu bút thì qua loa xong
chuyện. Như vậy người ta mới gọi : “Khí bất tùng tâm”
Còn “Mã táo mao trường” để chỉ công lực không đầy
đủ như lúc trăng lên tròn thì không tròn, lúc phải bộc
phát thì lại để xuống, ngang, ngắn, dọc dài, gút bớt mất
điệu vì vậy mới gọi ngựa bệnh táo bón có lông dài.
Anh
có một lối sống hoàn toàn khác với những người về hưu.
Thông thường một ít người tạo dựng được chút sự nghiệp
nhưng lại thích phô trương, một số người khác lo ăn chơi
hưởng lạc như sợ thời gian không còn nữa. Cũng có người
vì không con cháu nên gởi mình vào chốn Thiền môn hay tu viện
hoặc sống âm thầm trong các nhà dưỡng lão. Tôi thật mến
phục anh, lúc tuổi thanh xuân sống hào hoa phong nhã, nhưng
vẫn chừng mực. Khi ở tuổi xế chiều biết tìm những thú
vui thanh tao, nhìn những chậu lan, chậu quỳnh của anh xanh
tươi mơn mởn, cho thấy anh đã bỏ ra biết bao nhiêu thời
giờ để chăm bón, xem chúng như người bạn, đôi khi nâng
niu chúng như một đứa con. Niềm hạnh phúc nho nhỏ của anh
là nhìn những chậu Lan, những cây Quỳnh khai hoa.
Hoàng
Sơn Long
Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 10-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 327 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân