HỒ XUÂN
HƯƠNG VÀ PHẬT GIÁO
Phạm
Trọng Chánh
Ðiều
nghịch lý trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là
Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có vào chùa tu một
thời gian, nhưng trong thơ lại "ghét" sư đến mức thậm tệ
gọi sư là "lũ trọc đầu", "phúc đức như ông được mấy
bồ", "hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?", sư "chái gió cho nên
phải lộn lèo". Thậm chí gán cho Hang Thánh hóa chùa Thầy,
nơi thánh tích của Phật Giáo Việt Nam, nơi Thiền sư Từ
Ðạo Hạnh cởi bỏ nhục thân để đầu thai thành Vua Lý
Thần Tông là cái dương vật: "một đố dương ra biết mấy
ngoàm", "một sư đầu trọc ngồi khua mỏ, hai tiểu lưng tròn
đứng giữa am".
Một
Hồ Xuân Hương mắng bọn dốt đến cửa thiền, đề thơ
dở làm dơ bẩn cửa chùa, "muốn sống đem vôi quét trả đền",
mà lại viết những câu thơ tối tăm, dùng chữ gượng ép:
"đáo nơi neo", "trưa trật nào người móc kẻ rêu", Xuân Hương
đến chùa mà uống "rượu lưng hồ", một trong năm giới cấm
nhà Phật.
Những
câu thơ bẩn thỉu hạ cấp, gượng ép, dốt đặc cán mai
về Phật Giáo, chỉ biết đả kích đạo Phật qua bề ngoài:
sư đầu trọc lóc, áo không tà, lần tràng hạt "đếm lại
đeo", giọng hi ha... hay kết án những điều vô chứng cớ:
"vãi núp sau lưng sáu bảy bà", sư mà có đến sáu bảy bà
vợ mà làng xóm, đồng bào Phật tử để yên cho sao?
Những
bài thơ tệ hại ấy, những câu thơ nguyên tác bị sửa đổi,
được gán cho Hồ Xuân Hương từ một thế kỷ nay, thậm
chí các nhà văn học tiếng tăm cũng không dám suy xét nguồn
gốc từ đâu, không ai dám đụng đến, thậm chí còn say sưa
ca tụng như những câu thơ "cách mạng" giải phóng phụ nữ,
đập đổ phong kiến?
Những
khám phá các văn bản thơ Hồ Xuân Hương của Giáo sư Hoàng
Xuân Hãn, Giáo sư Trần Văn Giáp, Học giả Trần Thanh Mại...
thơ văn Hồ Xuân Hương ở Paris và Việt Nam đã đánh đổ
những bài thơ ngụy tạo gán cho Hồ Xuân Hương nhằm đánh
đổ Phật Giáo mới được sáng tác vào thời Pháp thuộc,
cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20: Hang Thánh hóa, Chùa Quán
Sứ, Sư bị làng đuổi, Vịnh sư, Vịnh Ni sư, Chùa xưa.
Trái
với các bài thơ ngụy tạo gán cho Hồ Xuân Hương, các bài
thơ có chứng cớ tác giả Hồ Xuân Hương đề vịnh cảnh
chùa cụ Trần Văn Giáp tìm thấy chép trong Phượng Sơn từ
chí lược, Gs Cao Huy Du cũng tìm thấy trong thư viện của Cao
Xuân Dục, bài thơ đề Trấn Quốc Tự tìm thấy trong tủ
sách gia đình Trần Văn Hào ở Quần Phương, Hải Hậu tỉnh
Nam Hà và Thư viện Quốc gia, Thơ Hồ Xuân Hương Gs Hoàng Xuân
Hãn tìm được tại kho sách Hán Nôm, Thư viện Quốc gia Paris...
cho ta thấy Hồ Xuân Hương là một người "học rộng và thuần
thục" đúng như lời Tốn Phong viết trong Lưu Hương Ký, bà
tinh thông Tam Giáo, Phật, Nho, Lão, nhất là về Phật Giáo
bà có một kiến thức khá rộng và uyên bác. Tám bài thơ
Vịnh Cảnh Ðồ Sơn, tôi dịch như sau:
Bài
I - Hóng Mát Ðông Sơn
Ðông
Ðồ Sơn núi gọi Ðông Sơn,
Yên
ngựa hình non xa thoáng trông,
Cổ
tự, cổng thiền rừng thấp thoáng,
Hang
Giang cửa động đá mênh mông.
Thả
thuyền khách hát trong trăng sáng
Nằm
khểnh ai say giữa thạch bàn,
Non
núi nào hay dâu biển mải,
Bên
trời sừng sửng chắn cuồng phong.
Bài
2 - Qua chơi giếng rồng
Dưới
núi Ngọc Sơn dòng nước trong,
Thấm
hòa xuyên đá rót trăm sông,
Hồn
như nước ngọc lên ngời sáng,
Hơn
thể rãi rồng tỏa ngát hương,
Róc
rách tưới lên ngàn gốc đỏ
Chan
hòa dòng thắm vạn đồng xanh,
Há
riêng giếng nước cho thôn ấp,
Chu
cấp Vương Minh, phước báu ban.
Bài
3 - Phật động thâm u
Tương
truyền dấu Phật tại Linh Sơn,
Nay
được sơn ông chỉ đỉnh non,
Cửa
động nông sâu cây cỏ dại,
Chữ
mờ phai nhạt dấu rêu mòn.
Ngoài
hồ đèn thả, cầu soi bóng,
Bến
nước khe trong, chẳng cạn dòng,
Sắc
tức thị không, không thị sắc
Thiền
gia hiểu thế việc trần gian.
Bài
4 - Lên chơi đông sơn tự
Hai
bài
1.
Ðông
Sơn cảnh chiếm một hồ riêng,
Uyên
báu bay về, khói pháp chen,
Ðá
núi điểm đầu, mưa phất xuống,
Ngàn
hoa nở rộ, gió tung lên,
Ðế
Bà hương hỏa thơm bên xóm,
Trịnh
Chúa xe qua vết cũ còn,
Cứu
độ bè từ qua bể khổ,
Chim
âu ngủ đứng bến ngư thôn.
2.
Cò
trắng qua sông nước nối trời,
Chùa
thiền một cảnh khói mây trôi,
Nữ
Vu trị thủy không đông hạ,
Ngư
phủ thuyền qua sau trước bơi.
Ngộ
đạo Cao tăng mang gậy xuống,
Hiện
thân Phật Tổ đến đây rồi.
Một
mình lên núi Ðông Sơn dạo,
Thi
hứng đầy thuyền trăng sáng soi.
Bài
5 - Lên núi nhớ xưa
Tháp
cũ nền xưa cỏ dại tràn,
Dục
Vương xa vắng cảnh hoang tàn,
Ngàn
cân bảo khí reo bên nước,
Chín
bậc phù đồ gạch ngói tan,
Tiều
tử tựa rìu bên đá ngủ,
Mục
đồng xua nghé xuống đồi hoang,
Lên
cao muốn hỏi sơn tăng đạo,
Chuông
vắng đâu đây vọng cuối ngàn.
Bài
6 - Bến đá xem đánh cá
Gió
im sóng lặng dạo bên sông,
Ngắm
ngắm thuyền chài giang giăng hàng,
Tay
kiếm hang rồng sông mở lối,
Lưới
quăng chợ hến sóng cờ dâng,
Bà
buôn xách giỏ vin khoan cuối,
Ông
lái gõ chèo chén rượu nâng,
Hoặc
lúc quẻ ly, khi quẻ hoán,
Thánh
nhân định vật, ý người trần.
Bài
7 - Thiền định ở chùa cốc
Thần
bào quỹ đẽo tự bao niên,
Hình
thể an bài sẵn tự nhiên,
Mái
chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát,
Vách
như tường lát, đá như sườn.
Ðàn
dơi cúng trái dài sen quý,
Ong
mật dâng hoa trước án hương.
Sóng
vỗ, ca tiều, chim chóc hót,
Sư
già chợt tỉnh giấc miên mang.
Bài
8 - Dạo chùa khánh minh cảm hứng
Phạn
Vương đi khỏi bao giờ lại,
Còn
để Kỳ Viên cỏ mọc đầy,
Khánh
đá có duyên dời viên khác,
Chuông
không giá móc vất bên đài,
Ngói
tan, xà mục chim làm tổ,
Bệ
vỡ, bia mòn rêu biếc vùi,
Giá
được ngàn tay như Phật Tổ,
Hư
không một tối dựng lâu đài.
Nguyên
tác phiên âm Hán-Việt
Ðồ
Sơn bát Vịnh
1 -
Ðông Sơn thừa lương
Ðồ
Sơn chi đông viết Ðông Sơn,
Dao
vọng sơn hình tự mã yên,
Cổ
tự môn tòng lâm lộc xuất,
Giang
phi động tại thạch bình gian,
Phiếm
châu hữu khách ca minh nguyệt,
Cao
ngận hà nhân túy thạch bàn,
Sơn
đỉnh bất tri tang hải biến,
Ngật
nhiên chi trụ chướng cuồng lan.
2 -
Long Tỉnh quá trạc
Ngọc
sơn sơn hạ tiểu khê biên,
Xuyên
thạch quyên quyên chú bách xuyên,
Nhuận
hoạt hồn như hòa ngọc dịch,
Thanh
hương sai khả thắng long diên,
Dư
ba tư tưởng thiên chu thụ,
Lưu
trạch xuyên xuyên vạn lục điền,
Tinh
diệp khởi ưng tư nhất ấp,
Vương
Minh dụng cấp phúc di thiên.
3 -
Phật động tầm u
Truyền
văn Phật tích tại Linh san,
Cận
đắc sơn ông chỉ thử gian,
Ðộng
khẩu thiển thâm hoang thảo kính
Tự
ngân nồng đậm ấn đài ban,
Phóng
đăng hồ ngoại kiều do tại,
Cấp
thủy biên khê tỉnh bất can,
Sắc
tức thị không không thị sắc,
Thiền
gia đương tác như thị quan.
4 -
Ðăng đông sơn tự kiến ký
Nhị
thủ
1.
Ðông sơn cảnh chiếm nhất hồ thiên,
Bảo
áp phi lai pháp giới yên,
Nham
thạch điểm đầu hoàn vũ hạ,
Thiên
hoa mãn thụ lộng phong tiền,
Ðế
Bà hương hỏa phương lân cận,
Trịch
Chúa xa luân cựu tích truyền,
Phổ
độ hàng từ siêu khổ ải,
Thuần
âu than hạ túc ngư thuyền.
2.
Bạch lộ hoành giang thủy tiếp thiên,
Tùng
lâm nhất thốc cách vân yên,
Nữ
Vu trị vũ vô đông hạ,
Ngư
phủ phi điêu hoặc hậu tiền,
Ngộ
đạo cao tăng huề tích khứ,
Hiện
thân Cổ Phật đáo kim truyền,
Ðăng
lâm độc bộ Ðông Sơn thượng,
Thừa
hứng lâm lưu nguyệt mãn thuyền.
5 -
Tháp sơn hoài cổ
Cổ
tháp di khư loạn thảo đôi,
Dục
Vương khứ hậu ủy hôi đồi,
Thiên
quân bảo khí minh lưu thủy,
Cửu
cấp phù đồ hóa kiếp hôi,
Tiều
tử ỷ kha miên thạch đắng,
Mục
nhi khu độc há sơn ôi,
Ðăng
cao dục hội sơn tăng giảng,
Hà
xứ chung thanh khụ nhất hồi.
6 -
Thạch phố quan ngư
Phong
điềm ba tỉnh độ giang mi,
Vọng
vọng ngu châu nhất tự nhi,
Thủ
thám giao cung giang tác lộ,
Võng
thu thần thị tịch vi kỳ,
Huề
la bản phụ phan thuyền vĩ,
Khấu
tiệp đà sư hệ tửu chi,
Hoặc
thủ chư "ly" kiêm thủ "hoán",
Thánh
nhân khai vật dữ nhân nghi.
7 -
Cốc Tự tham thiền
Thần
ngoan quỷ tạc bất tri niên,
Thế
thế an bài nhược tự nhiên,
Ốc
bất ngõa từ giai bất thế,
Nham
như tường bích thạch như diên,
Dạ
minh hiến quả liên đài hạ,
Phong
tử hàm hoa bảo án tiền,
Ðào
hưởng
tiều ca hòa điểu ngữ,
Thanh
thanh hoán tỉnh lão tăng miên.
8 -
Bộ khánh minh tự cảm hứng
Phạn
Vương quy khứ kỷ thời lai,
Không
ủy Kỳ Viên ế thảo lai,
Khánh
hữu cơ duyên quy biệt viện,
Chung
vô cư nghiệp trệ không giai,
Ðồi
lương bại ngõa sào ma tước,
Phá
kệ tàn bi yểm lục đài,
An
đắc Như Lai Thiên Thủ Phật,
Hư
không nhất dạ khởi lâu đài.
Chú
tích:
Ðồ
Sơn: tên núi và bãi biển nơi nghỉ mát nổi tiếng miền Bắc,
nay thuộc Hải Phòng.
Giang
phi: tên nữ thần sông.
Ngọc
dịch: nước giếng Cổ Loa để rửa ngọc trai.
Long
diên: rãi rồng, nước miếng cá voi.
Long
diên hương: một hải sản quý, thơm ngon.
Vương
Minh: Vương Dương Minh, Tể tướng đời nhà Tống, đề xướng
thuyết tri hành hợp nhất.
Linh
Sơn: Núi Linh Thứu nơi Phật ở và thuyết pháp.
Sắc
Không: thuyết vô ngã, sắc là hình tướng sự vật, là có
do nhiều yếu tố hợp lại mà thành, là không vì tự nó không
thật có.
Phóng
đăng: nơi thả đèn hoa sen nhân lễ Vu Lan.
Ðế
Bà: tên cô gái địa phương bị Chúa Trịnh Giang hiếp, có
mang, dân làng bắt tội ném xuống biển, hiển thánh, sau được
dựng chùa thời gọi là Ðế Bà.
Dục
Vương: Vua Asoka, sinh sau Ðức Phật ba trăm năm, thống nhất
Ấn Ðộ và dựng chùa kết tập kinh điển và truyền bá Phật
Giáo khắp nơi.
Phù
đồ: Stuppa, Chùa.
Kỳ
Viên: nơi Ðức Phật và Tăng già an cư kiết hạ khi mùa mưa.
Qua
tám bài Vịnh cảnh Ðồ Sơn, ta thấy Hồ Xuân Hương rất
thông suốt Phật pháp: biết núi Linh Thứu, biết vườn Kỳ
Viên, biết tích Vua A-Dục, biết việc Vương Minh đào giếng
giúp dân, ban phước, biết tích Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn.
Xuân Hương thiền định ở Chùa Cốc, thuộc kinh điển: sắc
tức thị không không tức thị sắc, Cao tăng là hiện thân
Phật Tổ... Xuân Hương còn thông Kinh Dịch quẻ ly quẻ hoán.
Thơ Vịnh cảnh chùa Hồ Xuân Hương tràn đầy thiền vị,
của một Phật tử đầy đạo tâm... điều đó trái ngược
với sự dốt nát, xấc xược trong những bài thơ truyền khẩu
gán cho Xuân Hương.
Có
thể có người nói về tuổi gần năm mươi Xuân Hương đạo
hạnh, nhưng thời trẻ có thể tinh nghịch, bài thơ Vịnh Chùa
Trấn Quốc, Hồ Xuân Hương làm lúc trẻ đã bác bỏ sự kiện
này. Trong Hương Ðình Cổ Nguyệt thi tập, mới tìm thấy trong
tủ sách gia đình ông Trần Văn Hào, tại Quần Phương, huyện
Hải Hậu, Nam Hà, hiện lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Hà
Nội có bài thơ Ðề Chùa Trấn Quốc bằng chữ Hán, tôi dịch
như sau:
Ðề
chùa Trấn quốc
Ai
người đến đó khách đài trang,
Nhè
nhẹ thanh thanh cơn gió nam,
Trăng
nước sóng lồng, sen nỏn cánh,
Khói
hương tàn báu, hạc mây ngàn.
Rửa
niềm trần tục hoa hàm tiếu,
Gợi
tỉnh niềm mê, cỏ thắm xuân,
Ðến
cảnh quay đầu, người muốn hỏi,
Ðông
nam tay vẫy, nhạn tung đàn.
Nguyên
tác phiên âm Hán-Việt như sau:
Ðề
trấn quốc tự
Trang
lâm thùy thị cảnh trung nhân,
Tế
tế thanh phong phiến phiến huân,
Thủy
nguyệt ba lung liên quải choát,
Hương
yên bảo thoại lộ liên vân.
Tẩy
không trần lự hoa hàm thoại,
Hoán
tỉnh mê đồ thảo diệc xuân,
Ðáo
cảnh linh nhân hồi thủ vấn,
Ðông
nam phất tụ nhạn thành quần.
Bài
thơ cho ta thấy phong cách trang nhã của Hồ Xuân Hương, đã
thấm nhuần Phật pháp khi đến chùa, nhìn đóa hoa hàm tiếu
như rửa niềm trần tục, nhìn thấy cỏ mùa xuân như gợi
tỉnh niềm mê. Trong bài này Xuân Hương đến chùa với một
khách đài trang tôi nghĩ rằng đó là Nguyễn Du, về sau này
trong bài chơi Tây Hồ nhớ bạn, Xuân Hương có nhắc đến:
Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ, lời thơ đề vịnh chùa
Trấn Quốc còn vang vọng như ngấn nước, và Nguyễn Du phục
tài Xuân Hương sánh nàng với Tiểu Thanh. Thuở ấy Xuân Hương
ngây thơ thấy cảnh muốn quay đầu hỏi, nhưng Nguyễn Du không
đáp đưa tay vẫy đàn nhạn tung trời. Nếu giả thuyết này
đúng bài thơ này có lẽ được viết trong khoảng thời gian
1790-1793.
Trong
thơ truyền khẩu có chép bài thơ nôm Chùa Trấn Bắc gán cho
Hồ Xuân Hương.
Chùa
Trấn Bắc
Qua
chơi Trấn Quốc cảnh buồn rầu,
Chạnh
niềm cố quốc nghĩ mà đau.
Một
tòa sen lạt hơi hương ngự,
Năm
thức mây phong điểm áo chầu.
Sóng
lớp phế hưng coi vẫn rộn,
Chuông
hồi kim cổ lắng càng mau.
Người
xưa cảnh cũ đâu đâu tá?
Ngoài
cửa hành cung, cỏ dãi dầu.
Chú
thích: Nhiều bản chép câu cuối:
Khéo
ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu.
Chùa
Trấn Quốc, năm 1844 Vua Thiệu Trị mới đổi ra Trấn Bắc.
Do đó trong thời Xuân Hương chùa mang tên Trấn Quốc. Theo
tôi bài thơ này của bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Thị Hinh,
cùng quê làng Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận với Xuân Hương,
bà sinh sau Xuân Hương, chồng là Lưu Nguyên Ôn người làng
Nguyệt An huyện Thanh Trì, Hà Ðông, từng làm Tri huyện Thanh
Quan, chồng bà mất sớm, năm ông 43 tuổi, bà vẫn ở vậy
nuôi con. Ðời Vua Minh Mạng bà được mời làm Cung Trung giáo
tập, dạy các cung phi và công chúa. Bà Huyện Thanh Quan cùng
làng Nghi Tàm, sống gần thời Hồ Xuân Hương, thơ lại chép
lẫn trong văn bản Landes, chúng ta có thể suy diễn: Bà Huyện
Thanh Quan có thể là học trò Hồ Xuân Hương, tuy nhiên hiện
nay tư liệu về Bà Huyện Thanh Quan quá ít ỏi để kết luận
việc này. Theo Tuyển Tập Văn Bia Hà Nội. Q I nxb KHXH 1978 tr.
33-38. Nguyên tên Khai Quốc do Vua Lý Nam Ðế khai sáng khi lập
nước Vạn Xuân năm 544 nằm trên bờ sông Hồng sau vì bãi
sông bị lở nên năm 1615 dời vào bãi Kim Ngư, Hồ Tây. Trên
nền cũ cung Thúy Hoa đời Lý, điện Hàm Nguyên đời Trần,
đời Lê vua lập hành cung tại đó. Chùa được xếp hạng
thứ tư nước nam. Ðời Tây Sơn chùa hoang phế, đổ nát.
Năm 1813 nhà sư Khoan Nhân đứng ra quyên góp trùng tu chùa,
năm 1815 mới xong, Tiến sĩ Phạm Quý Thích viết bài văn bia
trùng tu chùa.
Qua
văn bản André Landes do Lê Quý chép bằng chữ nôm năm 1892-1893,
Xuân Hương thường đi chùa với bạn gái em Tử Minh, và rất
thân với Tử Minh, người bạn này thông suốt Phật pháp tu
thiền, thiền định mỗi ngày, trong thơ Vịnh Hạ Long, Xuân
Hương cũng có câu "Cao tăng đâu đó tụng thời kinh". Sau khi
chồng mất Xuân Hương vào chùa tu. Mối quan hệ Xuân Hương
với Phật Giáo không đến nỗi xấu. Có thể thời Xuân Hương
có người trốn việc đi tu, nhưng Sư nếu tu hành không siêng
năng, phạm giới làng sẽ đuổi ra khỏi chùa, "phép Vua, chùa
làng, phong cảnh Bụt" bao nhiêu cặp mắt người đời nhìn
sư, sư ăn chay trường đạm bạc, có được danh lợi gì chăng?
Chùa Tăng, chùa Ni xưa nay phân biệt rõ ràng, sư được hưởng
năm ba trái chuối thiện nam tín nữ dâng cúng Phật, thì có
gì là xa xỉ. Nếu sư có bảy tám bà vợ làm vãi núp sau lưng,
thì làng xã có để cho sư yên chăng? Thiện nam tín nữ có
thể nhắm mắt và dâng phẩm oản cho người thiếu đạo đức
chăng? Những phê phán, chế giễu nhà sư trong các thơ truyền
khẩu gọi là của Hồ Xuân Hương chỉ là những phê phán
lăng nhục vu vơ, khác hẳn với tư cách thanh nhã, có chứng
cớ ta biết về Hồ Xuân Hương.
Thơ
Xuân Hương được chép trong đầu thời Pháp thuộc, các ngôi
chùa được xem như chiến lũy chống Pháp bị phá sạch tại
Sàigòn như chùa Cây Mai, Khải Tường, Kiến Phước... Tại
Hà Nội và vài chùa khác bị phá để xây nhà thờ, cuộc
khởi nghĩa các nhà sư Vương Quốc Chính, Võ Trứ, Phan Xích
Long... hằng lớp nhà sư bị bắt, bị tù đày, bị giết,
bị miệt thị là giặc thầy chùa, giặc đầu trọc. Khẩu
khí những bài thơ viết về nhà sư, không phải là khẩu khí
của người học rộng, thuần thục, trọng lễ nghĩa như Xuân
Hương. Học rộng ngày xưa được hiểu như người tinh thông
cả tam giáo: Nho, Phật, Lão, ta thử xem những người đương
thời như Phạm Quý Thích, Nguyễn Du, Phạm Ðình Hổ viết
thế nào về Phật Giáo.
Phạm
Quý Thích trong bia ghi việc xây dựng lại Chùa Trấn Quốc
(1813-1915) viết:
"...
Trải qua một cuộc biến đổi đời Tây Sơn, ngôi chùa dần
dần hoang phế; đã không tu sửa được lại đổ nát thêm...
Nhà sư trụ trì, tự là Khoan Nhân, nối nghiệp sư tổ, tu
tạo quả phúc, hợp sức hưng công...
Ôi!
Chùa đổ rồi dựng lại, đó là điều Trương Tăng Phủ (Trương
Hán Siêu) lấy làm bùi ngùi. Tôi còn nói gì nữa? Nhưng Hồ
Tây là nơi thắng cảnh, Trấn Quốc lại là cảnh đẹp của
Hồ Tây. Những nơi danh thắng của cố đô vì loạn lạc bị
đổ nát cũng nhiều. Ðổ nát mà không xây dựng lại, thì
chẳng mai một đi ư? Ý nghĩ của mọi người trong bản phường
là như thế.
Huống
chi lên cao ngắm cảnh, mây nước mênh mang, nước hồ ánh
trong suốt khiến lòng người không hư, tiếng chuông chùa gọi
tỉnh mộng trần tục, khiến chỗ ý thức phân biệt giữa
"ngoại vật" và "ta" tiên tan hết. Tấm bia rêu phong còn đó,
lối xưa hoa cỏ nay đâu? Ngày tháng là bao, bỗng chốc thành
dấu cũ, khiến cho con người chạnh lòng cảm khái đối với
cảnh vật xưa nay.
Ðây
chẳng phải là nơi tao nhân mặc khách thường lui tới viếng
thăm, và bậc cao nhân hiền triết đã có cái nhìn thông suốt
đấy sao? Âu cũng là điều đáng ghi vậy.
Minh
rằng:
Cầu
ngang Linh Ẩn,
Chuông
dội Hàn Sơn,
Trước
mặt mỏ phượng,
Sau
lưng uốn rồng,
Sóng
gợn trong vắt,
Mặt
nước Tây Hồ,
Ngàn
đóa hoa sen
Ðua
nhau vui nở,
Tịch
nào không cảm?
Hư
nào không thiêng?
Trăng
lồng đáy nước,
Soi
tỏ chân như,
Bia
năm Dương Hòa,
Ðến
nay thành cổ,
Ta
khắc bài minh,
Cùng
truyền muôn thuở".
Chú
thích:
Mõ
phượng: Mũi đất bên Hồ Tây khu vực Trường Bưởi, trong
bài Chơi Hồ Tây Nhớ Bạn, Xuân Hương gọi là non phượng
đất.
Những
bài viết ký về chùa của Phạm Ðình Hổ trong Tang Thương
ngẫu lục như bài ký chơi núi Phật Tích cùng bốn người
bạn:
"Giờ
Dậu lên chùa Thiên Phúc, nhà sư trụ trì là Tịch Khiết mời
ngồi lại nói chuyện. Tịch Khiết người làng Thiên Phúc,
ăn nói nhã nhặn, bặt thiệp... Giờ Tỵ qua cầu Nguyệt Tiên,
lần bậc lên núi... Trụ trì chùa này nguyên là một viên
nội thần tiền triều, thấy khách đến, mời thiết ân cần
bằng những món ăn trong núi...". Trong bài tả chùa Kim Liên
làng Nghi Tàm, cạnh nhà Xuân Hương, Phạm Ðình Hổ và bạn
bè đến chơi cũng được chú tiểu lễ phép mời vào chùa
dùng trà cùng sư trụ trì. Phạm Ðình Hổ đã tả những nhà
sư đương thời với Xuân Hương như thế: hiếu khách, bặt
thiệp, ân cần, nhã nhặn...
Những
bài thơ nhạo báng Tăng hoàn toàn không đúng với thái độ
một người sống trong thời đại Xuân Hương:
"Ðầu
sư há phải gì bà cốt" bài Sư bị ong châm, "trái gió cho
nên phải lộn lèo" bài Sư bị làng đuổi, "đầu thì trọc
lóc áo không tà" bài Nhà Sư, "hỏi thăm sư cũ đáo nơi neo?"
bài Chùa Quán Sứ. Tôi cho rằng các bài thơ trên chỉ là khẩu
khí của người viết trong thời Pháp thuộc, người viết
vốn xuất thân từ trẻ mồ côi được các cố đạo nuôi,
được học trường Dòng, bị phạm kỷ luật, bị đuổi ra
vì tư cách kém cỏi, nhưng biết chút đỉnh chữ Quốc Ngữ,
chữ Nôm, chữ Hán, xin làm thông ngôn, ký lục, hạng người
này được hưởng "tối rượu sâm-banh sáng sữa bò", làm
tất cả các công việc gì các quan cai trị thực dân muốn,
từ chép thơ văn cổ như Lê Quý, Nguyễn Văn Ðại, viết báo
chữ Quốc Ngữ, đến Tri huyện, Tri phủ, theo chân Nguyễn
Thân, Trần Bá Lộc đánh dẹp "giặc" Phan Ðình Phùng, Hoàng
Hoa Thám, Ðinh Công Tráng... và làm đến cả các chức quan
đại thần triều đình. Những người sửa chữa thơ Hồ Xuân
Hương, đã ngụy tạo một số bài thơ theo thị hiếu dâm
tục, hoặc để bán sách cho chạy, nền văn hóa tam giáo Nho,
Phật, Lão, họ chỉ hiểu lơ mơ, nên khi đả kích Phật Giáo,
họ tưởng để lấy lòng chủ nhân là các quan thuộc địa
Pháp, họ cũng chỉ đả kích bằng những cảm quan bề ngoài,
đầu trọc lóc, tụng kinh giọng hi ha, vãi mọp sau lưng, bảy
tám bà... Trong Phật Giáo những người cảm thấy không tu
hành được xin xả giới, trở về đời sống trần tục thành
cư sĩ tu tại gia, cưới vợ là điều bình thường, không
có gì nhục nhã như các thầy Dòng bị đuổi.
Ta
thử xem Nguyễn Du, người đương thời với Hồ Xuân Hương
trong bài: Phân Kinh thạch đài của Thái tử Chiêu Minh đời
Lương, đã phê phán:
"Kinh
thiêu ra tro, đài đổ nát
Nghìn
vạn lời lưu lại ích chi,
Chỉ
để bọn ngu tăng đời sau đọc điếc tai người ta.
Ta
nghe nói Thế Tôn ở Linh Sơn,
Thuyết
pháp cứu người nhiều như cát sông Hằng.
Người
hiểu được chữ tâm tức là độ rồi.
Linh
Sơn chỉ ở trong lòng người,
Minh
kính cũng không là đài,
Bồ
đề vốn không phải là cây.
Ta
đọc kinh Kim Cương hằng nghìn lượt,
Những
ý nghĩa gọi là sâu xa trong đó phần nhiều không rõ ràng;
Khi
đến dưới đài Phân kinh này,
Mới
biết kinh "không chữ" mới thật là chân kinh".
Ta
thấy trong phê phán của Nguyễn Du cái học rộng uyên bác
của ông, biết sự tích Ðức Phật, biết thơ Lục Tổ Huệ
Năng, kinh Pháp Hoa, kinh Kim Cương... phê phán ngu tăng đọc
mà không hiểu chỉ làm điếc tai người ta. Trong thơ Nguyễn
Du ta thấy ông rất trân trọng với người bạn tâm đắc
là nhà sư Huyền Hư Tử. Thơ chữ Hán tôi dịch như sau:
Hạc
nội mây ngàn bao thuở gặp,
Trăng
thanh gió mát nhắn gì hơn,
Thầy
ở xa về đường nhớ lấy,
Nhà
tôi đầu xóm núi Hồng Sơn.
(bài
Ký Huyền Hư Tử)
hay
Trường
An biền biệt mãi,
Nhớ
quê chân trời xa,
Chân
trời không thấy được,
Còn
trông bụi cát pha,
Gió
Tây thổi lá rụng,
Sương
trắng nhạt hoàng hoa,
Tấm
thân thầy cẩn trọng,
Vào
thu sương móc sa.
(bài
Ký Giang Bắc Huyền Hư Tử)
Một
người học rộng như Hồ Xuân Hương nếu có phê phán nhà
sư cũng phê phán thông minh, phân biệt ngu tăng và cao tăng.
Một người viết câu "Cao tăng đâu đó tụng thời kinh", thường
đi lễ chùa và đã đi tu khó có thể nào viết những câu
thơ nói lái hạ cấp, chữ vần gượng ép: hỏi thăm sư cụ
đáo nơi neo?
Những
bài thơ nói về sư trong thơ truyền khẩu Hồ Xuân Hương gần
với thời đại Tú Xương (1870-1907) hơn do đó ta bắt gặp
những câu thơ truyền khẩu gọi là của Hồ Xuân Hương gần
giống như thơ Tú Xương, bài thơ cũng chỉ là truyền khẩu
chứ không văn bản đích xác:
Một
thằng trọc tếch ngồi khua mỏ
Hai
ả tròn xoe đứng múa bông.
Hai
câu thơ Tú Xương bài Ông Sư và mấy ả lên đồng và bài
Hang Thánh hóa thơ truyền khẩu Hồ Xuân Hương phảng phất
giống nhau...
Một
sư đầu trọc ngồi khua mỏ,
Hai
tiểu lưng tròn đứng giữ am.
Ở
thời đại Tú Xương, đạo Phật đã suy, chùa lẫn lộn với
việc lên đồng. Ðĩ già đi tu. Thầy cúng thầy pháp cạo
đầu xưng là sư. Gái điếm như Tư Hồng trở thành bà lớn
được phẩm hàm triều đình, những tên vô lại gốc gác
mồ côi, du đãng được nhà thờ nuôi dưỡng phá giới bị
đuổi, nhờ biết lỏm bỏm chữ quốc ngữ, chữ Pháp trở
thành quan huyện, Tổng đốc, lợi dụng thời cơ mất nước,
đồng bào không biết chữ mới, chiếm cứ đất đai, trở
nên những triệu phú, tỷ phú...
Nào
có ra gì cái chữ Nho
Ông
Nghè, ông Cống cũng nằm co.
Chi
bằng đi học làm thầy Phán,
Tối
rượu sâm-banh sáng sữa bò.
(Thơ
Tú Xương)
Mối
mâu thuẫn giữa Tăng sĩ và Nho sĩ có vào cuối đời Trần,
khi Nho sĩ thắng thế vào cuối đời Hồ, lại không có khả
năng giữ được nước, chỉ bảy năm sau nhà Minh sang xâm
chiếm, Nho sĩ thất bại hoàn toàn trong việc vận động dân
tộc. Sang đời Lê, tuy Nho giáo là quốc giáo, Tăng sĩ trở
về sống với dân gian, nhưng mỗi Nho sĩ đều ảnh hưởng
sâu đậm Phật Giáo như Nguyễn Trãi vừa là một Nho sĩ vừa
có tâm hồn một Thiền sư, Vua Lê Thánh Tôn, tuổi nhỏ, bị
gian thần hãm hại phải ẩn lánh trong chùa. Mối quan hệ Tăng
sĩ và Nho sĩ trong thời Trịnh, Chúa Nguyễn cũng rất tốt
đẹp, nhiều bà phi, công chúa và nhiều vị chúa cuối đời
đi tu. Khi Pháp chiếm nước ta, trong các cuộc khởi nghĩa Văn
Thân đều có bóng dáng các Tăng sĩ, quan hệ Tăng và Nho rất
tốt đẹp sống hòa hợp trong xã hội Việt Nam. Chỉ có thời
đại hỗn loạn đầu thời Pháp thuộc, đạo đức suy vi,
và chỉ có bọn giả danh trí thức mới này, cần thiết đánh
đổ các hệ tư tưởng cổ truyền dân tộc mới gọi Hang
Thánh Hóa là cái dương vật (Xem Ts Nguyễn Xuân Thọ. Bước
mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp
ở Việt Nam. 1858-1897. TGXB 1995) Loại bỏ những bài thơ này
ra khỏi thơ Hồ Xuân Hương, những bài thơ không chút giá
trị văn học, nhảm nhí, thô tục, ta đưa thơ truyền khẩu
còn lại trở về gần với Lưu Hương Ký với con người thật
tài sắc vẹn toàn của Hồ Xuân Hương.
Tóm
lại tôi bác bỏ các bài thơ, phỉ báng các Tăng sĩ: Chùa
Quán Sứ, Hang Thánh Hóa, Sư bị ong châm, Sư bị làng đuổi...,
gán cho Hồ Xuân Hương, vì lý do:
-
Hồ Xuân Hương là người "học rộng và thuần thục". Học
rộng ngày xưa được hiểu là người tinh thông Tam Giáo: Phật
- Nho - Lão. Các bài thơ phỉ báng Tăng gán cho Hồ Xuân Hương,
hoàn toàn dốt đặc cán mai về Phật Giáo, chỉ giễu cợt
hạ cấp bằng nói lái, bằng bề ngoài, đầu trọc lóc, áo
không tà, tràng hạt vãi lần đếm lại đeo, tả Hang Thánh
Hóa, nơi Từ Ðạo Hạnh mất, nơi linh thiêng của Phật Giáo
Việt Nam được đồng bào tôn kính thành cái dương vật...
hay sửa đổi các câu thơ nghiêm chỉnh của Bà Huyện Thanh
Quan gán cho Hồ Xuân Hương thành câu chế ngạo tăng: khéo
ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu.
-
So sánh với ngôn ngữ, thái độ người đương thời đối
với Phật Giáo như Nguyễn Du, Phạm Quý Thích, Phạm Ðình
Hổ... ngôn ngữ đối với Tăng rất kính trọng. Ngôn ngữ
các bài thơ phỉ báng Tăng gán cho Hồ Xuân Hương gần gũi
với thời đại thơ Tú Xương (1870-1907) tôi kết luận các
bài thơ này mới ngụy tạo trong thời Pháp thuộc.
-
Trái lại với ngôn ngữ phỉ báng Tăng Ni các bài thơ ngụy
tạo, Hồ Xuân Hương là một thiếu nữ thường đi chùa với
mẹ, với bạn gái em và vợ Cả Tân, với học trò, với các
bạn Nho sinh; Xuân Hương đi chùa Kim Liên, chùa Văn Giáp, chùa
Trấn Quốc với Nguyễn Du, Chùa Một Cột với Mai Sơn Phủ,
Chùa Hương với các bạn Nho sinh, Chùa Thầy lúc đi buôn...
Quan hệ Xuân Hương với sư sãi rất tốt đẹp, Xuân Hương
kính trọng bậc Cao tăng trong thơ Vịnh Cảnh Hạ Long, Vịnh
Cảnh Ðồ Sơn. Xuân Hương xem như ruột thịt với Tử Minh,
một thầy đồ dạy học hàng ngày thiền định tu tập, khi
chồng mất Xuân Hương vào chùa nương náu... Với nhân cách,
một người học rộng, nết na, thuần thục, tài sắc Xuân
Hương không thể nào là tác giả các bài thơ ghét sư.
Ngược
lại hành động bôi nhọ các nhà sư, Xuân Hương mắng bọn
học trò dốt, làm thơ dở, lên chùa viết thơ vào vách chùa,
thơ dở bẩn cả vách chùa.
Mắng
bọn đồ dốt
Dắt
díu nhau lên đến cửa chiền,
Cũng
đòi học nói, nói không nên,
Ai
về nhắn bảo phường lòi tói,
Muốn
sống đem vôi quét trả đền.
Phạm
Trọng Chánh
Tài
liệu tham khảo
-
Hoàng Xuân Hãn: Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long. Tình sử
Hồ Xuân Hương. Tạp chí Khoa học Xã hội số 10-11, 12/1993
- Paris.
-
Bùi Hạnh Cẩn: Hồ Xuân Hương - Thơ chữ Hán, chữ Nôm, Giai
thoại - Văn Học 1995.
-
Thơ Hồ Xuân Hương Nxb Ðồng Nai 1986 -Tuyển tập Văn Bia Hà
Nội - Nxb KHXH 1978.
-
Phạm Ðình Hổ: Tang Thương ngẫu lục - TTNL. BGD Sàisòn 1970.
-
Nguyễn Du: Thơ chữ Hán - Nxh Văn Học 1965.
-
Nguyễn Xuân Thọ: Bước mở đầu của sự thiết lập hệ
thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam 1858-1897 - TGXB - Hoa Kỳ
1995.
-
Nguyễn Quyết Thắng: Tự Ðiển Nhân Vật Lịch Sử VN - KHXH
1992.
Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 10-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 327 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân