TU TẬP
CÔNG ÁN
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả: Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki;
Bản
dịch của Tuệ Sỹ
(Trang
184)
Thiên
Kỳ Thụy hòa thượng thị chúng:
Hãy
gột sạch khỏi tâm tất cả khôn ngoan lừa lọc, dứt mình
ra khỏi tham sân do chấp ngã, và đừng để những mối suy
nghĩ phân hai quấy phá, để cho tâm thức được lau chùi sạch
sẽ.
Khi
đã thanh lọc được như vậy rồi, hãy đề khởi công án
trước tâm: "Muôn pháp về một, một về chỗ nào ?"
Hãy
nghiền ngẫm vấn đề này từ thủy chí chung, hoặc bằng
nhiều nghi vấn, hoặc đơn độc một suy nghĩ, hoặc chỉ nghiền
ngẫm cái "một" ở nơi đâụ Bất cứ bằng cách nào, cứ
để cho hết thảy đầu mối của các câu hỏi ghi đậm trên
ý thức của các ngươi, khiến cho nó trở thành cái độc
nhất, là cái đích chú tâm.
Nếu
các ngươi để phân biệt lý luận xen vào chuỗi dây liên
tục bền bỉ của nghi tình, kết quả sẽ làm sụp đổ hết
cả công trình tu tập.
Một
khi các ngươi chẳng để được công án trước tâm, chẳng
có cơ duyên nào để chứng ngộ hết.....
Cốt
yếu bậc nhất là khơi dậy cái đại nghi "một qui về đâủ"....
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả: Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki;
Bản
dịch của Tuệ Sỹ
(Trang
274)
Thiền
muốn chùi sạch tất cả những cặn bã tri thức trong tâm
thức của mọi người để họ có thể tiếp thọ sơ phát
tâm bằng tất cả sự thanh khiết và thuần nhất của nó.
Vì mục đích này mà công án, -- vốn dĩ là vô nghĩa
theo lối hiểu biết phàm phu, -- được đề ra cho các môn
đệ. Ý là quay trở về cái không hư nguyên thủy trong đó
chưa có ý thức tác dụng. Đây là một trạng thái vô sinh.
Thiền
bắt đầu từ đó và Tịnh Độ tông cũng vậy .
CN:
Trở về cái nguyên thủy thì chỉ trở về cái VÔ MINH như
đất đá, cây cỏ, sâu bọ, cá mú, khỉ, đười ươi, ...
mà thôi ông SUZUKI ạ.
Nếu
cái nguyên thủy đã sáng suốt tròn đầy thì tại làm sao
mà nó bị trở thành mê mờ? Nếu đã bị trở thành
mê mờ như vậy thì dầu có tu cho sáng suốt trở lại rồi
mai kia mốt nọ, nó cũng lại mê mờ như từng đã xảy ra,
thì tu vô ích quá !
Ai
là đồ đệ thượng thặng của SUZUKI xin "banh" mắt giùm cho
tui điều này thử coị
CN
From:
Khucdinhhop@ạ..
Date:
Sat Oct 4, 2003 8:10 pm
Subject:
Mê ... Giác ...
Trích
Lăng Nghiêm Tông Thông, tập một.
Luận
giả: Cư sĩ Tăng Phụng Nghi;
Dịch
giả: Thiền sư Nhẫn Tế.
IV.
CHỈ RÕ GIÁC CHẲNG SANH MÊ
Kinh
:
Ông
Phú Lâu Na thưa :
--
Nếu cái Diệu Giác đó, bản tánh là Diệu Minh, cùng với
Tâm Như Lai, không tăng không giảm, mà không cớ gì bỗng sanh
các tướng hữu vi núi, sông, đất đaị Vậy nay Như Lai đã
đắc Diệu Giác Minh Không đó, thì lúc nào lại sanh ra núi,
sông, đất đai và các tập lậu hữu vi ?"
Phật
bảo Ông Phú Lâu Na :
--
Ví như người mê, nơi một xóm làng, lầm phương Nam làm phương
Bắc, thì cái mê ấy nhân do Mê mà có hay nhân Ngộ mà sinh
ra ?
Ông
Phú Lâu Na thưa :
--
Người mê như vậy, cũng chẳng nhân Mê, cũng chẳng nhân Ngộ.
Vì sao thế ? Cái Mê vốn không có gốc gác, làm sao mà nhân
Mê ? Ngộ chẳng sanh ra Mê, làm sao mà nhân Ngộ ?
Đức
Phật nói :
--
Cái người mê kia, ngay trong lúc mê, bỗng có người ngộ chỉ
bày cho khiến tỏ ngộ. Này Phú Lâu Na, ý ông thế nào ? Người
ấy đã thả cái Mê ra rồi, thì đối nơi xóm làng đó, có
còn sanh mê lại không ?
--
Bạch Thế Tôn, không.
--
Phú Lâu Na, mười phương Như Lai lại cũng như thế. Cái Mê
ấy không có gốc gác, tánh nó rốt ráo không. Xưa vốn chẳng
có Mê, chỉ hình như có Mê, có Giác. Giác được cái Mê,
thì Mê diệt mà cái Giác vốn chẳng sanh Mệ
Cũng
như người lòa mắt, thấy hoa đốm giữa hư không. Bệnh lòa
nếu hết, thì hoa đốm ở hư không diệt mất. Bỗng có người
ngu, ở chỗ hư không mà hoa đốm kia đã diệt, đợi chờ
hoa đốm sanh ra trở lạị Ông xét người đó là ngu hay là
trí huệ ?
Ông
Phú Lâu Na thưa :
--
Hư không vốn không có hoa đốm, mà vọng thấy có sanh có
diệt. Thấy có hoa diệt mất giữa hư không đã là điên đảo
rồị Lại còn muốn bảo nó sanh ra lại thì thật là điên
dại, làm sao mà gọi người điên như vậy là ngu hay là trí.
Phật
dạy :
--
Ông hiểu như thế, sao lại còn hỏi : "Tánh Diệu Giác Minh
Không của Chư Phật Như Lai khi nào lại sanh ra núi, sông, đất
đai ?" Cũng như quặng vàng lẫn lộn với vàng ròng, một khi
vàng đã thành ròng, chẳng trở lại thành dơ tạp. Như cây
đã đốt thành tro, không trở lại thành cây nữạ Bồ Đề,
Niết Bàn của chư Phật Như Lai cũng lại như thế...."...
THÔNG
rằng :
Kinh
Viên Giác, Bồ Tát Kim Cang Tạng hỏi Đức Thế Tôn rằng :
"Nếu chúng sanh xưa nay thành Phật, thì tại sao có hết thảy
Vô Minh ? Nếu chúng sanh vốn có Vô Minh, thì vì nhân duyên
gì Như Lai lại nói bổn lai thành Phật ? Các loài dị sanh
trong mười phương, vốn thành Phật Đạo, sau lại khởi Vô
Minh, thì tất cả Như Lai khi nào lại sanh ra tất cả phiền
não ?"
Thế
Tôn đáp rằng : "Này trai lành ! Hết thảy thế giới thủy
chung sanh diệt, trước sau Có, Không, Tụ, Tán, Khởi, Dừng
niệm niệm nối nhau, xoay vòng đi lại, đủ thứ nắm bỏ,
đều là luân hồị Chưa ra khỏi luân hồi mà tìm hiểu Viên
Giác thì tánh Viên Giác kia cũng đồng trôi chuyển. Nếu thoát
khỏi luân hồi, thì làm gì có chuyện đó !"
Nay
chỗ nghi của ông Phú Lâu Na không khác với Bồ Tát Kim Cang
Tạng mà Thế Tôn chỉ tùy theo cái thấy sanh diệt của ông
mà phá. Đưa tiếp nhau bốn thí dụ :
Thứ
nhất là Giác chẳng trở lại Mê;
Thứ
hai là diệt rồi chẳng sanh trở lại;
Thứ
ba là vàng ròng chẳng trở lại quặng ;
Thứ
bốn là tro chẳng thành lại câỵ
Hai
ý sau diễn lại hai ý chánh trước. Giác chẳng trở lại Mê,
tức là Bồ Đề. Diệt chẳng trở lại sanh, tức là Niết
Bàn. Đây là đã ra khỏi luân hồi mà biểu hiện Viên Giác.
Tánh Viên Giác ấy tức chẳng có luân hồi, nên nói Bồ Đề,
Niết Bàn của Chư Phật Như Lai cũng lại như thế.
Chúng
sanh ở trong Mê, chỗ cần yếu là phải Giác. Nhưng từ xưa
vốn không có sự Mê, cái Mê từ vô thủy, chỉ tương tự
như Mê .
Bởi
vì ngay khi Mê cũng chưa từng bỏ mất, nên nói chỉ tựa hồ
như Mệ Nay cũng không phải là không có Giác. Từ Mê mà Giác,
thì cũng tựa hồ có Giác, vì ngay khi Giác, thì có đắc gì
đâu, nên gọi là tựa hồ như Giác. Giác cái Mê, thì Mê diệt,
đó là Thủy Giác. Giác cho đến chỗ Thủy Giác và Bổn Giác
không khác, thì chỉ là một Diệu Giác. Thế là chẳng trở
lại sanh Mê, chỉ tự chẳng Mê, Giác cũng thành vô dụng.
(Trang
486)
Trích
từ :
http://www.thuvienhoasen.org/lntt-04-01.htm
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch
giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
(Trang
186)
Thiền
sư Sở Sơn Thiệu Kỳ nói :
--
Người sơ cơ cần nhất là phải có một vật để nắm mà
vào Thiền ; và vì thế họ được dạy cho pháp môn niệm
Phật. Phật tức tâm, Tâm tức Phật. Tâm và Phật từ đâu
mà có ? Có từ Tâm. Tâm ấy không phải là tâm, không phải
Phật, không phải vật. Vậy là cái gì ?
Muốn
thấy ra, hãy vứt bỏ đi tất cả những cái đã tích chứa
do học tập, tri thức, kiến giải; hãy chỉ hoàn toàn chuyên
chú vào một câu hỏi :
"Ai
đang niệm Phật ?"
Hãy
để cho nghi tình này nghi đến cực độ ; đừng say sưa theo
những nghĩ tưởng mê lầm ; đừng để cho những ý tưởng
phân biệt cùng khởi lên.
Một
khi công phu bền bỉ, liên tục không gián đoạn, thì Thiền
định của các ngươi tất nhiên sẽ được thuần thục, và
nghi tình của các ngươi nhất định bùng vỡ dữ dộị
Rồi
các ngươi sẽ thấy Niết Bàn và sinh tử, cõi Tịnh Độ và
cõi uế trược, chỉ là hí luận, và ngay từ đầu chẳng
cần gì giải thích hay bình chú , và thêm nữa, TÂM không thuộc
cảnh giới tâm ý thức, do đó là BẤT KHẢ ĐẮC
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch
giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
(Trang
182)
Theo
thiền sư Cao Phong Nguyên Diệu, chúng ta được biết như vầy
:
--
Công án tôi thường đặt cho các môn nhân là :
" Vạn
pháp qui Nhất, Nhất qui hà xứ ? "
Tôi
khuyên họ hãy tham cứu câu này . Tham cứu câu ấy tức là
đánh thức một mối nghi tình lớn đối vớ ý nghĩa cứu
cánh của công án.
" Vạn
pháp thiên sai vạn biệt được qui về Một, nhưng rồi Một
trở về đâu ?"
Tôi
bảo họ, hãy đem hết sức mạnh bình sinh mà đeo đuổi mối
nghi này, đừng lúc nào xao lãng. Dù đi, đứng, nằm, ngồi,
hay làm các công việc, đừng để thời giờ luống trôi qua
.
" Rồi
ra cái Một trở về đâu ?"
Hãy
cố mà tìm một câu trả lời chính xác cho câu hỏi này .
Đừng buông trôi mình trong cái vô sự; đừng luyện tập tưởng
tượng phiêu du mà hãy cố thực hiện cho được cái trạng
thái toàn nhất viên mãn bằng cách đẩy nghi tình lướt tới,
bền bỉ và không hở. Rồi các ngươi sẽ thấy mình như một
kẻ bịnh ngặt, chẳng còn muốn ăn uống gì nữa . Lại như
một thằng khờ, không hiểu cái gì ra cái gì hết.
Khi
công phu đến đây, giờ là lúc tâm hoa của các ngươi bừng
nở.
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch
giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
(Trang
178)
Dù
vậy, người ta phải tin tưởng ở công án; nếu muốn có
một đường lối hành trì và được nó đánh thức dậy mà
chứng ngộ (satori).
Bây
giờ, vấn đề là : " Làm sao để đẩy công án -- ít ra là
công án đầu tiên -- vào bình diện tâm thức khiến nó chiếm
ngay trung tâm, một khi người ta dốc chí giải quyết ý nghĩa
của nó ?
Dĩ
nhiên đây chẳng có nội hàm luận lý, vì mục đích của
nó là bẻ gãy mọi đường lối suy luận và nghĩ tưởng.
Thí dụ, khi một hành giả Thiền được dạy cho chữ
" VÔ ", y sẽ phải làm sao với chữ này ?
Dĩ
nhiên y chẳng suy nghĩ về nó, vì lối tư duy hợp lý chẳng
làm gì được.
VÔ
không đề ra một ý nghĩ nào hết, bởi vì không thể tư duy
về nó liên hệ đến con chó, cả đến Phật tính cũng không.
Nó
là VÔ, chỉ có thế.
Công
án không chối, không nhận có Phật tính nơi con chó, dù Triệu
Châu dùng VÔ khi được hỏi về Phật tính.
Khi
chữ VÔ được đặt thành công án cho kẻ sơ học, nó đứng
đấy một mình ; và chính cái đó, ngay từ khởi thủy, các
Thiền sư thường cần dùng đến như một thứ điểm nhãn.
Với
"cây bách" cũng vậy . Nó chỉ là "cây bách", chẳng có tương
quan luận lý nào với câu hỏi :" Sơ Tổ sang Tàu có ý gì?"
... " ...
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch
giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
(Trang
189)
Không
Cốc Long hình như tán thưởng phép niệm Phật và công án,
nhưng khi khuyên dạy các môn đệ tự thực tập công án, ngài
coi nghi tình là sức mạnh chống đỡ công án.
Bởi
ngài nói rằng công án phải được " mặc mặc tham cứu "
, và rằng chữ VÔ phải được làm sáng tỏ " minh " bằng
đợi chờ trong cuồng nộ (phẫn phẫn dạng); rằng, Thiền
giả đừng mang vào mình cái tư tưởng này : " Tâm này còn
tạo tác khi thân này còn tồn tại trong hiện hữu như huyễn
của nó, nhưng nó sẽ an trụ nơi đâu khi xác chết này ra
tro bụi ?".
Để
thấy cái MỘT của vạn pháp rốt ráo nằm ở đâu, người
học phải phản quan tự chiếu và đặt nghi tình vào vấn
đề để quyết định nơi chốn của nó là " ĐÂU " .
Tất
cả các Thiền sư kể trên thuộc cuối đời Nguyên và đầu
đời Minh, khi hệ thống công án trở thành một phương pháp
rất vững chãi trong việc chứng Thiền, tùy theo sự duy trì
một nghi tình mãnh liệt đối với ý nghĩa của công án hay
chính cái tâm tình nghi vấn như thế .
Không
phải chỉ giữ vững công án trong lòng, ngưng tụ tất cả
năng lực tinh thần vào đó giống như một thứ nam châm; sự
duy trì phải được thực hiện và nuôi dưỡng bằng một
tiềm lực mạnh của năng lực tâm linh, và nếu không tựa
vào đó thì sự duy trì công án trở thành máy móc và
Thiền mất hẳn sinh lực sáng tạo của nó .
.....".....
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch
giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
(Trang
191)
Chúng
ta có thể hỏi :
--
Tại sao phương pháp có tính cách máy móc lại cũng không hoàn
toàn phù hợp với tinh thần của Thiền ?
--
Tại sao phương pháp nghi vấn được tán thành ?
--
Tại sao cần phải giữ vững nghi tình trong suốt sự thực
tập công án ?
--
Có tương quan nào với chính bản tính của chứng ngộ khởi
lên từ công án ?
Lý
do tại sao các Thiền sư hoàn toàn chú trọng đến tính cách
trọng yếu của nghi tình, theo tôi, là bởi sự kiện rằng
lối thực tập công án trước tiên là cốt để tái tạo
ý thức Thiền, cái ý thức đã phát khởi một cách tự nhiên
trong lòng của các Thiền giả sơ khai .
Những
vị Thiền giả sơ khai này, trước khi hạ thủ tập Thiền,
chắc chắn họ đã từng là những người thông hiểu triết
lý của đạo Phật; quả thực họ đã thông hiểu đến độ
hết cả hài lòng; vì họ nhận ra rằng trong các học thuyết
này chẳng có gì ngoài phân tích và liễu biệt.
Cái
ước vọng xuyên thủng bức màn vẫn còn mãnh liệt trong lòng
họ.
Tâm,
Phật tánh hay vô thức là gì mà lúc nào cũng bị che giấu
sau những thiên sai vạn biệt, mà chúng ta cảm thấy nó ở
ngay trong lòng mình ?
Họ
muốn nắm ngay nó, thấy thẳng nó như các đức Phật quá
khứ đã từng làm.
Được
thôi thúc bởi khát vọng này, cái nghi tình ấy, họ quay nhìn
lại nội tâm rất hăng hái, rất bền bỉ, để cho cánh cửa
rồi sẽ được mở ra, và họ sẽ thấu suốt.
Cái
sự tình gõ cửa liên hồi như vậy là điều kiện tiên quyết,
lúc nào nó cũng có vẻ sờ sờ ra đấy và chấm dứt khi ý
thức Thiền của họ được chín mùi .
Chủ
đích của tập Thiền là dẫn đến tâm trạng căng thẳng
này, trong một chiều hướng giả tạm, bởi vì các Thiền
sư không chờ đợi một thiên tài Thiền học thoạt nhiên
chỗi dậy, chỗi dậy một cách lẻ loi, giữa những huynh đệ
căn khí tâm linh kém cỏi .
Trừ
phi bản tính thượng lưu của Thiền được hạ xuống một
chút để cho cả đến hạng người căn tính tầm thường
cũng có thể sống cuộc đời của một Thiền sư, nếu không,
Thiền tự nó có lẽ biến mất nhanh chóng khỏi mảnh đất
mà Bồ-Đề-Đạt-Ma và các đồ đệ của ngài đã khổ công
gầy dựng gốc rễ sâu xa của nó ..."...
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch
giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
(Trang
194)
Thiền
sư Thạch Điền Pháp Tuân (1170 - 1244) nói :
Những
người có thể bước qua đường của Tổ Tông chúng ta thật
hiếm thay !
Nó
sâu thẳm mịt mù hơn cái hố sâu không đáy
Khỏi
cần đưa tay giúp đỡ những khách bộ hành
Hãy
để cho rong rêu trước sân mặc tình xanh lên .
Cố
nhiên cái quan điểm này của Thiền là điều mà chúng ta phải
mong đợi nơi một Thiền sư chân chính.
Nhưng
khi mà rong rêu nơi cửa Thiền chưa từng bị giẫm đạp bởi
bước chân của một chúng sinh nào, thì Thiền sẽ thành ra
cái gì ?
Phải
làm sao cho con đường khả dĩ đi được, ít ra trong mức độ
nào đó.
Phải
khám phá ra một vài phương tiện giả tạm, hầu dễ lôi cuốn
những tâm hồn một ngày nào đó trở thành truyền nhân đích
thực của Thiền.
Sự
phát khởi của lối thực tập công án hoàn toàn là một sự
tăng trưởng tự nhiên trong lịch sử của Thiền.
Muốn
thế, nhiệm vụ của một công án phải là cốt tạo ra, gần
như giả trang, cùng một trạng thái ý thức như đã được
kinh nghiệm bởi các Thiền sư xưa một cách ngẫu nhiên. Đấy
là phương tiện đẩy nghi tình vào một điểm tập trung, hay
"đại nghi" .
Nơi
công án, không có đầu mối hợp lý để tựa vào bằng trí
năng và biện luận, và vì vậy, hành giả sơ cơ phải quay
ngược luận lý thành tâm lý, quay ngược lý niệm thành kinh
nghiệm cá nhân, quay ngược cái ngoại diện thành nội thể
thâm sâu của chính mình ..."...
Trích
Thiền Luận, bộ trung;
Luận
giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch
giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
(Trang
201)
Trong
một tác phẩm tựa đề "Bác Sơn Tham Thiền Cảnh Ngữ", tác
giả là Vô Dị Nguyên Lai (1575 - 1630) viết về những lời
cảnh tỉnh của Thiền sư Bác Sơn, vấn đề nghi tình được
thảo luận rất kỹ. Sau đây lược nêu :
" Trong
công phu chứng Thiền, điều cần thiết là nuôi dưỡng một
khát vọng mãnh liệt muốn hủy diệt cái tâm còn trong vòng
sinh diệt. Khi khát vọng này được khơi dậy, hành giả nghe
ra tuồng như mình đang bị một ngọn lửa hừng hực vây phủ.
Y muốn trốn chạy lại không thể được, đứng im ra đấy
không thể được, suy nghĩ vớ vẩn không thể được, mong
chờ tha lực cũng không thể được. Để khỏi mất thì giờ,
y phải vận hết sức bình sinh mà nhẩy xổ ra, không e dè
gì đến hậu quả.
Một
khi khát vọng ấy được nuôi dưỡng, bước kế tiếp có
tính cách thủ thuật hơn, theo đó, phải khơi dậy nghi tình
và giữ vững nó trong lòng, cho đến phút chót khi đi tới
một giải đáp. Mối nghi này nhắm từ chỗ "sinh từ đâu
đến, chết đi về đâu", và luôn luôn được nuôi dưỡng
bởi khát vọng muốn vượt lên trên sống chết. Cái đó khó
lắm, trừ phi nghi tình được thuần thục và tự bùng vỡ
bằng một trạng thái chứng ngộ.
Phương
pháp làm thuần thục cốt ở chỗ :
1 --
Không bận lòng đến những pháp thế tục
2
-- Không đắm mình trong trạng thái tịch mặc
3
-- Không dao động bởi vạn vật
4
-- Luôn luôn tự cảnh tỉnh như mèo rình chuột
5
-- Tập trung tâm lực vào công án
6
-- Không cố gắng giải quyết công án bằng trí năng trong
khi chẳng có trình tự luận lý nào trong đó
7
-- Không cố mổ xẻ nó
8
-- Không coi nó là một trạng thái vô hành
9
-- Không coi trạng thái sáng tỏ tạm thời là cứu cánh
10
-- Không đọc công án y như tuồng niệm Phật hay tụng chú.
Khi
những chỉ dẫn này được thi hành nghiêm chỉnh, hành giả
chắc chắn đưa nghi tâm đến chỗ thuần thục. Nếu không,
không những không khơi dậy nổi nghi tình, hành giả còn dấn
bước vào những chốn lầm lạc và sẽ không bao giờ có thể
vượt khỏi sự ràng buộc của sống chết, nghĩa là không
chứng được đạo Thiền
Trích
Bác Sơn Tham Thiền Cảnh Ngữ ;
Soạn
giả: Vô Dị Nguyên Lai ;
Dich
giả : Nguyên Chánh.
(Trang
31)
Tham
Thiền đề khởi thoại đầu, chỉ biết nghi tình đập chẳng
vỡ ắt không có niệm thứ hai, quyết chẳng nên nhằm trên
kinh sách dẫn chứng, kích động thức tình . Thức tình bị
kích động ắt vọng niệm nổi lên, muốn "đường ngôn ngữ
dứt, chỗ tâm hành diệt" làm sao được !
Đạo,
chẳng nên rời dù trong khoảnh khắc, nếu rời thì chẳng
phải Đạo .
Công
phu chẳng nên gián đoạn, dù trong khoảnh khắc, nếu gián
đoạn thì chẳng phải công phu .
Người
chân chính tham cứu như lửa cháy lông mày, tựa lửa cháy
đầu, đâu có rỗi rảnh để việc khác làm động niệm.
Cổ
đức nói :" Như một người địch với muôn người, đối
diện đâu cho nháy mắt". Lời này rất thiết yếu đối với
người tham thiền, cần phải biết vậy .
Tham
thiền, tự mình tham chưa triệt ngộ, chỉ nên lo giải quyết
cho xong việc tham cứu của mình, chẳng nên dạy người, như
người chưa đến kinh thành mà nói cho người khác nghe về
việc trong kinh thành chẳng những dối người mà cũng là dối
mình vậy .
Tham
thiền ngày đêm chẳng dám biếng trễ như đại sư Từ Minh,
ban đêm buồn ngủ ngài dùng mũi dùi đâm vào mình và nói
:" Người xưa vì Đạo quên ăn bỏ ngủ, còn ta nay là người
gì?"
Cổ
nhân vẽ một vòng tròn bằng phấn, Đạo chẳng tỏ ngộ,
chẳng bước chân ra ngoài . Người thời nay buông lung tình
ý, chơi đùa lêu lổng, cho đó là hoạt bát, thật đáng thương
!
Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 10-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 327 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân