SỐ 311 THÁNG 11 NĂM 2003
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
TU TẬP CÔNG ÁN
Trích Thiền Luận, bộ trung; 
Luận giả: Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki; 
Bản dịch của Tuệ Sỹ
(Trang 184) 

Thiên Kỳ Thụy hòa thượng thị chúng:

Hãy gột sạch khỏi tâm tất cả khôn ngoan lừa lọc, dứt mình ra khỏi tham sân do chấp ngã, và đừng để những mối suy nghĩ phân hai quấy phá, để cho tâm thức được lau chùi sạch sẽ.

Khi đã thanh lọc được như vậy rồi, hãy đề khởi công án trước tâm: "Muôn pháp về một, một về chỗ nào ?"

Hãy nghiền ngẫm vấn đề này từ thủy chí chung, hoặc bằng nhiều nghi vấn, hoặc đơn độc một suy nghĩ, hoặc chỉ nghiền ngẫm cái "một" ở nơi đâụ Bất cứ bằng cách nào, cứ để cho hết thảy đầu mối của các câu hỏi ghi đậm trên ý thức của các ngươi, khiến cho nó trở thành cái độc nhất, là cái đích chú tâm.

Nếu các ngươi để phân biệt lý luận xen vào chuỗi dây liên tục bền bỉ của nghi tình, kết quả sẽ làm sụp đổ hết cả công trình tu tập.

Một khi các ngươi chẳng để được công án trước tâm, chẳng có cơ duyên nào để chứng ngộ hết.....

Cốt yếu bậc nhất là khơi dậy cái đại nghi "một qui về đâủ"....

Trích Thiền Luận, bộ trung;
Luận giả: Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki;
Bản dịch của Tuệ Sỹ
(Trang 274)

Thiền muốn chùi sạch tất cả những cặn bã tri thức trong tâm thức của mọi người để họ có thể tiếp thọ sơ phát tâm bằng tất cả sự thanh khiết và thuần nhất của nó. Vì mục đích này mà công án, --  vốn dĩ là vô nghĩa theo lối hiểu biết phàm phu, -- được đề ra cho các môn đệ. Ý là quay trở về cái không hư nguyên thủy trong đó chưa có ý thức tác dụng. Đây là một trạng thái vô sinh.

Thiền bắt đầu từ đó và Tịnh Độ tông cũng vậy .
 

CN:  Trở về cái nguyên thủy thì chỉ trở về cái VÔ MINH như đất đá, cây cỏ, sâu bọ, cá mú, khỉ, đười ươi, ... mà thôi ông SUZUKI ạ.

Nếu cái nguyên thủy đã sáng suốt tròn đầy thì tại làm sao mà nó bị trở thành mê mờ?   Nếu đã bị trở thành mê mờ như vậy thì dầu có tu cho sáng suốt trở lại rồi mai kia mốt nọ, nó cũng lại mê mờ như từng đã xảy ra, thì tu vô ích quá !

Ai là đồ đệ thượng thặng của SUZUKI xin "banh" mắt giùm cho tui điều này thử coị
CN
 

From:  Khucdinhhop@ạ.. 
Date:  Sat Oct 4, 2003  8:10 pm
Subject:  Mê ... Giác ...
 

Trích Lăng Nghiêm Tông Thông, tập một. 
Luận giả: Cư sĩ Tăng Phụng Nghi; 
Dịch giả: Thiền sư Nhẫn Tế.
 
IV. CHỈ RÕ GIÁC CHẲNG SANH MÊ 

Kinh : 

Ông Phú Lâu Na thưa : 

-- Nếu cái Diệu Giác đó, bản tánh là Diệu Minh, cùng với Tâm Như Lai, không tăng không giảm, mà không cớ gì bỗng sanh các tướng hữu vi núi, sông, đất đaị Vậy nay Như Lai đã đắc Diệu Giác Minh Không đó, thì lúc nào lại sanh ra núi, sông, đất đai và các tập lậu hữu vi ?" 

Phật bảo Ông Phú Lâu Na : 

-- Ví như người mê, nơi một xóm làng, lầm phương Nam làm phương Bắc, thì cái mê ấy nhân do Mê mà có hay nhân Ngộ mà sinh ra ?

Ông Phú Lâu Na thưa : 

-- Người mê như vậy, cũng chẳng nhân Mê, cũng chẳng nhân Ngộ. Vì sao thế ? Cái Mê vốn không có gốc gác, làm sao mà nhân Mê ? Ngộ chẳng sanh ra Mê, làm sao mà nhân Ngộ ? 

Đức Phật nói :

-- Cái người mê kia, ngay trong lúc mê, bỗng có người ngộ chỉ bày cho khiến tỏ ngộ. Này Phú Lâu Na, ý ông thế nào ? Người ấy đã thả cái Mê ra rồi, thì đối nơi xóm làng đó, có còn sanh mê lại không ?

-- Bạch Thế Tôn, không. 

-- Phú Lâu Na, mười phương Như Lai lại cũng như thế. Cái Mê ấy không có gốc gác, tánh nó rốt ráo không. Xưa vốn chẳng có Mê, chỉ hình như có Mê, có Giác. Giác được cái Mê, thì Mê diệt mà cái Giác vốn chẳng sanh Mệ 

Cũng như người lòa mắt, thấy hoa đốm giữa hư không. Bệnh lòa nếu hết, thì hoa đốm ở hư không diệt mất. Bỗng có người ngu, ở chỗ hư không mà hoa đốm kia đã diệt, đợi chờ hoa đốm sanh ra trở lạị Ông xét người đó là ngu hay là trí huệ ?

Ông Phú Lâu Na thưa :

-- Hư không vốn không có hoa đốm, mà vọng thấy có sanh có diệt. Thấy có hoa diệt mất giữa hư không đã là điên đảo rồị Lại còn muốn bảo nó sanh ra lại thì thật là điên dại, làm sao mà gọi người điên như vậy là ngu hay là trí.

Phật dạy : 
-- Ông hiểu như thế, sao lại còn hỏi : "Tánh Diệu Giác Minh Không của Chư Phật Như Lai khi nào lại sanh ra núi, sông, đất đai ?" Cũng như quặng vàng lẫn lộn với vàng ròng, một khi vàng đã thành ròng, chẳng trở lại thành dơ tạp. Như cây đã đốt thành tro, không trở lại thành cây nữạ Bồ Đề, Niết Bàn của chư Phật Như Lai cũng lại như thế...."... 
 

THÔNG rằng : 

Kinh Viên Giác, Bồ Tát Kim Cang Tạng hỏi Đức Thế Tôn rằng : "Nếu chúng sanh xưa nay thành Phật, thì tại sao có hết thảy Vô Minh ? Nếu chúng sanh vốn có Vô Minh, thì vì nhân duyên gì Như Lai lại nói bổn lai thành Phật ? Các loài dị sanh trong mười phương, vốn thành Phật Đạo, sau lại khởi Vô Minh, thì tất cả Như Lai khi nào lại sanh ra tất cả phiền não ?" 

Thế Tôn đáp rằng : "Này trai lành ! Hết thảy thế giới thủy chung sanh diệt, trước sau Có, Không, Tụ, Tán, Khởi, Dừng niệm niệm nối nhau, xoay vòng đi lại, đủ thứ nắm bỏ, đều là luân hồị Chưa ra khỏi luân hồi mà tìm hiểu Viên Giác thì tánh Viên Giác kia cũng đồng trôi chuyển. Nếu thoát khỏi luân hồi, thì làm gì có chuyện đó !" 

Nay chỗ nghi của ông Phú Lâu Na không khác với Bồ Tát Kim Cang Tạng mà Thế Tôn chỉ tùy theo cái thấy sanh diệt của ông mà phá. Đưa tiếp nhau bốn thí dụ : 

Thứ nhất là Giác chẳng trở lại Mê; 
Thứ hai là diệt rồi chẳng sanh trở lại; 
Thứ ba là vàng ròng chẳng trở lại quặng ; 
Thứ bốn là tro chẳng thành lại câỵ 

Hai ý sau diễn lại hai ý chánh trước. Giác chẳng trở lại Mê, tức là Bồ Đề. Diệt chẳng trở lại sanh, tức là Niết Bàn. Đây là đã ra khỏi luân hồi mà biểu hiện Viên Giác. Tánh Viên Giác ấy tức chẳng có luân hồi, nên nói Bồ Đề, Niết Bàn của Chư Phật Như Lai cũng lại như thế. 

Chúng sanh ở trong Mê, chỗ cần yếu là phải Giác. Nhưng từ xưa vốn không có sự Mê, cái Mê từ vô thủy, chỉ tương tự như Mê . 

Bởi vì ngay khi Mê cũng chưa từng bỏ mất, nên nói chỉ tựa hồ như Mệ Nay cũng không phải là không có Giác. Từ Mê mà Giác, thì cũng tựa hồ có Giác, vì ngay khi Giác, thì có đắc gì đâu, nên gọi là tựa hồ như Giác. Giác cái Mê, thì Mê diệt, đó là Thủy Giác. Giác cho đến chỗ Thủy Giác và Bổn Giác không khác, thì chỉ là một Diệu Giác. Thế là chẳng trở lại sanh Mê, chỉ tự chẳng Mê, Giác cũng thành vô dụng. 

(Trang 486)

Trích từ :
http://www.thuvienhoasen.org/lntt-04-01.htm 

Trích Thiền Luận, bộ trung;
Luận giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki; 
Dịch giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
(Trang 186)

Thiền sư Sở Sơn Thiệu Kỳ nói :

-- Người sơ cơ cần nhất là phải có một vật để nắm mà vào Thiền ; và vì thế họ được dạy cho pháp môn niệm Phật. Phật tức tâm, Tâm tức Phật. Tâm và Phật từ đâu mà có ? Có từ Tâm. Tâm ấy không phải là tâm, không phải Phật, không phải vật. Vậy là cái gì ?

Muốn thấy ra, hãy vứt bỏ đi tất cả những cái đã tích chứa do học tập, tri thức, kiến giải; hãy chỉ hoàn toàn chuyên chú vào một câu hỏi : 

"Ai đang niệm Phật ?" 

Hãy để cho nghi tình này nghi đến cực độ ; đừng say sưa theo những nghĩ tưởng mê lầm ; đừng để cho những ý tưởng phân biệt cùng khởi lên.

Một khi công phu bền bỉ, liên tục không gián đoạn, thì Thiền định của các ngươi tất nhiên sẽ được thuần thục, và nghi tình của các ngươi nhất định bùng vỡ dữ dộị

Rồi các ngươi sẽ thấy Niết Bàn và sinh tử, cõi Tịnh Độ và cõi uế trược, chỉ là hí luận, và ngay từ đầu chẳng cần gì giải thích hay bình chú , và thêm nữa, TÂM không thuộc cảnh giới tâm ý thức, do đó là BẤT  KHẢ  ĐẮC

Trích Thiền Luận, bộ trung;
Luận giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki; 
Dịch giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
(Trang 182)

Theo thiền sư Cao Phong Nguyên Diệu, chúng ta được biết như vầy :

-- Công án tôi thường đặt cho các môn nhân là :

" Vạn pháp qui Nhất, Nhất qui hà xứ ? "

Tôi khuyên họ hãy tham cứu câu này . Tham cứu câu ấy tức là đánh thức một mối nghi tình lớn đối vớ ý nghĩa cứu cánh của công án. 

" Vạn pháp thiên sai vạn biệt được qui về Một, nhưng rồi Một trở về đâu ?" 

Tôi bảo họ, hãy đem hết sức mạnh bình sinh mà đeo đuổi mối nghi này, đừng lúc nào xao lãng. Dù đi, đứng, nằm, ngồi, hay làm các công việc, đừng để thời giờ luống trôi qua .

" Rồi ra cái Một trở về đâu ?" 

Hãy cố mà tìm một câu trả lời chính xác cho câu hỏi này . Đừng buông trôi mình trong cái vô sự; đừng luyện tập tưởng tượng phiêu du mà hãy cố thực hiện cho được cái trạng thái toàn nhất viên mãn bằng cách đẩy nghi tình lướt tới, bền bỉ và không hở. Rồi các ngươi sẽ thấy mình như một kẻ bịnh ngặt, chẳng còn muốn ăn uống gì nữa . Lại như một thằng khờ, không hiểu cái gì ra cái gì hết. 

Khi công phu đến đây, giờ là lúc tâm hoa của các ngươi bừng nở.

Trích Thiền Luận, bộ trung; 
Luận giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
(Trang 178) 

Dù vậy, người ta phải tin tưởng ở công án; nếu muốn có một đường lối hành trì và được nó đánh thức dậy mà chứng ngộ (satori). 

Bây giờ, vấn đề là : " Làm sao để đẩy công án -- ít ra là công án đầu tiên -- vào bình diện tâm thức khiến nó chiếm ngay trung tâm, một khi người ta dốc chí giải quyết ý nghĩa của nó ?

Dĩ nhiên đây chẳng có nội hàm luận lý, vì mục đích của nó là bẻ gãy mọi đường lối suy luận và nghĩ tưởng. Thí dụ, khi một hành giả Thiền được dạy cho chữ  " VÔ ", y sẽ phải làm sao với chữ này ? 

Dĩ nhiên y chẳng suy nghĩ về nó, vì lối tư duy hợp lý chẳng làm gì được.

VÔ không đề ra một ý nghĩ nào hết, bởi vì không thể tư duy về nó liên hệ đến con chó, cả đến Phật tính cũng không.

Nó là VÔ, chỉ có thế.

Công án không chối, không nhận có Phật tính nơi con chó, dù Triệu Châu dùng VÔ khi được hỏi về Phật tính. 

Khi chữ VÔ được đặt thành công án cho kẻ sơ học, nó đứng đấy một mình ; và chính cái đó, ngay từ khởi thủy, các Thiền sư thường cần dùng đến như một thứ điểm nhãn.

Với "cây bách" cũng vậy . Nó chỉ là "cây bách", chẳng có tương quan luận lý nào với câu hỏi :" Sơ Tổ sang Tàu có ý gì?" ... " ...
 

Trích Thiền Luận, bộ trung; 
Luận giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki; 
Dịch giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
(Trang 189)

Không Cốc Long hình như tán thưởng phép niệm Phật và công án, nhưng khi khuyên dạy các môn đệ tự thực tập công án, ngài coi nghi tình là sức mạnh chống đỡ công án. 

Bởi ngài nói rằng công án phải được " mặc mặc tham cứu " , và rằng chữ VÔ phải được làm sáng tỏ " minh " bằng đợi chờ trong cuồng nộ (phẫn phẫn dạng); rằng, Thiền giả đừng mang vào mình cái tư tưởng này : " Tâm này còn tạo tác khi thân này còn tồn tại trong hiện hữu như huyễn của nó, nhưng nó sẽ an trụ nơi đâu khi xác chết này ra tro bụi ?". 

Để thấy cái MỘT của vạn pháp rốt ráo nằm ở đâu, người học phải phản quan tự chiếu và đặt nghi tình vào vấn đề để quyết định nơi chốn của nó là " ĐÂU " .

Tất cả các Thiền sư kể trên thuộc cuối đời Nguyên và đầu đời Minh, khi hệ thống công án trở thành một phương pháp rất vững chãi trong việc chứng Thiền, tùy theo sự duy trì một nghi tình mãnh liệt đối với ý nghĩa của công án hay chính cái tâm tình nghi vấn như thế . 

Không phải chỉ giữ vững công án trong lòng, ngưng tụ tất cả năng lực tinh thần vào đó giống như một thứ nam châm; sự duy trì phải được thực hiện và nuôi dưỡng bằng một tiềm lực mạnh của năng lực tâm linh, và nếu không tựa vào đó  thì sự duy trì công án trở thành máy móc và Thiền mất hẳn sinh lực sáng tạo của nó .
.....".....

Trích Thiền Luận, bộ trung; 
Luận giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki; 
Dịch giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
(Trang 191)

Chúng ta có thể hỏi : 

-- Tại sao phương pháp có tính cách máy móc lại cũng không hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Thiền ? 

-- Tại sao phương pháp nghi vấn được tán thành ? 

-- Tại sao cần phải giữ vững nghi tình trong suốt sự thực tập công án ?

-- Có tương quan nào với chính bản tính của chứng ngộ khởi lên từ công án ?

Lý do tại sao các Thiền sư hoàn toàn chú trọng đến tính cách trọng yếu của nghi tình, theo tôi, là bởi sự kiện rằng lối thực tập công án trước tiên là cốt để tái tạo ý thức Thiền, cái ý thức đã phát khởi một cách tự nhiên trong lòng của các Thiền giả sơ khai .

Những vị Thiền giả sơ khai này, trước khi hạ thủ tập Thiền, chắc chắn họ đã từng là những người thông hiểu triết lý của đạo Phật; quả thực họ đã thông hiểu đến độ hết cả hài lòng; vì họ nhận ra rằng trong các học thuyết này chẳng có gì ngoài phân tích và liễu biệt.

Cái ước vọng xuyên thủng bức màn vẫn còn mãnh liệt trong lòng họ.

Tâm, Phật tánh hay vô thức là gì mà lúc nào cũng bị che giấu sau những thiên sai vạn biệt, mà chúng ta cảm thấy nó ở ngay trong lòng mình ?

Họ muốn nắm ngay nó, thấy thẳng nó như các đức Phật quá khứ đã từng làm. 

Được thôi thúc bởi khát vọng này, cái nghi tình ấy, họ quay nhìn lại nội tâm rất hăng hái, rất bền bỉ, để cho cánh cửa rồi sẽ được mở ra, và họ sẽ thấu suốt.

Cái sự tình gõ cửa liên hồi như vậy là điều kiện tiên quyết, lúc nào nó cũng có vẻ sờ sờ ra đấy và chấm dứt khi ý thức Thiền của họ được chín mùi .

Chủ đích của tập Thiền là dẫn đến tâm trạng căng thẳng này, trong một chiều hướng giả tạm, bởi vì các Thiền sư không chờ đợi một thiên tài Thiền học thoạt nhiên chỗi dậy, chỗi dậy một cách lẻ loi, giữa những huynh đệ căn khí tâm linh kém cỏi . 

Trừ phi bản tính thượng lưu của Thiền được hạ xuống một chút để cho cả đến hạng người căn tính tầm thường cũng có thể sống cuộc đời của một Thiền sư, nếu không, Thiền tự nó có lẽ biến mất nhanh chóng khỏi mảnh đất mà Bồ-Đề-Đạt-Ma và các đồ đệ của ngài đã khổ công gầy dựng gốc rễ sâu xa của nó ..."...
 

Trích Thiền Luận, bộ trung; 
Luận giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki;
Dịch giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
(Trang 194)

Thiền sư Thạch Điền Pháp Tuân (1170 - 1244) nói :

Những người có thể bước qua đường của Tổ Tông chúng ta thật hiếm thay !
Nó sâu thẳm mịt mù hơn cái hố sâu không đáy
Khỏi cần đưa tay giúp đỡ những khách bộ hành
Hãy để cho rong rêu trước sân mặc tình xanh lên .

Cố nhiên cái quan điểm này của Thiền là điều mà chúng ta phải mong đợi nơi một Thiền sư chân chính. 

Nhưng khi mà rong rêu nơi cửa Thiền chưa từng bị giẫm đạp bởi bước chân của một chúng sinh nào, thì Thiền sẽ thành ra cái gì ?

Phải làm sao cho con đường khả dĩ đi được, ít ra trong mức độ nào đó. 

Phải khám phá ra một vài phương tiện giả tạm, hầu dễ lôi cuốn những tâm hồn một ngày nào đó trở thành truyền nhân đích thực của Thiền.

Sự phát khởi của lối thực tập công án hoàn toàn là một sự tăng trưởng tự nhiên trong lịch sử của Thiền.

Muốn thế, nhiệm vụ của một công án phải là cốt tạo ra, gần như giả trang, cùng một trạng thái ý thức như đã được kinh nghiệm bởi các Thiền sư xưa một cách ngẫu nhiên. Đấy là phương tiện đẩy nghi tình vào một điểm tập trung, hay "đại nghi" .

Nơi công án, không có đầu mối hợp lý để tựa vào bằng trí năng và biện luận, và vì vậy, hành giả sơ cơ phải quay ngược luận lý thành tâm lý, quay ngược lý niệm thành kinh nghiệm cá nhân, quay ngược cái ngoại diện thành nội thể thâm sâu của chính mình ..."...
 

Trích Thiền Luận, bộ trung; 
Luận giả :Thiền sư Daisetz teitaro Suzuki; 
Dịch giả : Thượng tọa Tuệ Sỹ.
(Trang 201)

Trong một tác phẩm tựa đề "Bác Sơn Tham Thiền Cảnh Ngữ", tác giả là Vô Dị Nguyên Lai (1575 - 1630) viết về những lời cảnh tỉnh của Thiền sư Bác Sơn, vấn đề nghi tình được thảo luận rất kỹ. Sau đây lược nêu :

" Trong công phu chứng Thiền, điều cần thiết là nuôi dưỡng một khát vọng mãnh liệt muốn hủy diệt cái tâm còn trong vòng sinh diệt. Khi khát vọng này được khơi dậy, hành giả nghe ra tuồng như mình đang bị một ngọn lửa hừng hực vây phủ. Y muốn trốn chạy lại không thể được, đứng im ra đấy không thể được, suy nghĩ vớ vẩn không thể được, mong chờ tha lực cũng không thể được. Để khỏi mất thì giờ, y phải vận hết sức bình sinh mà nhẩy xổ ra, không e dè gì đến hậu quả.

Một khi khát vọng ấy được nuôi dưỡng, bước kế tiếp có tính cách thủ thuật hơn, theo đó, phải khơi dậy nghi tình và giữ vững nó trong lòng, cho đến phút chót khi đi tới một giải đáp. Mối nghi này nhắm từ chỗ "sinh từ đâu đến, chết đi về đâu", và luôn luôn được nuôi dưỡng bởi khát vọng muốn vượt lên trên sống chết. Cái đó khó lắm, trừ phi nghi tình được thuần thục và tự bùng vỡ bằng một trạng thái chứng ngộ.

Phương pháp làm thuần thục cốt ở chỗ :

1 -- Không bận lòng đến những pháp thế tục
2 -- Không đắm mình trong trạng thái tịch mặc
3 -- Không dao động bởi vạn vật
4 -- Luôn luôn tự cảnh tỉnh như mèo rình chuột
5 -- Tập trung tâm lực vào công án
6 -- Không cố gắng giải quyết công án bằng trí năng trong khi chẳng có trình tự luận lý nào trong đó
7 -- Không cố mổ xẻ nó
8 -- Không coi nó là một trạng thái vô hành
9 -- Không coi trạng thái sáng tỏ tạm thời là cứu cánh
10 -- Không đọc công án y như tuồng niệm Phật hay tụng chú.

Khi những chỉ dẫn này được thi hành nghiêm chỉnh, hành giả chắc chắn đưa nghi tâm đến chỗ thuần thục. Nếu không, không những không khơi dậy nổi nghi tình, hành giả còn dấn bước vào những chốn lầm lạc và sẽ không bao giờ có thể vượt khỏi sự ràng buộc của sống chết, nghĩa là không chứng được đạo Thiền
 

Trích Bác  Sơn Tham Thiền Cảnh Ngữ ; 
Soạn giả: Vô Dị Nguyên Lai ; 
Dich giả : Nguyên Chánh.
(Trang 31)

Tham Thiền đề khởi thoại đầu, chỉ biết nghi tình đập chẳng vỡ ắt không có niệm thứ hai, quyết chẳng nên nhằm trên kinh sách dẫn chứng, kích động thức tình . Thức tình bị kích động ắt vọng niệm nổi lên, muốn "đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt" làm sao được !

Đạo, chẳng nên rời dù trong khoảnh khắc, nếu rời thì chẳng phải Đạo . 

Công phu chẳng nên gián đoạn, dù trong khoảnh khắc, nếu gián đoạn thì chẳng phải công phu . 

Người chân chính tham cứu như lửa cháy lông mày, tựa lửa cháy đầu, đâu có rỗi rảnh để việc khác làm động niệm.

Cổ đức nói :" Như một người địch với muôn người, đối diện đâu cho nháy mắt". Lời này rất thiết yếu đối với người tham thiền, cần phải biết vậy .

Tham thiền, tự mình tham chưa triệt ngộ, chỉ nên lo giải quyết cho xong việc tham cứu của mình, chẳng nên dạy người, như người chưa đến kinh thành mà nói cho người khác nghe về việc trong kinh thành chẳng những dối người mà cũng là dối mình vậy .

Tham thiền ngày đêm chẳng dám biếng trễ như đại sư Từ Minh, ban đêm buồn ngủ ngài dùng mũi dùi đâm vào mình và nói :" Người xưa vì Đạo quên ăn bỏ ngủ, còn ta nay là người gì?"

Cổ nhân vẽ một vòng tròn bằng phấn, Đạo chẳng tỏ ngộ, chẳng bước chân ra ngoài . Người thời nay buông lung tình ý, chơi đùa lêu lổng, cho đó là hoạt bát, thật đáng thương ! 
 
 

Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 10-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 327 KB) 
 
 

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412