118. Kinh
Nhập tức, Xuất tức niệm
(Kinh Quán niệm
hơi thở)
(Anàpànasati
sutta)
Như
vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Ðông Viên (Pubbarama),
giảng đường Lộc Mẫu (Migaramatupasade), cùng với rất nhiều
Thượng tọa có thời danh, có danh xưng như Tôn giả Sariputta
(Xá-lợi-phất), Tôn giả Mahamoggallana (Ðại Mục-kiền-liên),
Tôn giả Mahakaccayana (Ðại Ca-chiên-diên), Tôn giả Mahakotthita
(Ðại Câu-hy-la), Tôn giả Mahakappina (Ðại Kiếp-tân-na), Tôn
giả Mahacunda (Ðại Thuần-đà), Tôn giả Anuruddha (A-na-luật),
Tôn giả Revata (Ly-bà-đa) và Tôn giả Ananda (A-nan), cùng với
nhiều bậc Thượng tọa đệ tử khác có thời danh, có danh
xưng.
Lúc
bấy giờ, các Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy
các tân Tỷ-kheo. Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo,
giảng dạy mười tân Tỷ-kheo. Một số Thượng Tọa Tỷ-kheo
khuyến giáo, giảng dạy hai mươi tân Tỷ-kheo. Một số Thượng
tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy ba mươi tân Tỷ-kheo.
Một số Thượng Tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy bốn
mươi tân Tỷ-kheo. Và các tân Tỷ-kheo được các Thượng
tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy ý thức rõ ràng những
quả vị cao diệu, tiệm thứ, thù thắng đã chứng đạt.
Lúc
bấy giờ Thế Tôn, vào ngày Bố-tát, ngày rằm, vào đêm trăng
tròn sau ngày Tự tứ, đang ngồi giữa trời với chúng Tỷ-kheo
đoanh vây.Thế Tôn nhìn quanh chúng Tỷ-kheo đang yên lặng,
hết sức yên lặng, rồi bảo các Tỷ-kheo:
--
Ta được thỏa mãn, này các Tỷ-kheo, với đạo lộ này. Tâm
ta được thỏa mãn, này các Tỷ-kheo, với đạo lộ này. Do
vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tinh tấn hơn nữa, để chứng đạt
những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa
chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Ta
sẽ ở đây, tại Savatthi cho đến tháng tư, lễ Komudi.
Những
Tỷ-kheo địa phương được nghe: "Thế Tôn sẽ ở đây, tại
Savatthi, cho đến tháng tư, lễ Komudi". Các Tỷ-kheo địa phương
tụ họp tại Savatthi để yết kiến Thế Tôn.
Và
các Thượng tọa Tỷ-kheo lại càng khuyến giáo, giảng dạy
các tân Tỷ-kheo nhiều hơn nữa. Một số Thượng tọa Tỷ-kheo
khuyến giáo, giảng dạy mười tân Tỷ-kheo. Một số Thượng
tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy hai mươi tân Tỷ-kheo,
Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy ba mươi
tân Tỷ-kheo. Một số Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng
dạy bốn mươi tân Tỷ-kheo. Và những tân Tỷ-kheo được
các Thượng tọa Tỷ-kheo khuyến giáo, giảng dạy ý thức
rõ ràng những quả vị cao diệu, tiệm thứ, thù thắng đã
chứng đạt.
Lúc
bấy giờ Thế Tôn vào ngày Bố-tát, ngày rằm, vào đêm trăng
tròn, ngày lễ Komudi vào tháng tư, Thế Tôn đang ngồi ngoài
trời, chung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn
sau khi nhìn xung quanh chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, hết sức
yên lặng liền bảo các Tỷ-kheo:
--
Hội chúng này, này các Tỷ-kheo, không có lời thừa thải.
Hội chúng này, này các Tỷ-kheo, không có lời dư thừa, đã
được an trú trong lõi cây thanh tịnh. Chúng Tỷ-kheo như thế
này, này các Tỷ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỷ-kheo
là một hội chúng đáng được cung kính, đáng được tôn
trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là
phước điền vô thượng ở đời. Chúng Tỷ-kheo như thế
này, này các Tỷ-kheo, hội chúng như thế này, này các Tỷ-kheo,
là một hội chúng bố thí ít, được (phước báo) nhiều,
bố thí nhiều, càng được (phước báo) nhiều; hơn nữa.
Chúng Tỷ-kheo như thế này, này các Tỷ-kheo, hội chúng như
thế này, này các Tỷ-kheo, là một hội chúng khó thấy ở
đời. Chúng Tỷ-kheo như thế này, này các Tỷ-kheo, hội chúng
như thế này, này các Tỷ-kheo, là một hội chúng xứng đáng
đi nhiều do tuần (yojana) với một bao lương thực trên vai
để đến yết kiến. Chúng Tỷ-kheo này là như vậy, này các
Tỷ-kheo; hội chúng này là như vậy, này các Tỷ-kheo.
Này
các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo là
những A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn trừ, Phạm hạnh
đã thành, các việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt
xuống, mục đích đã thành đạt, hữu kiết sử đã được
đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí. Này các Tỷ-kheo,
có những bậc Tỷ-kheo như vậy trong chúng Tỷ-kheo này.
Này
các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo đã
đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ ở
đấy được nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại đời
này nữa. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt
trong chúng Tỷ-kheo này.
Này
các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, này có những Tỷ-kheo
đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham, sân,
si, là bậc Nhất lai, sau khi sanh vào đời này một lần nữa,
sẽ đoạn tận khổ đau. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các
Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này.
Này
các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo, có những Tỷ-kheo đã đoạn
trừ ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn đọa vào ác
đạo, chắc chắn sẽ được giác ngộ. Các bậc Tỷ-kheo như
vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này.
Này
các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo là
những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn niệm xứ.
Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng
Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những
Tỷ-kheo là những vị sống chuyên tâm, chú tâm, tu tập bốn
chánh cần. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có
mặt trong hội chúng này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo
này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bốn
như ý túc. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có
mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo
này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập năm
căn. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong
chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này,
có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập năm lực.
Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng
Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những
Tỷ-kheo, sống chuyên tâm, chú tâm tu tập bảy giác chi. Các
bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng
Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này có những
Tỷ-kheo sống chuyên tâm, chú tâm tu tập Thánh đạo tám ngành.
Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng
Tỷ-kheo này.
Này
các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống
chuyên tâm, chú tâm tu tập từ (tâm). Các bậc Tỷ-kheo như
vậy, này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này
các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống
chuyên tâm, chú tâm tu tập bi (tâm). Các bậc Tỷ-kheo như vậy,
này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo,
trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm,
chú tâm tu tập hỷ (tâm). Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các
Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo,
trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm,
chú tâm tu tập xả (tâm). Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này các
Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo,
trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo, sống chuyên tâm,
chú tâm tu tập bất tịnh. Các bậc Tỷ-kheo như vậy, này
các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo,
trong chúng Tỷ-kheo này có những Tỷ-kheo sống chuyên tâm,
chú
tâm tu tập vô thường tưởng. Các bậc Tỷ-kheo như vậy,
này các Tỷ-kheo, có mặt trong chúng Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo,
trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo sống chuyên tâm,
chú tâm tu tập nhập tức xuất tức niệm.
(Quán
niệm hơi thở)
Nhập
tức xuất tức niệm, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được
làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, công đức lớn. Nhập
tức xuất tức niệm, được tu tập, làm cho sung mãn, khiến
cho bốn niệm xứ được viên mãn. Bốn niệm xứ được tu
tập, làm cho sung mãn, khiến cho bảy giác chi được viên mãn.
Bảy giác chi được tu tập, làm cho sung mãn, khiến cho minh
giải thoát (vijjavimutti) được viên mãn.
Và
này các Tỷ-kheo, như thế tu tập nhập tức xuất tức niệm?
Như thế nào làm cho sung mãn? Như thế nào là quả lớn, công
đức lớn?
Ở
đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến
gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết-già,
lưng thẳng và trú niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy
thở vô; chánh niệm, vị ấy thở ra.
Thở
vô dài, vị ấy biết: "Tôi thở vô dài". Hay thở ra dài, vị
ấy biết: "Tôi thở ra dài". Hay thở vô ngắn, vị ấy biết:
"Tôi thở vô ngắn". Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở
ra ngắn". "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy
tập. "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh
thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Cảm
giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ
thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ,
tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ
thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy
tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An
tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Cảm
giác về tâm, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác về
tâm, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi
sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở
ra", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra", vị ấy
tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Quán
vô thường, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán vô thường,
tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập "Quán ly tham, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán
đoạn diệt, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt,
tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở
vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy
tập.
Nhập
tức xuất tức niệm, này các Tỷ-kheo, tu tập như vậy, làm
cho sung mãn như vậy, được quả lớn, được công đức lớn.
(Làm
viên mãn bốn niệm xứ)
Và
như thế nào, này các Tỷ-kheo, là nhập tức xuất tức niệm
được tu tập? Như thế nào, làm cho sung mãn, khiến bốn niệm
xứ được viên mãn?
Khi
nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thở vô dài, vị ấy biết:
"Tôi thở vô dài". Hay khi thở ra dài, vị ấy biết "Tôi thở
ra dài". Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở vô ngắn".
Hay khi thở ra ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở ra ngắn". "Cảm
giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác
cả toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh thân
hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi
sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi tùy quán thân trên thân,
này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đối
với các thân, Ta nói đây là một, tức là thở vô thở ra.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán thân trên thân,
vị Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế
ngự tham ưu ở đời.
Khi
nào, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo nghĩ: "Cảm giác hỷ thọ,
tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ
thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy
tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh
tâm hành tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành
tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi tùy quán thọ trên
các thọ, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo,
đối với các cảm thọ, Ta nói đây là một, tức là thở
vô thở ra. Do vậy này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán thọ
trên các cảm thọ, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Khi
nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nghĩ: "Cảm giác tâm, tôi sẽ
thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác tâm, tôi sẽ thở ra", vị
ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị ấy tu tập.
"Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm
Thiền định, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm Thiền
định, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát,
tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi
sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi tùy quán tâm trên tâm,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, sự
tu tập nhập tức xuất tức niệm không thể đến với kẻ
thất niệm, không có tỉnh giác. Do vậy, này các Tỷ-kheo,
trong khi tùy quán tâm trên tâm, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh
giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Khi
nào này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nghĩ: "Quán vô thường, tôi sẽ
thở vô", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở ra",
vị ấy tập. "Quán ly tham.... quán đoạn diệt... quán từ
bỏ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ
thở ra", vị ấy tập. Trong khi tùy quán trên các pháp, này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm
để chế ngự tham ưu ở đời. Vị ấy, do đoạn trừ tham
ưu, sau khi thấy với trí tuệ, khéo nhìn (sự vật) với niệm
xả ly. Do vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán pháp trên
các pháp, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để
chế ngự tham ưu ở đời.
Nhập
tức xuất tức niệm, này các Tỷ-kheo, được tu tập như
vậy được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho bốn niệm
xứ được viên mãn.
(Làm
viên mãn bảy giác chi)
Và
bốn niệm xứ, này các Tỷ-kheo, tu tập như thế nào, làm
cho sung mãn như thế nào, khiến cho bảy giác chi được viên
mãn?
Này
các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán thân trên thân, Tỷ-kheo trú,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở
đời, trong khi ấy, niệm không hôn mê của vị ấy được
an trú. Trong khi niệm không hôn mê của vi ấy cũng được
an trú, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy niệm giác chi được
bắt đầu khởi lên với Tỷ-kheo, trong khi ấy, Tỷ-kheo tu
tập niệm giác chi. Trong khi ấy niệm giác chi được Tỷ-kheo
tu tập đi đến viên mãn.
Vị
ấy an trú với chánh niệm như vậy, suy tư, tư duy, thẩm sát
pháp ấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, trong khi trú với
chánh niệm như vậy, Tỷ-kheo với trí tuệ suy tư, tư duy,
thẩm sát pháp ấy, trong khi ấy trạch pháp giác chi được
bắt đầu khởi lên, với Tỷ-kheo. Trong khi ấy, Tỷ-kheo tu
tập trạch pháp giác chi. Trong khi ấy trạch pháp giác chi được
Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.
Trong
khi Tỷ-kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy,
sự tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên với vị
Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với trí tuệ suy
tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, trong khi ấy sự tinh tấn không
thụ động bắt đầu khởi lên với Tỷ-kheo ấy. Trong khi
ấy tinh tấn giác chi được bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo.
Trong khi ấy Tỷ-kheo tu tập tinh tấn giác chi. Trong khi ấy,
tinh tấn giác chi được Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.
Hỷ
không liên hệ đến vật chất được khởi lên nơi vị tinh
tấn tinh cần. Này các Tỷ-kheo, trong khi hỷ không liên hệ
đến vật chất khởi lên nơi Tỷ-kheo tinh tấn tinh cần, trong
khi ấy hỷ giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong
khi ấy hỷ giác chi được vị Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy
hỷ giác chi được Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.
Thân
của vị ấy được tâm hoan hỷ trở thành khinh an, tâm cũng
được khinh an. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với ý hoan
hỷ được thân khinh an, được tâm cũng khinh an, trong khi ấy,
khinh an giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy,
khinh an giác chi được Tỷ-kheo tu tập.
Trong
khi ấy, khinh an giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung
mãn.
Một
vị có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh.
Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo có thân khinh an, an lạc,
tâm vị ấy được định tĩnh, trong khi ấy định giác chi
bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy định giác chi
được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy định giác chi được
Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn.
Vị
ấy với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn (sự vật) với
ý niệm xả ly. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với tâm
định tĩnh như vậy, khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả
ly, trong khi ấy xả giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo
. Trong khi ấy xả giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi
ấy xả giác chi được Tỷ-kheo làm cho đến sung mãn.
Này
các Tỷ-kheo, trong khi quán thọ trên các cảm thọ...
Này
các Tỷ-kheo, trong khi quán tâm trên tâm...
Này
các Tỷ-kheo, trong khi quán pháp trên các pháp, Tỷ-kheo an trú,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục
tham ưu ở đời, trong khi ấy niệm của vị ấy được an
trú, không có hôn mê. Này các Tỷ-kheo, trong khi niệm của
Tỷ-kheo được an trú, không có hôn mê, niệm giác chi trong
khi ấy được bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Niệm giác
chi trong khi ấy được Tỷ-kheo tu tập. Niệm giác chi trong
khi ấy, được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn. Vị ấy an
trú với chánh niệm như vậy, suy tư, tư duy, thẩm sát pháp
ấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, trong khi an trú với chánh
niệm như vậy, vị ấy suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với
trí tuệ. Trạch pháp giác chi trong khi ấy được bắt đầu
khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trạch pháp giác chi trong khi ấy được
Tỷ-kheo tu tập. Trạch pháp giác chi trong khi ấy đi đến sung
mãn, tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên nơi vị
ấy. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo suy tư, tư duy, thẩm
sát pháp ấy với trí tuệ, và tinh tấn không thụ động bắt
đầu khởi lên nơi vị ấy, tinh tấn giác chi trong khi ấy
bắt đầu khởi lên nơi vị Tỷ-kheo. Tinh tấn giác chi được
Tỷ-kheo tu tập. Tinh tấn giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi
đến sung mãn. Ðối với vị ấy tinh cần tinh tấn, hỷ không
liên hệ đến vật chất khởi lên. Này các Tỷ-kheo, trong
khi Tỷ-kheo tinh cần tinh tấn và hỷ không liên hệ đến vật
chất khởi lên, hỷ giác chi trong khi ấy bắt đầu được
khởi lên nơi Tỷ-kheo. Hỷ giác chi trong khi ấy được Tỷ-kheo
tu tập. Hỷ giác chi trong khi ấy được Tỷ-kheo làm cho đi
đến sung mãn. Thân của vị ấy được tâm hoan hỷ trở thành
khinh an, tâm cũng được khinh an. Này các Tỷ-kheo, trong khi
Tỷ-kheo với ý hoan hỷ được thân khinh an, được tâm cũng
khinh an, trong khi ấy khinh an giác chi bắt đầu khởi lên nơi
Tỷ-kheo. Trong khi ấy khinh an giác chi được Tỷ-kheo tu tập.
Trong khi ấy khinh an giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến
sung mãn. Một vị có tâm khinh an, an lạc, tâm vị ấy được
định tĩnh. Này các Tỷ-kheo, trong khi vị ấy có thân khinh
an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh, trong khi ấy định
giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy định
giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy định giác chi
được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn. Vị ấy với tâm
định tĩnh như vậy khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả
ly. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với tâm định tĩnh như
vậy, khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả ly, trong khi ấy
xả giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy
xả giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy xả giác chi
được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn.
Này
các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ được tu tập như vậy, được
làm cho sung mãn như vậy khiến cho bảy giác chi được sung
mãn.
(Minh
giải thoát được viên mãn)
Và
này các Tỷ-kheo, bảy giác chi tu tập như thế nào, làm cho
sung mãn như thế nào, khiến cho minh giải thoát được viên
mãn?
Ở
đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, liên
hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến diệt,
hướng đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi... tu tập tinh
tấn giác chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi...
tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi, liên hệ đến
viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến diệt, hướng
đến xả ly. Này các Tỷ-kheo, bảy giác chi được tu tập
như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho minh giải
thoát được viên mãn.
Thế
Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ
lời Thế Tôn dạy.
(KINH
TRUNG BỘ Majjhima Nikaya Hòa thượng Thích Minh Châu dịch
Việt)
Majjhima Nikaya
118
Anapanasati Sutta
- Mindfulness of Breathing
translated by
Bikkhu Thanissaro
I have
heard that on one occasion the Blessed One was staying at Savatthi in the
Eastern Monastery, the palace of Migara's mother, together with many well-known
elder disciples -- with Ven. Sariputta, Ven. Maha Moggallana, Ven. Maha
Kassapa, Ven. Maha Kaccayana, Ven. Maha Kotthita, Ven. Maha Kappina, Ven.
Maha Cunda, Ven. Revata, Ven. Ananda, and other well-known elder disciples.
On that occasion the elder monks were teaching and instructing. Some elder
monks were teaching and instructing ten monks, some were teaching and instructing
twenty monks, some were teaching and instructing thirty monks, some were
teaching and instructing forty monks. The new monks, being taught and instructed
by the elder monks, were discerning grand, successive distinctions.
Now
on that occasion -- the Uposatha day of the fifteenth, the full-moon night
of the Pavarana ceremony -- the Blessed One was seated in the open air
surrounded by the community of monks. Surveying the silent community of
monks, he addressed them:
"Monks,
I am content with this practice. I am content at heart with this practice.
So arouse even more intense persistence for the attaining of the as-yet-unattained,
the reaching of the as-yet-unreached, the realization of the as-yet-unrealized.
I will remain right here at Savatthi [for another month] through the 'White
water-lily' month, the fourth month of the rains."
The
monks in the countryside heard, "The Blessed One, they say, will remain
right there at Savatthi through the White water-lily month, the fourth
month of the rains." So they left for Savatthi to see the Blessed One.
Then
the elder monks taught and instructed even more intensely. Some elder monks
were teaching and instructing ten monks, some were teaching and instructing
twenty monks, some were teaching and instructing thirty monks, some were
teaching and instructing forty monks. The new monks, being taught and instructed
by the elder monks, were discerning grand, successive distinctions.
Now
on that occasion -- the Uposatha day of the fifteenth, the full-moon night
of the White water-lily month, the fourth month of the rains -- the Blessed
One was seated in the open air surrounded by the community of monks. Surveying
the silent community of monks, he addressed them:
"Monks,
this assembly is free from idle chatter, devoid of idle chatter, and is
established on pure heartwood: such is this community of monks, such is
this assembly. The sort of assembly that is worthy of gifts, worthy of
hospitality, worthy of offerings, worthy of respect, an incomparable field
of merit for the world: such is this community of monks, such is this assembly.
The sort of assembly to which a small gift, when given, becomes great,
and a great gift greater: such is this community of monks, such is this
assembly. The sort of assembly that it is rare to see in the world: such
is this community of monks, such is this assembly -- the sort of assembly
that it would be worth traveling for leagues, taking along provisions,
in order to see.
"In
this community of monks there are monks who are Arahants, whose mental
effluents are ended, who have reached fulfillment, done the task, laid
down the burden, attained the true goal, totally destroyed the fetter of
becoming, and who are released through right gnosis: such are the monks
in this community of monks.
"In
this community of monks there are monks who, with the total ending of the
first set of five fetters, are due to be reborn [in the Pure Abodes], there
to be totally unbound, never again to return from that world: such are
the monks in this community of monks.
"In
this community of monks there are monks who, with the total ending of [the
first] three fetters, and with the attenuation of passion, aversion, and
delusion, are once-returners, who -- on returning only one more time to
this world -- will make an ending to stress: such are the monks in this
community of monks.
"In
this community of monks there are monks who, with the total ending of [the
first] three fetters, are stream-winners, steadfast, never again destined
for states of woe, headed for self-awakening: such are the monks in this
community of monks.
"In
this community of monks there are monks who remain devoted to the development
of the four frames of reference...the four right exertions...the four bases
of power...the five faculties...the five strengths...the seven factors
of awakening...the noble eightfold path: such are the monks in this community
of monks.
"In
this community of monks there are monks who remain devoted to the development
of good will...compassion...appreciation...equanimity...[the perception
of the] foulness [of the body]...the perception of inconstancy: such are
the monks in this community of monks.
"In
this community of monks there are monks who remain devoted to mindfulness
of in-and-out breathing.
"Mindfulness
of in-and-out breathing, when developed and pursued, is of great fruit,
of great benefit. Mindfulness of in-and-out breathing, when developed and
pursued, brings the four frames of reference to their culmination. The
four frames of reference, when developed and pursued, bring the seven factors
of awakening to their culmination. The seven factors of awakening, when
developed and pursued, bring clear knowing and release to their culmination.
(Mindfulness
of In-and-Out Breathing)
"Now
how is mindfulness of in-and-out breathing developed and pursued so as
to bring the four frames of reference to their culmination?
"There
is the case where a monk, having gone to the wilderness, to the shade of
a tree, or to an empty building, sits down folding his legs crosswise,
holding his body erect, and setting mindfulness to the fore. Always mindful,
he breathes in; mindful he breathes out.
"[1]
Breathing in long, he discerns that he is breathing in long; or breathing
out long, he discerns that he is breathing out long. [2] Or breathing in
short, he discerns that he is breathing in short; or breathing out short,
he discerns that he is breathing out short. [3] He trains himself to breathe
in sensitive to the entire body, and to breathe out sensitive to the entire
body. [4] He trains himself to breathe in calming the bodily processes,
and to breathe out calming the bodily processes.
"[5]
He trains himself to breathe in sensitive to rapture, and to breathe out
sensitive to rapture. [6] He trains himself to breathe in sensitive to
pleasure, and to breathe out sensitive to pleasure. [7] He trains himself
to breathe in sensitive to mental processes, and to breathe out sensitive
to mental processes. [8] He trains himself to breathe in calming mental
processes, and to breathe out calming mental processes.
"[9]
He trains himself to breathe in sensitive to the mind, and to breathe out
sensitive to the mind. [10] He trains himself to breathe in satisfying
the mind, and to breathe out satisfying the mind. [11] He trains himself
to breathe in steadying the mind, and to breathe out steadying the mind.
[12] He trains himself to breathe in releasing the mind, and to breathe
out releasing the mind.
"[13]
He trains himself to breathe in focusing on inconstancy, and to breathe
out focusing on inconstancy. [14] He trains himself to breathe in focusing
on dispassion [literally, fading], and to breathe out focusing on dispassion.
[15] He trains himself to breathe in focusing on cessation, and to breathe
out focusing on cessation. [16] He trains himself to breathe in focusing
on relinquishment, and to breathe out focusing on relinquishment.
(The
Four Frames of Reference)
"[1]
Now, on whatever occasion a monk breathing in long discerns that he is
breathing in long; or breathing out long, discerns that he is breathing
out long; or breathing in short, discerns that he is breathing in short;
or breathing out short, discerns that he is breathing out short; trains
himself to breathe in...and...out sensitive to the entire body; trains
himself to breathe in...and...out calming the bodily processes: On that
occasion the monk remains focused on the body in and of itself -- ardent,
alert, and mindful -- subduing greed and distress with reference to the
world. I tell you, monks, that this -- the in-and-out breath -- is classed
as a body among bodies, which is why the monk on that occasion remains
focused on the body in and of itself -- ardent, alert, and mindful -- putting
aside greed and distress with reference to the world.
"[2]
On whatever occasion a monk trains himself to breathe in...and...out sensitive
to rapture; trains himself to breathe in...and...out sensitive to pleasure;
trains himself to breathe in...and...out sensitive to mental processes;
trains himself to breathe in...and...out calming mental processes: On that
occasion the monk remains focused on feelings in and of themselves -- ardent,
alert, and mindful -- subduing greed and distress with reference to the
world. I tell you, monks, that this -- close attention to in-and-out breaths
-- is classed as a feeling among feelings, which is why the monk on that
occasion remains focused on feelings in and of themselves -- ardent, alert,
and mindful -- putting aside greed and distress with reference to the world.
"[3]
On whatever occasion a monk trains himself to breathe in...and...out sensitive
to the mind; trains himself to breathe in...and...out satisfying the mind;
trains himself to breathe in...and...out steadying the mind; trains himself
to breathe in...and...out releasing the mind: On that occasion the monk
remains focused on the mind in and of itself -- ardent, alert, and mindful
-- subduing greed and distress with reference to the world. I don't say
that there is mindfulness of in-and-out breathing in one of confused mindfulness
and no alertness, which is why the monk on that occasion remains focused
on the mind in and of itself -- ardent, alert, and mindful -- putting aside
greed and distress with reference to the world.
"[4]
On whatever occasion a monk trains himself to breathe in...and...out focusing
on inconstancy; trains himself to breathe in...and...out focusing on dispassion;
trains himself to breathe in...and...out focusing on cessation; trains
himself to breathe in...and...out focusing on relinquishment: On that occasion
the monk remains focused on mental qualities in and of themselves -- ardent,
alert, and mindful -- subduing greed and distress with reference to the
world. He who sees clearly with discernment the abandoning of greed and
distress is one who oversees with equanimity, which is why the monk on
that occasion remains focused on mental qualities in and of themselves
-- ardent, alert, and mindful -- putting aside greed and distress with
reference to the world.
"This
is how mindfulness of in-and-out breathing is developed and pursued so
as to bring the four frames of reference to their culmination.
(The
Seven Factors Of Awakening)
"And
how are the four frames of reference developed and pursued so as to bring
the seven factors of awakening to their culmination?
"[1]
On whatever occasion the monk remains focused on the body in and of itself
-- ardent, alert, and mindful -- putting aside greed and distress with
reference to the world, on that occasion his mindfulness is steady and
without lapse. When his mindfulness is steady and without lapse, then mindfulness
as a factor of awakening becomes aroused. He develops it, and for him it
goes to the culmination of its development.
"[2]
Remaining mindful in this way, he examines, analyzes, and comes to a comprehension
of that quality with discernment. When he remains mindful in this way,
examining, analyzing, and coming to a comprehension of that quality with
discernment, then analysis of qualities as a factor of awakening becomes
aroused. He develops it, and for him it goes to the culmination of its
development.
"[3]
In one who examines, analyzes, and comes to a comprehension of that quality
with discernment, unflagging persistence is aroused. When unflagging persistence
is aroused in one who examines, analyzes, and comes to a comprehension
of that quality with discernment, then persistence as a factor of awakening
becomes aroused. He develops it, and for him it goes to the culmination
of its development.
"[4]
In one whose persistence is aroused, a rapture not-of-the-flesh arises.
When a rapture not-of-the-flesh arises in one whose persistence is aroused,
then rapture as a factor of awakening becomes aroused. He develops it,
and for him it goes to the culmination of its development.
"[5]
For one who is enraptured, the body grows calm and the mind grows calm.
When the body and mind of an enraptured monk grow calm, then serenity as
a factor of awakening becomes aroused. He develops it, and for him it goes
to the culmination of its development.
"[6]
For one who is at ease -- his body calmed -- the mind becomes concentrated.
When the mind of one who is at ease -- his body calmed -- becomes concentrated,
then concentration as a factor of awakening becomes aroused. He develops
it, and for him it goes to the culmination of its development.
"[7]
He oversees the mind thus concentrated with equanimity. When he oversees
the mind thus concentrated with equanimity, equanimity as a factor of awakening
becomes aroused. He develops it, and for him it goes to the culmination
of its development.
[Similarly
with the other three frames of reference: feelings, mind, and mental qualities.]
"This
is how the four frames of reference are developed and pursued so as to
bring the seven factors of awakening to their culmination.
(Clear
Knowing and Release)
"And
how are the seven factors of awakening developed and pursued so as to bring
clear knowing and release to their culmination? There is the case where
a monk develops mindfulness as a factor of awakening dependent on seclusion...dispassion...cessation,
resulting in relinquishment. He develops analysis of qualities as a factor
of awakening...persistence as a factor of awakening...rapture as a factor
of awakening...serenity as a factor of awakening...concentration as a factor
of awakening...equanimity as a factor of awakening dependent on seclusion...dispassion...cessation,
resulting in relinquishment.
"This
is how the seven factors of awakening, when developed and pursued, bring
clear knowing and release to their culmination."
That
is what the Blessed One said. Gratified, the monks delighted in the Blessed
One's words.
KINH
QUÁN NIỆM HƠI THỞ
Nhất
Hạnh dịch và chú giải
Lá
Bối xuất bản 1987
A.
Tôi nghe như sau:
“Hồi
đó, Bụt còn ở tại thành Xá Vệ (1), cư trú trong vườn
Kỳ Thọ với nhiều vị đại đệ tử nổi tiếng như Xá
Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Câu Thi
La, A Nậu Lâu Ðà Liu Bà Ða, A Nan Ðà v.v... Trong cọng đồng
các vị khất sĩ, những vị trưởng thượng thì lo chăm sóc
dạy dỗ các vị khất sĩ tân học, có vị chăm dạy mười
người, có vị hai mươi người, có vị ba mươi người, có
vị bốn mươi người. Các vị khất sĩ tân học được
chăm sóc và dạy dỗ như thế dần dần thực hiện được
nhiều tiến bộ.
Ðêm
ấy là một đêm trăng tròn ngày lễTự Tứ kết thúc mùa
An Cư (2). Ðức Giác Ngộ ngồi ở ngoài trời và xung quanh
người, chúng đệ tử khất sĩ quy tụ. Sau khi đưa mắt lặng
lẽ nhìn đại chúng, Bụt lên tiếng:
“Quý
vị khất sĩ, tôi rất hài lòng về những thành quả mà quý
vị đã đạt được trong sự tu học. Quý vị hãy tinh tiến
lên nữa. Những gì chưa đạt được, hãy đạt cho được,
và những gì chưa thực hiện, hãy thực hiện cho xong. Tôi
sẽ ở đây, và đợi tại thành Xá Vệ này cho đến ngày
trăng tròn chấm dứt tháng an cư thứ tư (3).”
Nghe
tin đức Thế Tôn bảo người sẽ lưu lại Xá Vệ cho tơí
ngày trăng tròn của tháng thứ tư các vị khất sĩ lúc bấy
giờ hành đạo rải rác ở những miền quê liền lên đường
lục tục tìm đến Xá Vệ thăm người. Vào dịp này, các
vị trưởng thượng lại càng chăm chú chỉ dạy các vị tân
học, vị thì chỉ dạy mười người, vị thì hai mươi ngươi,
vị thì ba mươi người, vị thì bốn mươi người. . . Các
vị khất sĩ tân học nhờ đó lần lượt đạt được nhiều
tiến bộ đáng kể.
Bây
giờ đây, đã đến ngày trăng tròn tháng thứ tư và Bụt
cũng đang ngồi ngoài trời với các khất sĩ. Người đưa
mắt lặng lẽ quán sát đại chúng một hồi rồi lên tiếng:
“Quý
vị khất sĩ! Cọng đồng chúng ta đây, quả là thanh tịnh
và có thực chất tu học, không mang tính chất phù phiếm và
ba hoa, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được gọi
là phước điền, xứng đáng được kính nể. Cúng dường
cho một đại chúng như thế chắc chắn sẽ có công đức.
Một cọng đồng như thế này thật là hiếm có và dù xa xôi
mấy ai cũng phát tâm tìm tới để quy kính.”
“Này
quý vị, trong đại chúng đây có những vị khất sĩ đã chứng
quả La Hán (4), đã trừ hết mọi phiền não (5), đã trút
bỏ được mọi gánh nặng, đã thành tựu được trí tuệ
và giải thoát. Lại có những vị đã cắt được năm sợi
dây ràng buộc đầu (6), chứng được quả Bất Hoàn (7), sẽ
không còn trở lại luân hồi; có những vị đã cắt bỏ được
ba sợi dây ràng buộc đầu, chứng quả Nhất Hoàn (8), hàng
phục được phần thô của các phiền não tham, sân và si,
và chỉ cần trở lại một lần; có những vị đã cắt bỏ
được ba sợi dây ràng buộc đầu, chứng quả Dự Lưu (9),
đang vững chãi đi về quả vị giác ngộ; có vị đang thực
tập tứ niệm xứ, có vị đang thực tập tứ chánh cần,
có vị đang thực tập tứ như ý túc, có vị đang thực tập
ngũ căn, có vị đang thực tập ngũ lực, có vị đang thực
tập thất bồ đề, có vị đang thực tập bát thánh đạo
(10), có vị đang thực tập Từ, có vị đang thực tập Bi,
có vị đang thực tập Hỉ, có vị đang thực tập Xả (ll),
có vị đang thực tập cửu tưởng quán (12), có vị đang thực
tập vô thường quán. Lại có những vị khác đang thực tập
quán niệm hơi thở.”
B.
“Quý
vị khất sĩ! Phép quán niệm hơi thở, nếu được phát triển
và thực hiện liên tục, sẽ đem lại những thành quả và
lợi lạc lớn, có thể làm thành tựu bốn lĩnh vực quán
niệm (Tứ Niệm Xứ); bốn lĩnh vực quán niệm nếu được
phát triển và thực tập liên tục, sẽ làm thành tựu bảy
yếu tố giác ngộ (Thất Giác Chi); bảy yếu tố giác ngộ
nếu được phát triển và thực tập liên tục sẽ đưa tới
trí tuệ và giải thoát.
“Làm
thế nào để phát triển và thực tập liên tục phép Quán
Niệm Hơi Thở, để phép này mang lại những thành quả và
lợi lạc lớn?
“Này
đây, quý vị khất sĩ, người hành giả đi vào rừng hoặc
tới một gốc cây, nơi vắng vẻ, ngồi xuống trong tư thể
hoa sen, giữ thân cho thẳng, và đặt vững chánh niệm trước
mặt mình. Thở vào, người ấy biết rằng mình thở
vào; thở ra, người ấy biết là mình thở ra.
1 .
Thở vào một hơi dài người ấy biết: Ta đang thở vào một
hơi dài. Thở ra một hơi dài người ấy biết: ta đang thở
ra một hơi dài.
2.
Thở vào một hơi ngắn người ấy biết: ta đang thở vào
một hơi ngắn. Thở ra một hơi ngắn, người ấy biết: ta
đang thở ra một hơi ngắn.
3.
Ta đang thở vào và có ý thức về toàn thân thể ta; ta đang
thở ra và có ý thức về toàn thân thể ta, người ấy thực
tập như thế.
4.
Ta đang thở vào và làm cho toàn thân an tịnh; ta đang thở
ra và làm cho toàn thân an tịnh, người ấy thực tập như
thế.
5.
Ta đang thở vào và cảm thấy mừng vui (13), ta đang thở ra
và cảm thấy mừng vui, người ấy thực tập như thế.
6.
Ta đang thở vào và cảm thấy an lạc (13) ; ta đang thở ra
và cảm thấy an lạc, người ấy thực tập như thế.
7.
Ta đang thở vào và có ý thức về những hoạt động tâm
ý trong ta; ta đang thở ra và có ý thức về những hoạt động
tâm ý trong ta, người ấy thực tập như thế.
8.
Ta đang thở vào và làm cho những hoạt động tâm ý trong ta
an tịnh; ta đang thở ra và làm cho những hoạt động tâm ý
trong ta an tịnh, người ấy thực tập như thế.
9.
Ta đang thở vào và có ý thức về tâm ý ta; ta đang thở ra
và có ý thức về tâm ý ra, người ấy thực tập như thế,
10.
Ta đang thở vào và làm cho tâm ý ta hoan lạc; ta đang thở
ra và làm cho tâm ý ta hoan lạc, người ấy thực tập như
thế.
11
Ta đang thở vào và thu nhiếp tâm ý ta vào định; ta đang thở
ra và thu nhập tâm ý ta vào định, người ấy thực tập như
thế.
12.
Ta đang thở vào và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát
tự do; ta đang thở ra và cởi mở cho tâm ý ta được giải
thoát tự do, người ấy thực tập như thế.
13
. Ta đang thở vào và quán chiếu tính vô thường của vạn
pháp; ta đang thở ra và quán chiếu tính vô thường của vạn
pháp, người ấy thực tập như thế.
14.
Ta đang thở vào và quán chiếu về tính tàn hoại của vạn
pháp (14); ta đang thở ra và quán chiếu về tính tàn hoại
của vạn pháp, người ấy thực tập như thế.
15.
Ta đang thở vào và quán chiếu về giải thoát (l5); ta đang
thở ra và quán chiếu về giải thoát, người ấy thực tập
như thế.
16.
Ta đang thở vào và quán chiếu về sự buông bỏ (l6); ta đang
thở ra và quán chiếu về sự buông bỏ, người ấy thực
tập như thế.
Phép
Quán Niệm Hơi Thở, theo những chỉ dẫn trên, nếu được
phát triển và thực tập liên tục sẽ đem đến những thành
quả và lợi lạc lớn.
C Phát
triển và thực tập liên tục như thế nào để phép quán
niệm hơi thở có thể thành tựu được bốn lĩnh vực quán
niệm (tứ niệm xứ)?
Khi
hành giả thở vào hoặc thở ra một hơi dài hay một hơi ngắn
mà có ý thức về hơi thở và về toàn thân mình, hoặc có
ý thức là đang làm cho toàn thân mình, hoặc có ý thức là
đang làm cho toàn thân mình an tịnh, thì khi ấy hành giả đang
an trú trong phép quán thân trong thân, tinh tiến, tỉnh thức,
biết rõ tình trạng, vượt khỏi mọi tham đắm cũng như mọi
chán ghét đối với cuộc đời. Hơi thở vào và hơi
thở ra có ý thức ở đây thuộc về lĩnh vực quán niệm
thứ nhất là thân thể.
Khi
người hành giả thở vào hoặc thở ra mà có ý thức về
sự vui thích hoặc về sự an lạc, về những hoạt động
của tâm ý, hoặc để làm cho những hoạt động của tâm
ý an tịnh thì khi ấy hành giả đang an trú trong phép quán
cảm thọ trong cảm thọ, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình
trạng, vượt thoát mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét
đối với cuộc đời. Những cảm thọ được chứng nghiệm
trong hơi thở có ý thức ấy thuộc về lĩnh vực quán niệm
thứ hai là cảm thọ.
Khi
hành giả thở vào hoặc thở ra mà có ý thức về tâm ý,
làm cho tâm ý an tịnh, thu nhập tâm ý vào định hoặc cởi
mở cho tâm ý được giải thoát tự do, thì khi ấy hành giả
đang an trú trong phép quán niệm tâm ý trong tâm ý, tinh tiến,
tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt thoát mọi tham đắm
cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời. Không có
quán niệm về hơi thở thì sẽ không phát triển được chánh
niệm và sự hiểu biết.
Khi
hành giả thở vào hoặc thở ra mà quán chiếu về tính cách
vô thường hoặc về tính cách phải tàn hoại của vạn pháp,
về giải thoát và về sự buông bỏ, thì khi ấy hành giả
đang an trú trong phép quán niệm đối tượng tâm ý trong đối
tuợng tâm ý, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng,
vượt thoát mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với
cuộc đời.
Phép
Quán Niệm Hơi Thở nếu được phát triển và thực tập liên
tục, sẽ đưa bốn lĩnh vực quán niệm đến chỗ thành tựu
viên mãn.
D.
Nhưng nếu được phát triển và thực tập liên tục, bốn
lĩnh vực quán niệm sẽ đưa bảy yếu tố giác ngộ đến
chỗ thành tựu viên mãn. Bằng cách nào?
Khi
hành giả an trú trong phép quán thân trong thân, quán cảm thọ
trong cảm thọ, quán tâm ý trong tâm ý, quán đối tượng tâm
ý nơi đối tượng tâm ý, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ
tình trạng, vượt thoát mọi tham đắm cũng như mọi chán
ghét đối với cuộc đời, thì lúc ấy chánh niệm của hành
giả được duy trì vững chãi và bền bĩ, và hành giả đạt
được yếu tố giác ngộ (giác chi) thứ nhất là niệm. Yếu
tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.
Khi
hành giả an trú trong chánh niệm ớ quán chiếu và quyết trạch
về các pháp, đối tượng của tâm ý, thì yếu tố giác ngộ
thứ hai được sinh khởi và phát triển, đó là yếu tố trạch
pháp. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên
mãn.
Khi
hành giả an trú trong quán chiếu và quyết trạch về các pháp
một cách bền bĩ, tinh cần, vững chãi thì yếu tố giác ngộ
thứ ba được sinh khởi và phát triển, đó là yếu tố tinh
tấn. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu
viên mãn.
Khi
mà hành giả đã an trú vững chãi và bền bĩ trong sự hành
trì tinh tiến thì yếu tố giải thoát thứ tư được sinh
khởi và phát triển, đó là yếu tố hỷ lạc xuất thế (17)
. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.
Khi
hành giả được an trú trong trạng thái hỷ lạc rồi thì
hành giả cảm thấy thân và tâm của mình nhẹ nhàng và an
tịnh, đó là yếu tố giải thoát thứ năm được sinh khởi
và phát triển. Ðó là yếu tố khinh an. Yếu tố này sẽ tiến
dần đến sự thành tựu viên mãn.
Khi
thân và tâm mình đã nhẹ nhàng và thanh tịnh, hành giả có
thể đi vào định một cách dễ dáng. Lúc đó yếu tố giải
thoát thứ sáu được sinh khởi và phát triển. Ðó là yếu
tố định. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu
viên mãn.
Khi
đã thực sự an trú trong định, hành giả không còn duy trì
sự phân biệt và so đo (18) nữa. Khi đó yếu tố giải thoát
thứ bảy là buông thả được sinh khởi và phát triển. Ðó
là yếu tố hành xả. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự
thành tựu viên mãn.
Bốn
lĩnh vực quán niệm (Tứ Niệm Xứ) nếu được phát triển
và thực tập liên tục sẽ đưa bảy yếu tố giác ngộ (thất
giác chi) đến chỗ thành tựu viên mãn như thế.
E.
Nhưng bảy yếu tố giác ngộ, nếu được phát triển và thực
tập liên tục, làm thế nào để có thể đưa đến sự thành
tựu viên mãn của trí tuệ và giải thoát?
Nếu
hành giả tu tập theo bảy yếu tố giác ngộ, một mình tĩnh
cư, chuyên quán chiếu về tính cách phải tàn hoại của vạn
pháp, quán chiếu về sự tự do, thì sẽ đạt tới khả năng
buông bỏ. Ðó là do tu tập bảy yếu tố giác ngộ mà thành
tựu viên mãn được trí tuệ và giải thoát.
G.
Ðó là những điều đức Thế Tôn nói. Ðại chúng ai nấy
đều tỏ vẻ vui mừng được nghe người dạy.
Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 10-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 327 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân