LUẬN GIẢI
VỀ CHỮ THÍCH
Đọc
Việt Tide số 95, gặp được bài Tu Sĩ Phật giáo mang Họ
“Thích” Từ Khi Nào? của tác giả Tâm Hà Lê Công Đa, tôi
hết sức mừng vì đây là một tài liệu rất hữu ích cho
người Phật tử muốn tìm hiểu thêm lịch sử và danh
từ của Phật Giáo Việt Nam mà chúng ta thường gặp hiện
nay. Nhân dịp nầy, tôi xin cống hiến thêm một tài liệu
khác giải luận về đề tài trên trong cuốn Giải Luận Giáo
Lý của tác giả Giác Không do Nha Tuyên Úy Phật Giáo Quân
Lực Việt Nam Cọng Hòa xuất bản năm 1969 tại Sài Gòn.
Xin
trích nguyên văn:
Gần
đây, có nhiều người nêu ra một thắc mắc khi thấy danh
hiệu của các vị Tăng -sĩ đều mở đầu bằng chữ Thích
tỷ dụ như Thích-Tâm-Châu, Thích-Tâm-Giác,v.v… và do đó
nêu lên những câu hỏi:
_
Chữ Thích có nghĩa gì?
_
Tại sao người tu theo hạnh xuất thế mới dùng chữ Thích?
Người tại gia tu Phật có dùng chữ Thích được không?
_
Chữ Thích nếu là một họ thì họ ấy phát sinh tự đâu,
thịnh hành vào thời nào?
với
mục đích diễn xướng và luận giải về chân nghĩa những
danh từ Phật Giáo, đặng làm tài liệu nhận xét chung, nơi
đây đề cập đến từng vấv đề giải đáp để cùng liễu
giải và xác luận:
I._
Chữ Thích có nghĩa gì?
Theo
sự dịnh nghĩa danh tự thông thường thì chữ Thích có nghĩa:
cổi ra, nơiùi ra, giải thích rõ ràng nghĩa sách tỷ dụ như
chữ Thích-Hỗ là giải thích cho rõ nghĩa một chữ, một câu:
Thích Huấn là giải thích cho rõ những lời huấn giáo.
Ngoài
ra, chữ Thích lại cũng có nghĩa buông thả như trong sách có
chữ: “Kiên trì bất thích” tức là giữ vững không buông,
và, chữ “Khai thích vô cô” tức là buông tha cho kẻ không
tội.
Chữ
Thích cũng lại còn có nghĩa tiêu tan hết những nỗi sân hận
trong lòng như giảng câu “Tâm trung vi chi thích nhiên” phải
hiểu rằng trong lòng đã được tiêu tan hết cả phần nào
điều sân hận không còn vướng vấp một chút ân hận, não
phiền gì nữa.
Tuy
nhiên, chân nghĩa chữ Thích mà các vị tu hành đặt trước
pháp hiệu chỉ có nghĩa đơn thuần là:
a)_
coi mình là Thích tử, tức là đệ tử của Phật, bởi theo
quan niệm Trung-Hoa từ đời Tấn cho rằng những ai theo đạo
của đức Thích-Ca phải nên lấy theo họ Thích mà chữ Thích
tức là họ Thích-Ca cho dễ xưng hô.
b)_
một vị tu theo hạnh khoáng nhiên không vướng mắc phiền
não thế cảnh.
Tóm
lại thì chữ Thích chư Tăng hay dùng là theo họ Phật Thích-Ca,
ngụ kỳ chung còn có ý nghĩa hiểu rành sự lý, tâm hồn buông
thả, tiêu hết não phiền, không còn mảy may trần lụy.
II._
Tại
sao người tu theo hạnh xuất thế mới dùng chữ Thích? Người
tại gia tu phật có dùng chữ Thích được không?
Thật
ra, khi Phật giáo truyền qua Trung-Hoa vào khoảng thời Hán,
những vị mặc dầu tu theo đạo Phật, trở thành Tăng-sĩ
có bỏ đi giòng họ thế tục, nhưng thường theo hai điều
kiện:
1._
Tự đặt cho mình theo họ Trúc có nghĩa tu theo nguyên tắc
tu trì của các bậc Tăng-Già từ Tây-Trúc truyền sang.
2._
Hoặc theo họ của bậc Sư-Trưởng đã truyền giáo cho mình
tỷ dụ như Ngài Chi-Tuần nguyên trước họ Quan, nhưng vì
thụ giáo với ngài Chi-Khiêm nên đổi thành họ Chi, ngài Bạch-đạo-Hiển
nguyên họ Phùng nhưng học thầy là Bạch-Thi-Ly-Mật nên đổi
thành họ Bạch v.v…
như
vậy là khi đạo Phật mới truyền qua Trung-Hoa từ đời Hán,
khoảng 25 _ 220 T.L. hầu như theo một tục lệ thông thường
như vừa trình bày. Kịp đến thời Đông-Tấn khoảng
317 _ 349 T.L. Ngài Đạo-An người Thường-Sơn, tỉnh hà-Bắc,
sinh năm 312, xuất gia từ 12 tuổi, học hạnh rất siêu việt
đã đề xướng việc cải biến để những vị tu hạnh xuất-gia
theo Phật nên theo họ của Phật, và do đó, những Tăng-sĩ
thụ đại-giới (Giới Tỳ-Khưu:250 giới) lấy theo họ Thích
tử…mỗ…mỗ.
Viện
dẫn lý do này, Ngài Đạo-An nêu ra một đoạn trong kinh Tăng-Nhất
A-Hàm có chép: “Bốn con sông lớn chảy vào bể cả, tự
nó không còn danh tự gốc của con sông mà chỉ có danh tự
là “bể cả”. Việc định họ cho người tu hành cũng
như thế. Xưa ở Ấn-Độ có 4 giòng họ là: Sát-Lỵ,
Bà-La-Môn, Trưởng-giả, Cư-sĩ. Đối với những ai gọt
bỏ râu tóc, khoác 3 tấm áo pháp như Phật chế định, nguyện
xin xuất gia học đạo thì không còn giữ giòng họ gốc mà
chỉ kêu là: Sa-Môn tức là đệ-tử của đức Phật Thích-Ca
mà thôi.
Trong
kinh Đại-Bát Nhã xác định rằng: “Phi sa-Môn, phi Thích-Ca
tử” có nghĩa nếu không phải là bậc Sa-Môn tức là bậc
xuất-gia theo Phật thì chưa phải là đệ-tử của đức Thích-Ca.
Bởi
những lý do trên, chỉ khi nào phát nguyện xuất-gia và đã
thụ đại-giới mới được xưng là thuộc giòng họ Thích
tức là đệ-tử chính của Phật và sau nầy coi các bậc Tỳ-Khưu
là hàng trưởng-tử của Phật nên được đổi họ thế gian
mà lấy theo họ Thích vậy.
III._Chữ
Thích nếu là một họ thì họ ấy phát sinh tự đâu? Thịnh
hành vào thời nào?
Đúng
ra họ Thích-ca là họ của đức Phật mà theo lịch sử là
một giòng họ quý tộc trước đó kêu là Sát-Lỵ mà sau đổi
ra là Thích -Ca (Sakya).
Theo
kinh điển ghi chép thì 10 vị đại đệ-tử của Phật như
Ma-Ha Ca-Diếp, Mục-Kiền-Liên, Tu-Bồ-Đề v.v… không dùng
họ Thích mà khi Phật-Giáo truyền qua Trung-Hoa tới thời nhà
Tấn, Ngài Đạo-An xướng xuất việc lấy họ Thích làm họ
cho người đi xuất-gia, rồi từ sự kiện, chính Ngài theo
phong tục cổ truyền, trước đó theo học với Ngài Trúc-Phật
Đồ-Trừng ngài Đạo-An lấy luôn tên là Trúc-Đạo-An và
sau vì lấy cớ những người đi xuất-gia đều lấy đấng
Thích-Tôn làm gốc, vì thế Ngài đổi tên là Thích-Đạo-An
cho đến sau nữa Ngài Thích-Tuệ-Viễn nối nghiệp thầy mà
cũng xưng là Thích-Tuệ-Viễn. Kịp đến thời nhà Đường,
Ngài Tuệ-Năng khi dâng sớ lên Vua Đường Cao -Tôn để xin
cáo từ việc cớ già yếu hay bệnh cũng xưng là Thích-Ca Tuệ-Năng.
Như
thế, họ Thích là sự thay đổi của giòng họ Sát-đế-Lỵ,
một giòng họ quý phái thuộc Ấn-Độ, cho đến khi Phật-Giáo
truyền qua Trung-Hoa và thịnh hành từ sau sự khởi xướng
của Ngài Đạo-An thời Đông-Tấn.
Riêng
tại Việt-Nam có lẽ cũng chỉ quan niệm một vị xuất gia
theo Phật là thuộc giòng Thích-tử, còn trong sử sách,
danh hiệu các vị Thuyền-sư không mấy khi có thêm chữ Thích,
ví dụ như Ngài Cảm-Thành, Ngài Khuông-Việt, Ngài Viên-Chiếu
v.v… Cho mãi đến thời gần đây mới có Điều-Ngự-Tử
Thích-Mật-Thể, một vị khởi xướng dùng chữ họ Thích
để ký tên trong văn liệu là cuốn Việt-Nam Phật-Giáo Sử-Lược
ấn hành vào năm 1943 và có thể là một khởi đoan phong trào
lấy họ Thích đối với Tăng chúng Việt-Nam.
Tóm
lại, chữ Thích là danh xưng của một giòng họ y theo giòng
họ của đấng Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, có nghĩa theo
chữ Phạn Sakya tức là bậc Năng-nhân tức là một bậc có
năng lực phát hiện tấm lòng nhân từ vô lượng.
Ngoài
ra, theo chân nghĩa thế gian thì chữ Thích cũng có nghĩa khiến
lòng mình tiêu tan hết mọi phiền não, một hạnh quý giá
của người tu hành những pháp môn quý giá. Do đó, chỉ những
vị nào đã thụ đại-giới tức là một vị chính thức gia-nhập
Thích-Môn mới được coi là hàng Thích-Tử.
Cũng
vì thế, những người tại gia cho đến hàng Sa-Di mà lấy
họ thích là một sự kiện tiếm xưng, và cũng nhân y theo
chân nghĩa luận giải, những vị nào dù có hình tướng xuất-gia
mà không giữ theo giới hạnh của bậc xuất-gia mà dùng chữ
Thích cũng là tiếm xưng họ Phật, bởi những người tu hành
mà không giữ giới thì không còn Tăng cách và không xứng
đáng là người Thích-Tử nữa vậy.
Họ
Thích rất cao đẹp, nhưng phải được nêu lên đối với
những bậc tu hành chân chính, đầy đủ đức hạnh đáng
cho tín đồ củng phục thì không cần phải xưng họ Thích
mà thiên hạ đều tôn là bậc xứng đáng trong giòng họ Thích-Ca
vậy.
Người
Cư Sĩ
(sưu
tập)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 06-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 279 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân