DƯỚI BÓNG
TỪ BI
Hoàng
Lan phóng tác
Đã
2.547 năm nay, Đức Phật có nghĩa là “ Người Thức Tỉnh”,
“ Người Giác Ngộ” và “ Người Viên Mãn” đã từ giã
cõi trần để nhập Niết Bàn.
Không
bao giờ Ngài tự nhận là một đấng Thượng đế hay một
vị sứ giả của Thượng đế, mà chỉ tự nhận là một
người như mọi người, nhưng vì đã nâng cái phẩm vị con
người đến mức cao vời tuyệt đối mà Ngài đã tìm được
phương pháp giải thoát con người khỏi mọi đau khổ.
Phương
pháp mầu nhiệm ấy, Ngài giảng dạy suốt đời và truyền
cho các đệ tử nối tiếp Ngài giảng dạy cho thế gian.
Ngày
nay, năm trăm triệu người rải rác khắp trái đất sùng bái
Ngài như một vị thần và cung kính chiêm ngưỡng hình tượng
Ngài để tìm an vui thanh tịnh cho tâm hồn.
Ñên
trăng tròn tháng 4 Âm lịch, một đêm trăng đầy an vui thanh
tịnh trong toàn cõi Á Đông tôn sùng đạo Phật.
Từ
nơi đồng quê xứ Tích Lan phất phơ mấy ngọn lá gồi đến
rừng rậm âm u xứ Miến Điện, từ những núi tuyết trắng
phau ở Tây Tạng đến những vườn hoa anh đào rực rỡ ở
đất Phù Tang, hàng vạn, hàng triệu ngọn đèn dầu cháy sáng
chung quanh các chùa như những tràng hoa lấp lánh. Trên bàn
thờ, phẩm vật cúng dường chất cao vòi vọi, hương đốt
ánh đỏ như những bụi hoa … Tiếng chuông đồng văng vẳng
trên không, hướng dẫn hàng triệu tín đồ trên khắp các
nẻo đường trong cõi Á Đông.
Ở
kinh thành Kandy xứ Tích Lan, một đoàn voi dọn đường cho
dân chúng lên núi viếng chùa Phật Tích. Ai nấy đều tay mang
nặng những bó hoa tươi đẹp và trong lòng hoan hỉ sắp được
chiêm bái ngọc Xá Lợi (một chiếc răng của Đức Phật)
cất kín trong bảy lần khám vàng, đến hôm nay mới mở ra
làm lễ.
Ở
Ngưỡng Quang, kinh đô xứ Miến Điện, là nơi có hàng ngàn
tượng Phật và những ngọc ngà châu báu của các chùa đã
đem ra trưng bày ngoài đường cho mọi người chiêm ngưỡng.
Các cô gái con nhà vương tôn quý phái thi nhau tung rãi những
thảm hoa lài dưới gót chân thiện nam tín nữ.
Ở
Bắc Kinh, Đài Bắc, Tokyo, Saigon, Nam Vang, Vạn Tượng, cũng
như ở các xóm làng xa xôi hẻo lánh, nơi đồi núi và đồng
ruộng, tiếng chuông, tiếng trống và tiếng mõ đã vang lừng
nổi dậy để đón mừng đêm trăng sáng, đêm thiêng liêng
mà Đức Thế Tôn thành đạo.
Cũng
trong lúc ấy, tại những chỏm núi tịch mịch trên dãy Hy
Mã Lạp Sơn, những vị tu sĩ Tây Tạng đang múa những vũ
điệu tượng trưng dòng sống bất diệt của muôn loài. Trời
giá rét như dao cắt, thế mà họ không mặc một manh quần
áo, đạo tâm nồng nhiệt của họ đã phát ra một sức nóng
phi thường làm tan cả băng tuyết.
Rồi
đến nửa đêm, lúc trăng tròn treo cao giữa vòm trời xanb
biếc, trên khắp nửa quả địa cầu, năm trăm triệu bộ
mặt hân hoan, một ngàn triệu bàn tay nhẹ nhàng, ngửa lên
không trung để hứng lấy ánh sáng thanh tịnh đang rào rạt
rơi xuống cõi trần.
Đêm
trăng tròn tháng 4 Âm lịch là một đêm lịch sử thiêng liêng
của Phật tử trên thế giới (1).
Hai
ngàn năm trăm năm về ttước, cũng trong đêm này, cũng dưới
vòm trời trong sáng này, người mà được đặt tên là “
Phật” có nghĩa là “ Người Thức Tỉnh”, “ Người Giác
Ngộ” và “ Người Viên Mãn” đã nhập Niết Bàn. Người
ấy không bao giờ nhận rằng mình là một đấng Thượng đế
hay một vị sứ giả của Thượng đế, mà chỉ nhận là một
người thường, một người y như mọi người khác. Nhưng
Người ấy đã nâng phẩm vị con người lên đến mực cao
vời, lên đến Tuyệt Đối. Vì thế mà từ hơn hai ngàn năm
trăm năm nay, năm trăm triệu người sùng bái Người như một
đấng thần linh vậy !
Đức
Phật đối với Á Đông không khác gì Đức Chúa Jésus đối
với Tây Phương và Đức Mahomet đối với Trung Đông. Đạo
Phật cùng với đạo Thiên Chúa, đạo Ấn Độ (Bà La Môn)
và đạo Hồi Hồi là bốn đạo lớn nhất của nhân loại.
Trên
trái đất này, cứ năm người là có một người Phật tử.
Ở Tích Lan, các trẻ em bắt đầu học Phật pháp từ khi còn
nhỏ. Ở Miến Điện, Thái Lan, Tây Tạng, Ai Lao và Cao Miên,
đạo Phật được lập thành quốc giáo. Ở Trung Hoa và Nhật
Bản, một nửa dân số là tín đồ đạo Phật.
Với
Đức Khổng Tử, Mạnh Tử và Lão Tử, Đức Phật là một
trong những bậc thánh nhân đã đem văn minh của Á Đông lên
đến cực điểm và đã truyền lại cho hoàn cầu, trong đó
có cả Tây Phương, vài giáo lý đến ngày nay vẫn còn là
rường cột tinh thần của thế gian. Chỉ có một nước ở
Á Đông mà Phật giáo sau khi ngự trị trong 13 thế kỷ, đã
thoái lui gần như tàn tạ, ấy là nước Ấn Độ, quê hương
của Đức Phật (300 ngàn tín đồ Phật giáo trong số 370 triệu
dân).
Vậy
Người tuy không muốn mà vẫn được xem là sứ giả của
Thượng đế để giảng dạy một đạo không có Thượng đế,
Người giáo chủ của một đạo không lập giáo chủ và đẳng
cấp trong hàng tu sĩ, Người sáng lập vô thần của một dòng
tu cổ nhất của hoàn cầu, Người ấy là ai ?
Đức
Phật đã nói : “ Ta đem phương thuốc chữa bệnh Đau Khổ
cho chúng sanh. Đau khổ chỉ có một nguyên nhân, ấy là ngu
dốt (vô minh). Hãy ăn ở và hành động cho trong sạch, giải
thoát là do tự nơi ngươi”. Vậy Đức Phật là ai ?
Suốt
đời, Ngài là hiện thân hoàn toàn của những giáo lý mà
Ngài đã nói ra, nên trong một thời gian dài, các nước Tây
Phương đã nghi ngờ rằng Ngài không phải là một nhân vật
lịch sử, không phải là một người đã có thật. Họ cho
rằng những kinh điển Phật giáo cùng những sách cổ chữ
Phạn (Sanscrit) và Pali, ghi chép sự tích và giáo lý của Đức
Phật, chỉ là những áng văn chương tuyệt tác mà trong đó
người chủ động là một đấng cao siêu tuyệt vời nhưng
đã được tạo ra bằng trí óc tưởng tượng.
Mãi
đến hơn 60 năm nay, vào khoảng năm 1896, một nhà khảo cổ
Anh Cát Lợi là Ô. Ale xande r Cunningham, đã tìm thấy bản khai
sinh của Đức Phật tại Rummindei, quận Gorakpur, xứ Népal
(Bắc Ấn Độ). Đó là một cột trụ bằng đá mà vua A Dục
(Acoka) đã cho dựng vào năm thư 20 trong triều đại Ngài, tức
là năm 244 trước Tây lịch. Trên mặt trụ có khắc dòng chữ
sau đây mà hiện nay người ta vẫn còn đọc rõ : “ Tại
nơi này, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã giáng sanh”. A Dục
vương là một ông vua theo đạo Phật. Ông đi viếng những
cảnh Phật và tại mỗi nơi ông cho dựng một cột đá để
ghi sự tích.
Ngày
nay, cứ lần theo những cột trụ ấy, người ta có thể nối
gót Đức Phật trên những dặm đường mà Ngài đã đi qua
trên hai ngàn hai trăm năm về trước.
Bằng
xe kéo, xe bò, xe ô tô, thuyền và voi, người ta có thể đến
chiêm ngưỡng bốn thắng cảnh đầy di tích chí tôn của Đức
Phật. Đó là :
Vườn
Lâm Tỳ Ni (Lambini, bây giờ là Rummindei), nơi Đức Phật giáng
sanh.
Trúc
Lâm ở Uruvela (bây giờ là Bodh Gaya), nơi Đức Phật thành
đạo.
Vườn
Lộc Giả ở Isipatana (bây giờ là Sarnath, gần Bénarès), nơi
Ngài thuyết pháp lần đầu tiên.
Câu
Thi Na (Kusinara) dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nơi Ngài tịch diệt
và nhập Niết Bàn.
Trong
một chu vi 300 cây số ngàn quanh thành Ba Na Lại (Bénarès),
từ dãy Tuyết Sơn đến thung lũng sông Hằng (Gange), bốn địa
điểm nói trên là những mốc đánh dấu khu vực bao la trong
đó Đức Phật đã sống, đã tìm phương thuốc diệt đau
khổ, đã phát minh Tứ Diệu Đế và đã chuyển pháp
luân. Trong khu vực mênh mông ấy, Đức Phật đã giảng dạy
trong ngót nửa thế kỷ, giáo lý từ bi – hỉ xả, một trong
những giáo lý bác ái đầu tiên của nhân loại.
Khách
bộ hành mộ đạo qua sông Hằng ở Patna, nơi trong các sách
cổ Pâli gọi là Pataliputta và chính là chỗ Đức Phật đã
qua sông khi xưa, bây giờ là một cánh đồng ruộng bát ngát
với tít đằng xa cao vọi dãy Tuyết Sơn xanh biếc, cột đá
của vua A Dục vẫn còn trơ trơ đứng vững. Khách du hành
trông thấy thì biết là đã đến Lâm Tỳ Ni rồi, nhưng những
vườn lừng danh thuở trước không còn nữa, chỉ còn thấy
một cây sung. Chính tại đây, dưới một cội cây như cây
này, mà có thể chính là cội cây này, hoàng hậu Ma Gia đã
dừng chân nghỉ và trong một đêm trăng tròn, bà đã sinh hạ
một thái tử mà sau này thành Phật.
Mười
tháng về trước, trong cung ở thành Ca Tỳ La Vệ, hoàng hậu
Ma Gia nằm mơ thấy một con voi trắng nhập vào thân bà.
Ca
Tỳ La Vệ, cách Lâm Tỳ Ni 15 cây số ngàn, là kinh đô vương
quốc của dòng họ Thích Ca (Cakyas), một nước nhỏ tại ranh
giới hiện thời của xứ Népal, ở chân dãy Hy Mã Lạp Sơn,
về phía Ấn Độ. Vua Tịnh Phạn là người thuộc giai cấp
Ksatryas, giai cấp các chiến sĩ Ấn Độ. Sau này, Đức Phật
kể truyện lại rằng : “ Vương phụ có ba cung điện : Một
cung điện để ngự trong mùa rét, một cung điện cho mùa nóng
và một cung điện cho mùa mưa”. Cung điện cho mùa nóng chính
là ở trong những vườn rộng lớn Lâm Tỳ Ni này.
Tục
truyền rằng khi thái tử ra đời, có một đạo sĩ tên là
A Tư Đà (Asita) ở trên Tuyết Sơn xuống thăm đức vua. Lúc
trông thấy thái tử, đạo sĩ liền tâu với vua rằng : “
Thái tử sẽ không lên ngôi báu mà sẽ thành một vị thánh”.
Vì thế, vua muốn giải trừ định mệnh ấy, nên mới đặt
tên cho thái tử là Tất Đạt Đa, nghĩa là “ thành người
phải thành”. Từ đó, người ta gọi thái tử là Tất Đạt
Đa Cồ Đàm.
Sau
khi thái tử ra đời được vài ngày, mẫu hậu Ma Gia từ trần.
Theo sách cổ, hoàng hậu mất vì vui mừng khi biết trước
rằng người con mà bà đã hoài thai trong trinh khiết sẽ là
bậc siêu phàm, sẽ thành Phật.
Một
người em gái của hoàng hậu là công chúa Ba Xà Ba Đề (Maha
Pajapati) nuôi dưỡng, trông nom và săn sóc thái tử. Vua Tịnh
Phạn cảm ân ấy nên sắc phong công chúa làm kế hậu. Tuy
nhiên, vua lúc nào cũng buồn rầu và chỉ có một nguồn vui
duy nhất là trông thấy con mà thôi !
Sợ
thái tử có thể nảy ra ý nghĩ đi tu như lời tiên tri của
đạo sĩ A Tư Đà khi trước, vua Tịnh Phạn không cho thái
tử gặp những giáo sĩ Bà La Môn là những người truyền
giảng kinh thánh Phệ Đà. Không những thế, Ngài còn tập
cho thái tử quen và ưa thích đời sống xa hoa lộng lẫy trong
cung vàng điện ngọc. Chỉ những thanh niên khỏe mạnh, đẹp
đẽ, sung sướng và vui tươi mới được phép vào cung giáp
mặt thái tử. Ý vua lạ không muốn cho con trông thấy cảnh
tượng khổ sở, xấu xa và đau đớn của đời người. Như
thế, theo ý Ngài, thái tử sẽ có một tâm hồn trong sáng
và luôn luôn sống trong cảnh thiên đường ở thế gian.
Thái
tử tuy còn ít tuổi, nhưng vua cha đã cưới vợ cho thái
tử là công chúa Da Du Đà La (Gopa Yasodhara). Công chúa
Da Du có một sắc đẹp tuyệt trần và thái tử cũng đẹp
lắm ! Nhìn những bức bích họa ở trong những động đá
tại Ajanta, gần tỉnh thành Bombay bây giờ, chúng ta có thể
ý niệm hình dung tuấn tú của thái tử như thế nào : Một
thanh niên mảnh dẻ và dịu dàng, gương mặt sáng ngời, đầy
đủ cả những nét thanh đẹp của phương Đông và phương
Tây hợp lại. Thái tử sống vui vẻ trong gia đình, không bao
giờ ra khỏi cung điện. Vua cha luôn luôn thay đổi những đoàn
nữ ca vũ nhạc để thái tử không thể lúc nào nhàm chán.
Nhưng một hôm đã xảy ra một việc kỳ lạ !
Hôm
ấy, thái tử dạo chơi ngoài vườn Lâm Tỳ Ni và đứng nhìn
những người nông phu đang cày ruộng, bỗng dưng “ Ngài trông
thấy một cây cỏ non bị nhổ rễ và những con bọ cùng những
trứng bọ trên ngọn cỏ bị lưới cày nghiền nát tan tành.
Ngài đau thương vô hạn, chẳng khác gì như Ngài đã chứng
kiến cuộc tàn sát gia đình Ngài”.
Sách
cổ Pali kể tiếp : “ Ngài nhìn kỹ những người cày ruộng,
mặt sạm đen vì bụi, thân cháy khô vì trời nóng và cực
nhọc, rồi lòng từ bi của Ngài đau xót vô cùng. Ngài ngồi
xuống dưới bóng một cây táo hồng và lần đầu tiên, Ngài
suy nghĩ về cảnh huống của con người. Khi những người
hầu đến rước Ngài về, Ngài vẫn ngồi yên lặng dưới
gốc cây. Mặt trời đã gần lặn, thế mà bóng cây táo vẫn
còn tỏa che cho vị thanh niên Bồ Tát”.
Từ
đó, thái tử sinh ra buồn rầu. Một buổi chiều, Ngài tâu
với vương phụ rằng Ngài muốn đi thăm Ca Tỳ La Vệ, kinh
đô của quốc gia, mà chưa có dịp thăm viếng. Vua Tịnh Phạn
lo sợ. Ngay trong đêm, vua ra lệnh trục xuất khỏi thành tất
cả những người già, đau ốm và tàn tật. Tuy vậy, thành
phố vẫn chưa rửa sạch hết những cảnh khổ đau. Vừa mới
đặt chân đến nơi, thái tử đã kinh ngạc về những nỗi
đau thương bày ra trước mắt.
Trong
một ngõ hẻm, Ngài thoáng thấy một người đang ngâm mình
dưới nước, thân thể đầy những mụn nhọt. Ngài bèn hỏi
thị vệ Xa Nặc : “ Người ấy làm sao thế ?”.
Tâu
Ngài, đó là một người ốm (bệnh).
Cũng
ngay lúc ấy, một hình dáng tiều tụy, da bọc xương, loạng
choạng đi ra cửa một túp lều, hai tay quờ quạng như một
kẻ mù.
Thế
người này làm sao ?
Tâu
Ngài, họ già yếu.
Vậy
sau này ta có như thế không ?
Sau
này, thái tử sẽ già yếu như thế, nếu trước khi ấy thái
tử chưa chết.
Chết
ư ? Chết là gì ?
Chỉ
một lát sau, cái chết đã hiển hiện tại góc đường mà
thái tử đi qua. Đó là một thây ma trương phềnh, thịt đã
bắt đầu nát nhũn và hôi thối mà bốn người đang khiêng
đi hỏa táng. Thái tử kinh khủng vô cùng và vội vã trở
về cung. Mới trong một lúc mà Ngài đã trông thấy đủ ba
cảnh khổ của con người là bệnh, già và chết !
Ngày
hôm sau, ra ngoài thành, Ngài gặp một tu sĩ mặc áo vải vàng,
dang đi khất thực, trên mặt tu sĩ lộ ra một vẻ hân hoan
khác thường. Thái tử ngạc nhiên hỏi :
Sao
ngươi có thể vui cười được trong khi cảnh đời rặt là
xấu xa đau khổ?
Chính
là vì tôi đã từ bỏ cuộc đời. Người tu sĩ trả lời
rồi đi thẳng.
Về
tới cung, thái tử được tin công chúa Da Du mới sinh một
con trai. Thái tử liền nói : “ Đó lại là một dây nhợ
nữa để buộc ta với đời. Ta sẽ đặt tên cho nó là La
Hầu La (Rahula, nghĩa là xiềng xích). Thái tử không vào thăm
con, yên lặng trở lui vào phòng một mình. Các vũ nữ trông
thấy thái tử buồn rầu khác thường, bèn bảo nhau uống
rượu say để cố làm cho thái tử phải mê đắm trong những
cuộc vui. Nhưng thái tử vẫn yên lặng, trầm tư mặc tưởng.
Đến nửa đêm, chợt tỉnh cơn suy nghĩ, Ngài trông thấy bọn
nữ vũ nhạc – ca sĩ nằm ngổn ngang trên thảm, đầu tóc
rũ rượi chẳng khác gì một bầy thú vật. Cảnh tượng ấy
làm cho Ngài thêm chán ngán, Ngài kinh tởm cái đời sống vương
giả xa hoa lộng lẫy mà Ngài xét thấy vô cùng trống rỗng.
Ngài
bèn truyền lệnh thắng yên cương con ngựa Kiền Trắc của
Ngài, rồi cùng với thị vệ Xa Nặc, từ bỏ cung điện ra
đi. Suốt đêm, hai người phóng ngựa thật nhanh qua những
khu rừng rậm. Đến sáng sớm, bỗng gặp một người hành
khất, thái tử xuống ngựa, cắt đứt mớ tóc dài (biểu
hiện địa vị và giai cấp của Ngài), rồi đem đổi những
áo gấm vóc lấy mấy manh giẻ rách của người ăn xin. Ngài
giao những đồ trang sức bằng vàng ngọc cho Xa Nặc và truyền
trở về cung vua. Một mình một bóng, Ngài đi xuống miền
Nam.
Đến
đây là hết sự tích huy hoàng của một vương giả. Thái
tử Tất Đạt Đa không còn nữa. Một đời sống tâm linh
mới mẻ bắt đầu với Thích Ca Mâu Ni, nhà đạo sĩ dòng
họ Thích.
Ngài
đi bộ đến Pataliputta (Patna), rồi rẽ vào con đường chạy
qua những tỉnh thành Tư Xá Lỵ (Vaicali), Vương Xá (Radjagriha)
và Gaya, đến thành Kashi (Ba La Nại) và Prayag (Allahabad) là
những nơi thánh địa trên sông Hằng của người Bà La Môn.
Ngài
đi chân đất, đầu cạo trọc, xin cơm ăn và gặp ai cũng
hỏi : “ Ông có biết phương thuốc nào chữa khỏi nỗi đau
thương vô tận là đời sống không ?”.
Khi
ấy, Ngài mới có hai mươi chín tuổi. Vẻ đẹp lộng lẫy
của Ngài làm ai cũng phải chú ý. Một buổi hoàng hôn, dưới
bóng mặt trời đỏ rực, Ngài đi vào thành Tư Xá. Những
phụ nữ trông thấy Ngài, tưởng là thần Shiva giáng thế,
vội vàng sụp lạy xuống đất.
Ai
cũng ngạc nhiên về sự thiếu kinh nghiệm và khao khát hiểu
biết của Ngài, với câu hỏi nhắc đi nhắc lại mãi : “
Ông có biết phương thuốc nào chữa khỏi nỗi đau thương
vô tận của đời sống không ?”.
Một
hôm, một đạo sĩ Bà La Môn tên là Alara Kalama trả lời :
“ Phương thuốc ấy là đời sống”. Rồi đạo sĩ dắt
Ngài, một tân đệ tử, vào tu viện trong đó đạo sĩ giảng
dạy kinh điển Bà La Môn giáo cho ba trăm người mới tu học.
Thế
là vị thanh niên tuấn tú mà vua cha đã hết sức giữ gìn
không cho tiếp xúc với đời, bỗng thấy tâm hồn choáng váng
trước những lời bí ẩn không thể suy lường của vũ trụ.
Đạo
sĩ Kalama cho Ngài biết rằng những cảnh đau khổ là già,
bệnh và chết mà Ngài đã trông thấy và động lòng thương
xót, chẳng phải là chỉ có trong một kiếp này mà thôi !
Những nỗi thống khổ ấy cứ trở đi trở lại trong
hàng trăm, hàng ngàn, hàng triệu, hàng vô lượng kiếp mà
mỗi người cứ phải đeo đuổi sống mãi.
Đó
là luật Luân Hồi, cái vòng sinh tử quay cuồng vô tận, nó
lôi cuốn con người không bao giờ dứt ! Luật ấy và luật
Nhân Quả, đời sống này là do những việc làm, những nghiệp
thiện và nghiệp ác trong đời trước tạo nên, là hai vấn
đề bí hiểm mà người Ấn Độ từ ngàn xưa đến nay cố
tìm giải quyết mà vẫn chưa xong.
Trong
suốt mùa mưa, Ngài ở trong tu viện thành Tư Xá và suy gẫm
những giáo lý của thầy dạy. Một hôm, Ngài hỏi thầy :
“ Thầy có biết phương thuốc nào chữa khỏi những nỗi
đau khổ vì bệnh tật, vì già yếu, vì mất những kẻ thương
yêu và vì chết không ?”.
Thầy
trả lời là không biết, Ngài bèn từ giã thầy và lại lên
đường để tìm học đạo.
Khi
đến thành Vương Xá, kinh đô nước Ma Kiệt Đà (Maghada, hiện
nay là Le Bihar), Ngài lên trên núi Linh Khứu, một quả núi
khô khan trơ trụi mà những bụi cây cho mãi đến bây giờ
cũng vẫn là những chỗ ẩn nấp cho hổ báo và rắn rết.
Trên núi ấy, giáo sĩ Udakka giảng dạy thuyết Du Già, một
học thuật tu tập cho người hoàn toàn tự trị được thân
tâm.
Hồi
ấy, Đức Thích Ca đã ngoài ba mươi tuổi, nhưng Ngài cũng
cố ép xác, tập tất cả những môn học cực nhọc làm rời
rã cả thân thể lẫn tâm linh. Trong sáu năm trời, Ngài tu
những khổ hạnh rất ghê sợ : Không mặc quần áo, dầm người
trong những trận mưa đổ xuống như thác, đầu trần, phơi
mình ngoài nắng gay gắt như lửa đốt, tự “ làm rỗng”
trong người, không ăn, không uống, nhịn thở, đến nỗi có
lúc gần như “ vỡ sọ”.
Có
khi Ngài ngã (té) xỉu, bất tỉnh nhân sự, người ta tưởng
rằng Ngài đã chết. Nhưng không ! Trước Ngài cho đến mãi
bây giờ, hàng ngàn đạo sĩ và môn đồ Du Già đã làm và
vẫn còn làm những khổ hạnh ấy. Tuy Ngài hết sức
“ nghiền ” thân “ vắt ” trí, nhưng vẫn không tìm ra
được phương thuốc chữa đời sống quay cuồng trong vòng
Nhân Quả – Luân Hồi.
Một
lần nữa, Ngài lại lên đường ra đi cầu đạo. Lần này,
Ngài đi cùng với năm người bạn đồng tu và xuống thẳng
miền Nam. Sau nhiều ngày khó nhọc, họ đến Trúc Lâm, một
làng nhỏ gần Gaya, trên sông Ni Liên Thiền (Nairanjana). Tại
nơi đây, 2.501 năm về trước, dưới một cội Bồ Đề, trong
đêm trăng tròn tháng 4 Âm lịch, Đức Thích Ca Mâu Ni đã giác
ngộ và thành Phật.
Lúc
đến Trúc Lâm, Ngài quyết chí phen này thế nào cũng phải
tìm ra được “ phương thuốc”. Trong mấy tháng ròng rã,
Ngài tập lại những môn khổ hạnh ghê gớm. Sách Lalita Vis
tara kể rằng : “ Cánh tay và bắp chân Ngài gầy còm như
những khúc song, bộ ngực gồ ghề như yếm một con cua lớn.
Thân thể đầy đất bụi, chẳng khác gì một cội cây mục
nát. Một đàn kiến đã tưởng lầm và làm tổ trên thân
Ngài”.
Ngài
tu luyện được những phép phi thường, nhưng những phép ấy
chẳng đem lại lợi ích gì, “ phương thuốc” vẫn chưa
tìm ra được !
“
Bấy giờ, Ngài mới hiểu rằng đã đi lầm đường, không
thể
dùng những khổ hạnh mà đạt được trí huệ, mà phải dùng
những cố gắng dũng mãnh của tâm trí”.
Ngài
bèn bỏ “ lối tu ép xác chỉ làm tiêu mòn tâm linh”. Năm
người bạn của Ngài đều sửng sốt ngạc nhiên trước sự
thay đổi thái độ ấy.
Một
buổi sáng, cô gái Tu Gia Ta (Soudjata) ở làng Trúc Lâm, dem cơm,
sữa và mật ong đến cúng dường Ngài, Ngài nhận và thọ
trai. Thấy vậy, năm người bạn tỏ vẻ khinh bỉ Ngài và
bỏ rađi. Ngài ngồi một mình dưới cội Bồ Đề cho
đến lúc đủ sức đứng dậy được. Ngài liền đi ra bờ
sông Ni Liên Thiền và lội xuống nước tắm vào sáng sớm.
Xong rồi, Ngài lần vào trong làng, ra nơi thiêu các thây ma
và lượm nhặt những giẻ rách của một mụ già nghèo mới
được hỏa táng để dùng làm áo che thân. Vì thế, về sau
này, ca sa của chư tăng đều làm bằng chín mảnh vải nối
với nhau, cốt ý ghi nhớ một kỷ niệm lịch sử của
Đức Phật.
Một
người xưa kia là thái tử, sống huy hoàng trong ba cung điện,
nay mặc đồ rách rưới tả tơi, cầm bát đi xin ăn từng
nhà trên các nẻo đường ở Uruvela. Ngài dùng cơm, rau và
đậu mà những kẻ nghèo khác bố thí cho Ngài. Một hôm, một
đứa trẻ thấy cha mẹ cúng dường, cũng bắt chước và thành
tâm đặt vào bình bát của Ngài một nắm cát. Ngài bình thản
ăn cả cát.
Chiều
đến, Ngài ra ngồi dưới gốc một cây Bồ Đề. Cây này
hiện nay vẫn còn.
Đêm
thiêng liêng của lịch sử đã đến. Tu sĩ Thích Ca ngồi xuống
và quyết chí chỉ đứng dậy khi nào đã tìm được đạo.
Trong đêm ấy, xảy ra những biến cố gì ? Những sách cổ
Pâli kể lại sự tích, chia làm ba giai đoạn :
Canh
đầu, khi trăng mới mọc, Ngài “ ngồi kiết già”, lưỡi
uốn lên phía trên, nín hơi thở, định tư tưởng, nghiền
ngẫm và quán sát. Ngài trải qua cả bốn cấp bậc điêu luyện
thân tâm của học thuật Du Già :
Làm
yên lặng các giác quan
Làm
yên lặng tư tưởng
Diệt
hết tri giác
Làm
tâm trí vắng lặng, rỗng không, rồi thiền định tam muội
(Samadhi).
Canh
hai, khi mặt trăng đã lên cao, Ngài thấy thân tâm đều diệt,
không còn dính líu gì với thế gian nữa và lúc ấy vòng Luân
Hồi hiển hiện ra rõ ràng. Tất cả guồng máy sinh tử, tử
sinh bày ra trước mắt. Ngài trông thấy vật này sinh ra vật
khác, điều ác này sinh ra điều ác khác, điều thiện này
sinh ra điều thiện khác. Dần dần, Ngài nhận thấy rõ rệt
định luật của sự chuyển vần vô tận ấy.
Đến
hết canh ba, khi mặt trăng đã lặn, chân trời ửng hồng,
bức màn vô minh bị xé toạc, ánh sáng Đại Ngộ chiếu lòa
…
Ngài
đã trực giác thấy “ sự mê lầm của sinh linh bị lôi cuốn
trong vòng sinh tử vô cùng tận. Ngài đã tìm thấy nguyên nhân
của đau khổ và phương pháp diệt trừ đau khổ ”.
Nhắc
lại phút cao cả này, Ngài nói rằng : “ Trong khi tôi phát
minh những điều trên đây, tôi thấy trong lòng đã giải thoát
hết cả tham, ái và si mê. Đạo Giải Thoát đã phát giác
trong tâm con người giải thoát. Khi ấy, tôi đã thành Phật
rồi !”.
Lời
nói trên quả thật là khó hiểu, Đức Phật cũng biết như
thế ! Những điều mà Ngài đã thấu suốt trong phút Đại
Ngộ, người khác sẽ có thể hiểu được không ?
Trong
bảy lần bảy ngày, Ngài phân vân, cứ ngồi thiền định
dưới gốc cây. Đến sáng ngày thứ bốn mươi tám, Ngài mới
nhất quyết. Đạo Giải Thoát mà phàm phu chưa đủ sức hiểu
ngay, Ngài sẽ đem truyền giảng trước tiên cho những kẻ
dễ lĩnh hội hơn, vì căn cơ đã được tập luyện, ấy là
những đạo sĩ trong thành Isipatana. Thành này cách Trúc Lâm
mười ngày đường (hiện nay là Sarnath, ngoại ô đô thị
Bénarès). Tại đây, trong vườn Lộc Giả, Đức Phật bắt
đầu “ quay bánh xe Pháp” (chuyển pháp luân), nghĩa là bắt
đầu thuyết pháp và giảng đạo.
Năm
người bạn đồng tu với Ngài đã bỏ Ngài trước đây bây
giờ đều ở cả trong vườn. Ngài nói với họ rằng :
“
Này các tu sĩ, có hai thái cực mà kẻ tìm đời sống tâm
linh phải tránh : Một là đời sống đắm chìm trong dục lạc,
vừa xấu xa hèn hạ, vừa không bổ ích gì ! Hai là đời sống
khổ hạnh, vừa ghê gớm, vừa phá hủy tư cách con người
và cũng vô ích.
Này
các tu sĩ, người toàn thiện đã tránh cả hai thái cực và
đã tìm ra con đường giữa (con đường trung đạo), đưa đến
Trí Huệ, An Lạc, Giác Ngộ và Niết Bàn. Con đường giữa
ấy là gì ? Là Bát chánh đạo, phương pháp diệt trừ đau
khổ.
Này
các tu sĩ, đây là lẽ thật về đau khổ (khổ đế) : Đẻ
ra là đau khổ, già là đau khổ, bệnh là đau khổ, chết là
đau khổ, không thích mà phải hợp là đau khổ và yêu mến
mà phải chia ly là đau khổ. Nói tóm lại, năm hình thức của
sự ràng buộc, tức là năm uẩn, năm thành phần tạm hợp
để làm cái Ta gồm sắc, thọ, tưởng, hành và thức (xác
thân, cảm giác, tư tưởng, manh động và hiểu biết) đều
là đau khổ.
Này
các tu sĩ, đây là lẽ thật về nguyên nhân của đau khổ
(tập đế) : Ham vui, ham sống và ham thường còn.
Này
các tu sĩ, đây là lẽ thật về sự diệt đau khổ (diệt
đế) : Diệt trừ hết lòng ham muốn bằng cách diệt trừ
hết những mong muốn.
Này
các tu sĩ, sau đây là lẽ thật về con đường diệt đau khổ
(đạo đế) : Con đường ấy là trung đạo, tức Bát chánh
đạo, trong có tám điều chân chánh phải thực hành : Nhận
xét chân chánh, suy nghĩ chân chánh, nói chân chánh, làm chân
chánh, sống chân chánh, siêng năng trong chân chánh, tưởng
nhớ điều chân chánh và tập trung tâm ý chân chánh (chánh
tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,
chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định).
Này
các tu sĩ, đây là lẽ thật mà mọi người phải hiểu như
người toàn thiện đã hiểu : Chỉ có một căn bệnh chung
là ngu tối (vô minh). Ai đạt được trí huệ sáng suốt, tức
thời sẽ đạt được Giác Ngộ, An Lạc, Giải Thoát và Niết
Bàn ”.
Trên
đây là những lời thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật
và là những tín điều của Phật giáo. Đức Phật đã phát
minh điều gì ? Để cho người nghe dễ hiểu, Ngài giảng rằng
:
“
Này các tu sĩ, một người rùng mình sợ hãi, tưởng đã đặt
chân lên trên một con rắn, sẽ bật cười khi nhận thấy
rằng con rắn ấy chỉ là một khúc cây leo mục nát ở
dưới bóng trăng mờ. Cũng thế, người viên mãn đã bật
cười khi nhận ra rằng cái Ta sinh ra bao nhiêu phiền não đau
khổ chỉ là do những ham muốn và lo sợ tạo ra mà thôi, cái
Ta đó không thật có !”.
Ta
không thật có ! Tiếng cười của Đức Phật đã làm tan vỡ
tất cả hệ thống học thuật và tư tưởng về vũ trụ,
sụp đổ tất cả tín ngưỡng về định mệnh và tổ chức
các giai cấp của thế giới Bà La Môn giáo. Con người chẳng
còn phải bị bó buộc lôi cuốn vô cùng tận trong vòng Nhân
Quả – Luân Hồi nữa, vì cái Ta là do tâm ta tạo ra, vì con
người tự tạo ra con người !
Đức
Phật dạy : “ Tất cả đều bắt nguồn ở tâm, do tâm chi
phối và do tâm tạo ”.
Sáu
thế kỷ trước Tây lịch, thật là một trái bom nguyên tử
mà Đức Phật đã ném ra. Ngài không giảng dạy lai do của
vũ trụ. Ý Ngài không muốn giảng dạy như vậy !
Người
đau khổ không cần lo đi tìm học triết lý hay những luận
thuyết siêu nhiên, mà chỉ mong cầu được khỏi bệnh ”.
Đức Phật cũng thế ! Ngài thường nhắc rằng : “ Này các
tu sĩ, Ngài Viên Mãn chỉ đem đến cho đời một món duy nhất
là thuốc chữa đau khổ mà thôi !”.
Phương
thuốc ấy, Ngài đã giảng dạy rõ ràng. Trong pháp “ Thập
nhị nhân duyên ”, Ngài vạch cho biết rằng đau khổ chỉ
có một nguyên nhân là ngu dốt (vô minh). Chỉ tại ngu dốt,
không nhận thấy cái Ta là giả tạm và vô thường, nên con
người lúc nào cũng sống trong lo lắng và đau thương. Nếu
ai nhận thức được như Đức Phật là cái Ta không thật
có thì người ấy sẽ giải thoát hết mọi nỗi khổ đau.
Vua
Mi Lan Đà (Milinda) hỏi một Phật tử rằng : “ Nhà ngươi
là ai ?”.
Phật
tử trả lời : “ Tôi ư ? Tôi không biết tôi là ai !
Người ta gọi tôi là Nagaséna, nhưng đó chỉ là một cách
gọi. Thật ra, tên ấy trống rỗng, chẳng chứa đựng một
bản chất gì !”.
Rồi
người đệ tử của Phật nhắc tới ví dụ cái xe là “
do nhiều món ráp lại với nhau mà thành, chứ không có
một vật cố định là cái xe”. Cũng “ người tên gọi
là Nagaséna ” ấy trả lời cho Mi Lan Đà như thế này, khi
vua hỏi tại sao ai ai cũng đều có cảm tưởng rằng suốt
đời chỉ có một thân : “ Chúng ta trông thấy một ngọn
đèn sáng, thế mà đâu phải chỉ có một ngọn lửa cháy
! Ngọn lửa luôn luôn đổi mới, vì chất dầu đốt thành
lửa luôn luôn thay khác. Con người cũng thế, tưởng là một
mà vẫn khác luôn luôn.! Năm uẩn trong thân, tức là năm thành
phần vật chất và tinh thần hợp tan, tan hợp không ngừng,
nên con người sinh tử và tử sinh không dứt ”.
Người
ta có cảm tưởng rằng Đức Phật trong đêm Giác Ngộ, đã
thấy rõ những chuyển biến của nguyên tử trong vũ trụ
và vạn vật.
“
Một ngày 24 giờ có 6.400.099.980 sát na. Cứ trong mỗi sát na,
năm uẩn đã hợp rồi tan. Như vậy, con người đổi mới,
chết đi sống lại 6.400.099.980 lần trong 24 giờ ”.
Sự
vô thường của con người nhanh chóng đến điên đầu chừng
ấy, thế mà con người còn cứ thắc mắc và khổ sở về
sự vô thường của các cảnh vật khác !
“
Sinh, trụ, di, diệt ”. Có sinh là phải có chết, có hình
tướng thì phải có hủy hoại. Vô thường là một luật chắc
thật của vũ trụ, còn ngoài ra đều là ảo mộng. Con rắn
chỉ là một khúc cây leo mục nát mà thôi !
“
Hãy thức tỉnh dậy ! Chỉ có một phiền não, ấy là vô minh.
Vì vô minh nên sinh ra ham muốn, ham muốn vui sướng, ham muốn
hạnh phúc vật chất và ham muốn được còn mãi mãi. Sự
ham muốn làm cho người ta lầm tưởng rằng có một thân
duy nhất, có một Ta liên tục quái gỡ, một Ta tham lam vô
tận ! Nhưng cái Ta ấy chỉ là do lòng ham muốn của người
tạo ra mà thôi ! Vô thường trong hoàn cảnh vô thường, cát
bụi trong vòng cát bụi, người cũng qua mất cùng với mọi
cảnh vật.
Ngươi
hãy phá tan cái Ta là nhà lao tù của ngươi, rồi ngươi sẽ
được tự do. Không ham muốn, không lo sợ, ngươi sẽ hưởng
sự yên vui thanh tịnh, ngươi sẽ đạït được Niết Bàn
là cảnh tận diệt hết cả ham muốn và lo âu. Lúc bấy
giờ, ngươi sẽ sáng suốt, thức tỉnh trong trí huệ và sẽ
cùng người viên mãn nói rằng : Chúng ta sống trong vui vẻ
hoàn toàn, tuy rằng chẳng có một mảy may gì gọi là của
ta. Hoàn toàn vui vẻ, chúng ta sống không oán giận trong một
thế giới đầy thù oán. Vui vẻ là thức ăn thường
ngày của chúng ta cũng như của các thiên thần ”.
Đức
Phật đã dạy như thế ! Ngài nhập diệt được hơn hai ngàn
năm trăm năm rồi, nhưng nguồn vui của Đức Phật lúc nào
cũng vẫn y nguyên. Trên khắp hoàn cầu và ở những nơi trên
hoàn cầu bị tàn phá, khổ cực nhất, chỗ nào gặp một
người Phật tử là gặp được vui vẻ và yên tịnh.
Bởi vậy, những người Bà La Môn ngày xưa căm hờn Phật
giáo, đã phải thốt ra rằng : “ Đức Phật vì lòng thương
chúng sanh, đã tiết lộ cho chúng sanh biết rõ cơ trời mầu
nhiệm ”.
Đức
Phật chỉ tự xem mình là “ một người thường”, nhưng
thiên hạ không muốn thế ! Ngài mới vừa đứng dậy và rời
khỏi tảng đá dưới gốc cây trong vườn Lộc Giả, những
thính giả của Ngài, mà chính Ngài đã căn dặn đừng để
cho trí tưởng tượng làm mê lầm, đã xem Ngài như một vị
thần thánh !
Tảng
đá vẫn y nguyên, cây cổ thụ vẫn còn vững, nhưng Đức
Thế Tôn đã đứng dậy. Ngài từ giã năm đệ tử : “ Bây
giờ, ta là ngọn đèn đã tắt”. Rồi lặng lẽ một mình
trong cát bụi, Ngài đi về phía sông Hằng trong buổi chiều
tà. Ngài 36 tuổi.
Đến
đây, chúng ta không thể theo chân nối gót Đức Thế Tôn trên
hàng ngàn vạn dặm đường mà Ngài đã đi qua, nhưng chúng
ta biết là Ngài đã làm những gì đáng làm !
Thuyết
pháp ở vườn Lộc Giả, Đức Thế Tôn đã bắt đầu “
chuyển bánh xe Pháp”. Bởi vậy, trong một thời kỳ rất
dài, người ta tượng trưng Ngài dưới hình thức một bánh
xe : Tum xe biểu hiện cho Phật tức là Trí huệ, những lan
hoa biểu hiện cho Pháp tức là Giáo lý và vành ngoài biểu
hiện cho Tăng già tức là Giáo hội.
Phật
– Pháp – Tăng là ba ngôi báu (Tam Bảo), là nền móng và
rường cột của đạo Phật. Ai quy y Phật – Pháp – Tăng,
người đó là Phật tử, dù xuất gia hay tại gia. Phật tử
không bắt buộc phải tin một cách mù quáng. Phật giáo nguyên
thỉ không phải là một tôn giáo (1). Phật tử không cần
phải cầu nguyện, vì Phật chẳng phải là một thần thánh.
Nhưng thiên hạ sắp thần thánh hóa Đức Phật, “ bánh xe
Pháp” đã chuyển. Đức Thế Tôn tức là bánh xe ấy, quay
khắp mọi nơi, trên khắp nẻo đường. Những thần thoại
sắp bắt đầu che phủ Ngài. Cảnh vật thần tiên của
Ấn Độ, đủ cả công, voi, hươu, khỉ, hổ … sắp bày ra
giữa Ngài và chúng ta.
Chúng
ta thấy Ngài sau bao năm xa cách, trở về kinh đô của vua cha
dưới hình dạng một người hành khất, rồi hóa độ cho
nhiều người trong hoàng tộc vào đạo.
Chúng
ta thấy kẻ phản bội là Đề Bà Đạt Đa (Devadata) thúc một
con voi dữ để dày xéo Ngài, nhưng lạ thay, con voi lại
phủ phục dưới chân Đức Phật.
Chúng
ta thấy một con rắn quấn chung quanh Đức Thế Tôn để che
mưa cho Ngài và một con khỉ mang đến cúng dường Ngài một
ổ mật ong.
Những
sự tích đó thuộc về loại thần thoại. Điều chắc chắn
mà chúng ta biết, vì đã được đệ tử của Đức Thế Tôn
là A Nan đã nói ra, là trong bốn mươi lăm năm trời ròng rã,
Đức Phật xông pha trong cát bụi, đi dọc theo bờ sông Hằng,
có khi lên mãi trên phía Hy Mã Lạp Sơn, có khi xuống tận
thành Vương Xá. Ngài chỉ sống bằng những phẩm vật bố
thí và luôn luôn thuyết pháp, lấy chính thân Ngài làm biện
chứng cho những lời nói của chân lý.
Trong
mùa mưa, Ngài cùng các đệ tử nghỉ trong các động núi.
Bao giờ Ngài cũng chỉ dùng có một bữa chay vào buổi trưa.
Với các vua chúa cũng như với kẻ trộm cướp, với người
cao sang cũng như với kẻ hạ tiện, Ngài đều dạy phải quên
mình mà từ – bi – hỉ – xả. Mùa xuân đến, bùn (sình)
đã khô, Ngài lại ra đi, không bao giờ vào trong một thành
phố sau khi mặt trời đã lặn. Ai đến xin Ngài độ, Ngài
cũng đều giáo hóa và dạy một điều là phải tự diệt
lòng mình để sống trở lại đời sống yên vui.
Vài
tuần lễ trước khi Ngài nhập diệt, bức màn thần thoại
được dẹp sang một bên và lịch sử ghi chép rõ ràng giai
đoạn cuối cùng của Ngài trên trần thế.
Khi
ấy, ông A Nan vẫn theo hầu Đức Thế Tôn. Suốt mùa mưa,
Ngài nghỉ trong một hang động tại thành Vương Xá. Trời
mới bắt đầu nắng ráo, Ngài liền cùng đệ tử lên đường,
hướng về phương Bắc. Từ Vương Xá, có đi nhanh cũng phải
mất ba ngày mới đến Pataliputta là nơi Đức Thế Tôn qua
sông Hằng. Dạo đó là cuối tháng 3 Âm lịch, mới sáng sớm,
mặt trời đã nắng gay gắt, đất đã bốc hơi và nóng bỏng
chân.
Đến
Tư Xá Lị (Vaicali), Đức Thế Tôn thấy trong người không
được khỏe. Chắc tại trời nắng quá, mà Ngài đi đầu
trần, vai bên phải để hở, chỉ khoác có một mảnh ca sa.
Tuy vậy, hôm sau, Ngài cũng vẫn đi đủ sáu giờ đồng hồ
như thường lệ. Từ Tư Xá Lị đến Câu Thi Na (Kusinara), dưới
chân dãy Hy Mã Lạp Sơn, còn phải bảy ngày đường mới tới.
Ngày
thứ sáu, đến Pava, Đức Thế Tôn nghỉ chân tại gia đình
một nhà thợ rèn tên là Thuận Đà (Tchounda). Chủ nhân mời
Ngài thọ trai và cung kính đặt vào trong bình bát một phẩm
vật mà Ngài không để ý. Sau này, người ta được biết
rằng đó là một thứ nấm thổ ngơi gọi là “ chân lợn”.
Trong đêm ấy, Ngài thọ bệnh, một loại đau kiết. Nhưng
đến sáng sớm, mặt trời chưa mọc, Ngài đã lên đường.
Trong
khi đi, Ngài và đệ tử phải sang ngang hai con sông Kakontska
và Hyranyavati. Lúc ấy, một đoàn xe bò chừng 5.000 chiếc vừa
qua sông. Nước vẫn đục, đỏ ngầu; nhưng hai lần Đức
Thế Tôn cúi xuống múc nước để giải khát. Khoảng gần
trưa, Ngài và đệ tử đến Câu Thi Na. Nơi này hiện giờ
vẫn y nguyên như cũ. Buổi trưa, mặt trời vẫn gay gắt đốt
cháy đồng ruộng. Dưới một cội cổ thụ, gò đất phẳng
vẫn còn. Chính tại đây, Đức Thế Tôn đã nằm nghỉ,
“ mình nghiêng về bên phải, như một con sư tử”.
Cũng
như mọi ngày, sau khi nghỉ trưa, Ngài họp các đệ tử. Một
người xin vào yết kiến, Ngài tiếp và độ cho vào đạo.
Đó là người cuối cùng được Đức Thế Tôn giáo hóa trước
khi Ngài nhập diệt.
Cảnh
chiều hôm tịch mịch, ông A Nan ngồi cạnh Đức Thế Tôn
và lấy khăn ướt thấm môi Ngài đang cứng khô vì nóng
sốt. Vầng trăng dần dần mọc lên, đêm nay là đêm trăng
tròn của tháng 4 Âm lịch; cũng như khi trước ở Lâm Tỳ
Ni, đêm trăng tròn Ngài giáng sanh; và ở Trúc Lâm, đêm trăng
tròn Ngài thành đạo. Đêm nay là đêm của Đức Phật, trong
ánh sáng mênh mông và mát dịu, phảng phất hương thơm của
hoa lài, của ngọn đèn dầu dừa và của khói trầm nghi ngút,
đó là hương thơm của Đức Thế Tôn.
Đến
canh ba, Ngài nói với các đệ tử : “ Các con xem, tất cả
mọi vật đều vô thường. Các con ở lại phải luôn luôn
cố gắng trên đường tu học”.
Đó
là những lời cuối cùng của Đức Phật. Các đệ tử
vui mừng thấy ánh bình minh đã rạng nơi chân trời. Họ không
cần bận tâm đến xác thân của Đức Thế Tôn, họ hỏa
táng xác Ngài cũng như một bọn người xa lạ hỏa táng xác
thân của một kẻ xa lạ. Người nào khóc Đức Thế Tôn,
tức là người ấy không hiểu Ngài.
Như
thế, “ người cao cả nhất của nhân loại”, “ người
đầu tiên có lòng thương người” đã từ biệt cõi trần.
Nhưng người ấy được người thế gian tôn thờ như một
vị thần.
Trong
13 thế kỷ, thoát khỏi những nỗi thắc mắc lo âu, nước
Ấn Độ sống trong sự an vui sáng suốt của Đức Phật và
tiến đến mức văn minh cao nhất của họ. Suốt trong nước
từ Hy Mã Lạp Sơn đến Tích Lan, chỗ nào cũng có chùa, am
và tháp. Người ta tôn thờ hình ảnh của chính Người đã
bài trừ tất cả những mộng tưởng đảo điên về hình
ảnh. Nghệ thuật điêu khắc ghi vào đá hình dáng của chính
Người khi tại thế, đã trỏ vào xác thân vô thường của
mình mà nói rằng : “ Ta không phải là cái ấy, cái ấy không
phải là của ta, cái ấy chẳng phải là ta”.
Trong
ánh sáng mát mẻ của buổi bình minh, những bụi hương đỏ
ối trên bàn thờ Phật đã nhạt dần. Đêm trăng tròn đã
hết. Trên vòm trời xanh, mập mờ loáng thoáng vài ngôi sao.
Khúc hùng ca vui vẻ bỗng trỗi dậy vang lừng. Từ những ngọn
lá gồi xứ Tích Lan đến rừng rậm âmu xứ Miến Điện,
từ những núi tuyết trắng phau ở Tây Tạng cho đến những
vườn hoa anh đào rực rỡ của đất Phù Tang, tiếng chuông
đồng của hàng triệu ngôi chùa đã nhẹ nhàng lanh lảnh bay
khắp mọi nơi để chào mừng “ ánh bình minh không bao giờ
trở lại”.
Lúc
ấy là lúc Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, hai ngàn năm trăm
lẻ một năm về trước, để lại cho người thế gian một
lời di chúc cao siêu mầu nhiệm : “ Hãy diệt trong tâm ngươi
những ngọn lửa tham – sân – si, rồi ngươi sẽ nhập được
Niết Bàn là nơi vắng lặng, sáng suốt, không còn tham –
giận – si mê ”.
Những
ngọn đèn cuối cùng đã tắt trong ánh sáng huy hoàng của
mặt trời mọc. Trên khắp nẻo đường cõi Á Đông, hàng
triệu tín đồ lũ lượt trở về nhà, sung sướng vì đã
được cúng dường Đức Thế Tôn một ngọn đèn trong, một
nắm trầm ngát và một bó hoa thơm. Thân tâm an lạc, họ vừa
đi vừa tưởng niệm ơn sâu của đấng từ bi cao cả, đã
để lại cho chúng sanh muôn đời một nguồn vui bất diệt.
Phỏng
theo bài “ Theo chân Đức Phật ”
(Sur
les pas du Bouddha) của G. Reyer
(1)
Theo sự khảo cứu gần đây, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáng
sanh, xuất gia, chánh đạo và nhập Niết Bàn cũng trong đêm
trăng tròn tháng Vesâkha của lịch Ấn Độ, tức là đêm rằm
tháng 4 Âm lịch (Hoàng Lan).
(2)
Chú thích của tác giả : Thật ra nên nói : “ Phật giáo (nguyên
thỉ) không phải là một tôn giáo giống như các tôn giáo
khác”, hoặc nói một cách khác là “ Phật giáo là một
tôn giáo không giống các tôn giáo khác”. Phật giáo được
xây dựng trên sức mạnh của trí huệ sáng suốt và hoàn
toàn tự do. Con người có đủ khả năng tự giải thoát lấy
mình để thành Phật như các Đức Phật. Các tôn giáo khác
được xây dựng trên sự phục tòng triệt để một vị Thượng
đế có phép nhiệm mầu và có đặc quyền thưởng phạt con
người.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 06-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 279 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân