SỐ 305 THÁNG 05 NĂM 2003
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
Ý NGHĨA VÔ NGÃ TRONG ÐẠO PHẬT
Tâm Diệu

Người học Phật thường được bảo là phải phá ngã chấp vì chính cái ngã làm chúng ta nổi chìm trong biển phiền não, sanh tử luân hồị  Một khi ngã chấp không còn thì bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu cũng là Niết Bàn.  Vậy thử hỏi Ngã và Ngã Chấp là gì và làm sao để phá Ngã Chấp, đạt được Vô Ngã.  

Ngã có nghĩa là Ta, tôi hay mình (me) và Ngã Sở là của Ta, của tôi hay của mình (mine).  Phàm phu chúng ta thường hiểu Ngã là Ta, được lập thành bởi năm uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức.  Ðức Phật thấy chúng sinh chấp có Ngã và có Ngã Sở nên tùy thuận nương theo đó mà giải thích rằng: “như hai bàn tay vỗ vào nhau liền sinh ra tiếng.  Cũng như vậy, Ngã là tổ hợp của năm uẩn, nghiệp và ái”.  Rồi sau đó Ngài mới giải thích cho họ hiểu là các yếu tố lập thành Ngã đó, từ sắc đến thức của năm uẩn, đến nghiệp và ái đều chẳng phải là Ngã.  Ðức Phật nói rằng không có Ngã cũng không có Ngã Sở (376 ÐBNB2).  Chính cái Ngã đó là vọng Ngã nhưng phàm phu chúng sinh mê chấp thân mình là thật cho nên yêu mến thân mình, bênh vực ý tưởng của mình, bảo vệ những sở hữu của mình như nhà cửa, ruộng vườn, vợ con... Chính vì cái chấp Ngã này mà sinh ra trăm ngàn phiền não, khổ đau đọa lạc trong biển sinh tử luân hồị 

Xét về Ngã, chúng ta thấy có ít nhất bốn hình thái về chấp ngã: (1) Chấp thân ngũ uẩn này là TA (chấp ngã), (2) Chấp thân ngũ uẩn này là CỦA TA (chấp ngã sở), (3) Chấp cái thân ngũ uẩn này không phải là TA, cũng không phải là CỦA TA, mà trong cái TA có cái thân và trong cái thân có cái TA, và (4) Chấp vũ trụ là TA, TA là vũ trụ.  Vũ trụ là thường trụ, là vĩnh cửụ 

Thật ra khi nói đến Chấp, chúng ta phải biết là có hai thứ chấp: Ngã Chấp và Pháp Chấp.  Vì hai thứ chấp này mà con người không được sáng suốt.  Ngã Chấp là không nhận biết cái thân con người là do ngũ uẩn tạm thời hòa hợp mà chúng ta cứ cho là có cái thân này thật và do đó nên sanh ra các mối phiền não, mê vọng, đau khổ.  Còn Pháp Chấp là không biết rằng tất cả vạn sự, vạn pháp đều do nhân duyên sinh, tất cả như ảo, như hóa, thoạt có, thoạt không và vốn dĩ là không trường tồn vĩnh hằng.  Thế mà cứÔ chấp là có thật, là trường tồn mãi mãị..v..v.. 

Có một quan niệm cho rằng những phiền não khổ đau của con người đều do cái tư tưởng nhìn nhận có cái TA, tức là Ngã Tưởng (perception of self) phát sinh và muốn diệt trừ Ngã Tưởng này là phải dùng phép đối trị bằng Pháp Tưởng, tức là phép quán chiếu về Pháp; vì họ cho rằng không có Ngã nhưng có Pháp.  Cái TA không co,Ô nhưng có những cái tư tưởng (yếu tố) làm thành cái ta (Ngã không pháp hữu).  Khi quán chiếu như vậy mới thấy không phải cái Ngã của mình có sinh có diệt mà chỉ có sự sinh diệt của các Pháp.  Theo quan niệm này, không chấp vào Ngã, nhưng lại còn kẹt vào Pháp.  Họ cho rằng các Pháp là vô thường, là vô ngã, chính chúng làm cho con người khổ đaụ  Chính sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp là các pháp điên đảo, vì vậy phải xa lìa chúng để đến một cảnh giới không có chúng, không có phiền não khổ đaụ  Cảnh giới đó là Niết Bàn.  

Nhưng theo quan điểm của Phật Giáo Ðại Thừa, thì các Pháp, các yếu tố tạo cho chúng ta một ý tưởng về Ngã cũng không có.  Ngã cũng không mà pháp cũng không và Niết Bàn nói ở trên chỉ là Niết Bàn hóa thành, chưa phải là Niết Bàn thực sự.  Ðức Phật dạy: “Này thiện nam tử! như người đời nói: có biển, có biển lớn; có sông, có sông lớn; có núi, có núi lớn.....; Niết bàn cũng như vậy: có Niết Bàn và có Ðại Niết Bàn.  Thế nào là Niết Bàn? Như người đói được chút ít cơm ăn thời gọi là được an vuị  Như người bệnh được lành thời được gọi là an vuị  Như người kinh sợ được chỗ nương tựa thời được an vuị  Như người nghèo cùng được châu báu thời được an vuị... Tất cả sự an vui trên đây cũng gọi là Niết Bàn, nhưng chẳng được gọi là Ðại Niết Bàn, vì còn trong phạm vi tương đốị” [68 ÐBNB 2] 

Như thế Niết Bàn thực sự chính là Ðại Niết Bàn, Ngã thực sự chính là Ðại Ngã, là Chân Ngã.  Nó gồm đủ bốn đức: Thường, Lạc, Ngã và Tịnh.  Còn cái Ngã của phàm phu thì có đủ bốn tính xấu: Vô thường, Vô lạc, Vô ngã và Bất tịnh.  Từ  “Ðại” của Ðại Bát Niết Bàn không có nghĩa là to lớn mà là chẳng thể cân lường, chẳng thể nghĩ bàn.  Từ  “Ðại” trong chữ Ðại Ngã chẳng phải là cái Ngã to tướng, chẳng phải là cái đại ngã trong Upanisad mà là Ðại tự tạị  Ðại tự tại vì có tám điều tự tại: (1) có thể thị hiện vi trần thân, (2) thị hiện đầy khắp cõi đại thiên, (3) có thể đem thân khắp cõi đại thiên này bay trên hư không nhẹ nhàng đến nơi hằng hà sa thế giới mà không chướng ngại, (4) thân Như Lai thường ở một cõi mà làm cho tất cả chúng sinh ở các cõi khác đều thấy, (5) sáu căn đều tự tại (6) chứng được tất cả các pháp (7) diễn thuyết tự tại, và (8) Như Lai khắp đầy tất cả chỗ như hư không. 

Ðại Bát Niết Bàn cũng là Phật tánh, là Trung Ðạọ  Bởi chúng sanh chẳng thấy được Phật tánh nên là vô thường, vô lạc, vô ngã và vô tịnh.  Phật tánh, Ðại Niết Bàn chẳng phải là vô thường, vô lạc, vô ngã, và vô tịnh.  Và cái Phật tánh đó, cái Ðại Niết Bàn đó vẫn thường hằng ở nơi chúng sinh, nhưng từ xưa đến nay, chúng sinh bị vô lượng phiền não che phủ cho nên không thấy được. 

Như vậy bằng cách nào chúng ta có thể đến được cảnh giới Niết Bàn thực sự?  Ðó là phải lìa tất cả khái niệm, khái niệm về ngã và ngã sở, về có và không, về thường và đoạn, về trong và ngoàị  Phải vượt thoát mọi đối đãi của thế giới hiện tượng như thiện ác, tốt xấu, có không , sinh tử, niết bàn để làm cho tâm trở nên thanh tịnh.  Nếu chấp có tức là thường kiến.  Chấp không tức là đoạn kiến.  Chấp cũng có cũng không tức là biên kiến và chấp chẳng có chẳng không tức là không kiến. 

Trong Trung Quán Luận kệ số 360 và 361 viết rằng: 

Nhân duyên sở sinh pháp 
Ngã thuyết tức thị không 
Diệc danh vi giả danh 
Diệc tức trung đạo nghĩạ 
Vị tằng hữu nhất pháp 
Bất tùng nhân duyên sinh 
Thị cố nhất thiết pháp 
Vô bất thị không giả. 

Tạm dịch: 

Các pháp do duyên sanh  
Ta nói tức là không, 
Cũng gọi là giả danh 
Cũng là nghĩa trung đạọ 
Chưa từng có một pháp 
Chẳng từ nhân duyên sinh 
Thế nên, tất cả pháp 
Ðều là Không hết thảỵ 

Nghĩa là tất cả vạn pháp trong thế giới này đều do nhân duyên sanh khởi, và do nhân duyên sanh tức cũng do nhân duyên mà hoại diệt, nên không tự tánh.  Vì không tự tánh nên tất cả đều là Không.  Nếu vạn sự vạn vật có tự tánh thì sự ấy, vật ấy không cần phải đợi các duyên hòa hợp mới sanh hay diệt.  Vì không có tính cách cố định nên gọi là Không và cũng vì Không nên vạn sự vạn vật mới sanh khởi và hoại diệt.  “Không” ở đây chẳng nên hiểu lầm là tất cả rỗng không, không có gì hết.  Vạn pháp sanh diệt lệ thuộc bởi nhân duyên mà nhân duyên sanh và nhân duyệt diệt đều không thật, chỉ tạm gọi là, chỉ là giả danh, giả có.  Tất cả vạn sự vạn pháp đó cũng chỉ là giả danh và cũng chính là nghĩa của Trung Ðạọ  

Trung Ðạo nghĩa là siêu việt ý niệm có và ý niệm không.  Không, Giả Danh và Trung Ðạo là ba tên gọi của một thực tại, nhưng khi đề cập đến một tên gọi cũng bao hàm luôn hai tên gọi kiạ  Thí dụ cái xe hơi trước mặt là do sự tổ hợp của nhiều yếu tố và được gọi là, hay đặt tên là.  Nó là giả danh tạm gọi để phân biệt với thứ khác.  Chính nó là Không thật có và cũng là Trung Ðạọ 

Ðối với Ngã, Ngã Sở và Ngã Chấp, chúng ta hiểu cũng chỉ là những khái niệm, được lập thành bởi nhiều yếu tố và do nhân duyên hòa hợp.  Do nhân duyên hòa hợp mà có nên chúng không có tự tánh và vì thế nó là Không.  Thấy được bản chất của Ngã là Không tức chúng ta cũng thấy được bản chất của Niết Bàn là Không, là Trung Ðạọ  Cái Không siêu việt mọi phạm trù có và không, như là một phương tiện phá trừ tất cả kiến chấp, thiên kiến cũng như tà kiến, vượt thoát mọi thứ Ngã Chấp và Pháp Chấp, nguyên nhân của phiền não, khổ đau và sinh tử luân hồị 

Con đường của Phật dạy là con đường Trung Ðạọ  Con đường này không phải “lane” giữa của một xa lộ có ba “lane”, mà là con đường vượt thoát cái thấy đối đãi của thế giới hiện tượng.  Phật tùy theo căn duyên chúng sinh mà giảng giảị  Thấy chúng sinh chấp vào Ngã tức là chấp vào thường , Phật nói đừng chấp vào thường.  Khi nghe Phật nói vậy, chúng sinh lại chấp vào đoạn và cứ như thế Phật phá tất cả kiến chấp của chúng sinh để dẫn chúng sinh đến một cái không thể nghĩ bàn được, mà cái đó chính chúng sinh phải tự mình kinh nghiệm nó.  
 
 

Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 04-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 338 KB)
 
 

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412