Ý NGHĨA
VÔ NGÃ TRONG ÐẠO PHẬT
Tâm
Diệu
Người
học Phật thường được bảo là phải phá ngã chấp vì chính
cái ngã làm chúng ta nổi chìm trong biển phiền não, sanh tử
luân hồị Một khi ngã chấp không còn thì bất cứ lúc
nào và bất cứ ở đâu cũng là Niết Bàn. Vậy thử
hỏi Ngã và Ngã Chấp là gì và làm sao để phá Ngã Chấp,
đạt được Vô Ngã.
Ngã
có nghĩa là Ta, tôi hay mình (me) và Ngã Sở là của Ta, của
tôi hay của mình (mine). Phàm phu chúng ta thường hiểu
Ngã là Ta, được lập thành bởi năm uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng,
Hành và Thức. Ðức Phật thấy chúng sinh chấp có Ngã
và có Ngã Sở nên tùy thuận nương theo đó mà giải thích
rằng: “như hai bàn tay vỗ vào nhau liền sinh ra tiếng.
Cũng như vậy, Ngã là tổ hợp của năm uẩn, nghiệp và ái”.
Rồi sau đó Ngài mới giải thích cho họ hiểu là các yếu
tố lập thành Ngã đó, từ sắc đến thức của năm uẩn,
đến nghiệp và ái đều chẳng phải là Ngã. Ðức Phật
nói rằng không có Ngã cũng không có Ngã Sở (376 ÐBNB2).
Chính cái Ngã đó là vọng Ngã nhưng phàm phu chúng sinh mê
chấp thân mình là thật cho nên yêu mến thân mình, bênh vực
ý tưởng của mình, bảo vệ những sở hữu của mình như
nhà cửa, ruộng vườn, vợ con... Chính vì cái chấp Ngã này
mà sinh ra trăm ngàn phiền não, khổ đau đọa lạc trong biển
sinh tử luân hồị
Xét
về Ngã, chúng ta thấy có ít nhất bốn hình thái về chấp
ngã: (1) Chấp thân ngũ uẩn này là TA (chấp ngã), (2) Chấp
thân ngũ uẩn này là CỦA TA (chấp ngã sở), (3) Chấp cái
thân ngũ uẩn này không phải là TA, cũng không phải là CỦA
TA, mà trong cái TA có cái thân và trong cái thân có cái TA,
và (4) Chấp vũ trụ là TA, TA là vũ trụ. Vũ trụ là
thường trụ, là vĩnh cửụ
Thật
ra khi nói đến Chấp, chúng ta phải biết là có hai thứ chấp:
Ngã Chấp và Pháp Chấp. Vì hai thứ chấp này mà con người
không được sáng suốt. Ngã Chấp là không nhận biết
cái thân con người là do ngũ uẩn tạm thời hòa hợp mà chúng
ta cứ cho là có cái thân này thật và do đó nên sanh ra các
mối phiền não, mê vọng, đau khổ. Còn Pháp Chấp là
không biết rằng tất cả vạn sự, vạn pháp đều do nhân
duyên sinh, tất cả như ảo, như hóa, thoạt có, thoạt không
và vốn dĩ là không trường tồn vĩnh hằng. Thế mà
cứÔ chấp là có thật, là trường tồn mãi mãị..v..v..
Có
một quan niệm cho rằng những phiền não khổ đau của con
người đều do cái tư tưởng nhìn nhận có cái TA, tức là
Ngã Tưởng (perception of self) phát sinh và muốn diệt trừ Ngã
Tưởng này là phải dùng phép đối trị bằng Pháp Tưởng,
tức là phép quán chiếu về Pháp; vì họ cho rằng không có
Ngã nhưng có Pháp. Cái TA không co,Ô nhưng có những cái
tư tưởng (yếu tố) làm thành cái ta (Ngã không pháp hữu).
Khi quán chiếu như vậy mới thấy không phải cái Ngã của
mình có sinh có diệt mà chỉ có sự sinh diệt của các Pháp.
Theo quan niệm này, không chấp vào Ngã, nhưng lại còn kẹt
vào Pháp. Họ cho rằng các Pháp là vô thường, là vô
ngã, chính chúng làm cho con người khổ đaụ Chính sắc,
thanh, hương, vị, xúc và pháp là các pháp điên đảo, vì
vậy phải xa lìa chúng để đến một cảnh giới không có
chúng, không có phiền não khổ đaụ Cảnh giới đó là
Niết Bàn.
Nhưng
theo quan điểm của Phật Giáo Ðại Thừa, thì các Pháp, các
yếu tố tạo cho chúng ta một ý tưởng về Ngã cũng không
có. Ngã cũng không mà pháp cũng không và Niết Bàn nói
ở trên chỉ là Niết Bàn hóa thành, chưa phải là Niết Bàn
thực sự. Ðức Phật dạy: “Này thiện nam tử! như
người đời nói: có biển, có biển lớn; có sông, có sông
lớn; có núi, có núi lớn.....; Niết bàn cũng như vậy: có
Niết Bàn và có Ðại Niết Bàn. Thế nào là Niết Bàn?
Như người đói được chút ít cơm ăn thời gọi là được
an vuị Như người bệnh được lành thời được gọi
là an vuị Như người kinh sợ được chỗ nương tựa
thời được an vuị Như người nghèo cùng được châu
báu thời được an vuị... Tất cả sự an vui trên đây cũng
gọi là Niết Bàn, nhưng chẳng được gọi là Ðại Niết
Bàn, vì còn trong phạm vi tương đốị” [68 ÐBNB 2]
Như
thế Niết Bàn thực sự chính là Ðại Niết Bàn, Ngã thực
sự chính là Ðại Ngã, là Chân Ngã. Nó gồm đủ bốn
đức: Thường, Lạc, Ngã và Tịnh. Còn cái Ngã của phàm
phu thì có đủ bốn tính xấu: Vô thường, Vô lạc, Vô ngã
và Bất tịnh. Từ “Ðại” của Ðại Bát Niết
Bàn không có nghĩa là to lớn mà là chẳng thể cân lường,
chẳng thể nghĩ bàn. Từ “Ðại” trong chữ Ðại
Ngã chẳng phải là cái Ngã to tướng, chẳng phải là cái
đại ngã trong Upanisad mà là Ðại tự tạị Ðại tự
tại vì có tám điều tự tại: (1) có thể thị hiện vi trần
thân, (2) thị hiện đầy khắp cõi đại thiên, (3) có thể
đem thân khắp cõi đại thiên này bay trên hư không nhẹ nhàng
đến nơi hằng hà sa thế giới mà không chướng ngại, (4)
thân Như Lai thường ở một cõi mà làm cho tất cả chúng
sinh ở các cõi khác đều thấy, (5) sáu căn đều tự tại
(6) chứng được tất cả các pháp (7) diễn thuyết tự tại,
và (8) Như Lai khắp đầy tất cả chỗ như hư không.
Ðại
Bát Niết Bàn cũng là Phật tánh, là Trung Ðạọ Bởi
chúng sanh chẳng thấy được Phật tánh nên là vô thường,
vô lạc, vô ngã và vô tịnh. Phật tánh, Ðại Niết Bàn
chẳng phải là vô thường, vô lạc, vô ngã, và vô tịnh.
Và cái Phật tánh đó, cái Ðại Niết Bàn đó vẫn thường
hằng ở nơi chúng sinh, nhưng từ xưa đến nay, chúng sinh bị
vô lượng phiền não che phủ cho nên không thấy được.
Như
vậy bằng cách nào chúng ta có thể đến được cảnh giới
Niết Bàn thực sự? Ðó là phải lìa tất cả khái niệm,
khái niệm về ngã và ngã sở, về có và không, về thường
và đoạn, về trong và ngoàị Phải vượt thoát mọi
đối đãi của thế giới hiện tượng như thiện ác, tốt
xấu, có không , sinh tử, niết bàn để làm cho tâm trở nên
thanh tịnh. Nếu chấp có tức là thường kiến.
Chấp không tức là đoạn kiến. Chấp cũng có cũng không
tức là biên kiến và chấp chẳng có chẳng không tức là
không kiến.
Trong
Trung Quán Luận kệ số 360 và 361 viết rằng:
Nhân
duyên sở sinh pháp
Ngã
thuyết tức thị không
Diệc
danh vi giả danh
Diệc
tức trung đạo nghĩạ
Vị
tằng hữu nhất pháp
Bất
tùng nhân duyên sinh
Thị
cố nhất thiết pháp
Vô
bất thị không giả.
Tạm
dịch:
Các
pháp do duyên sanh
Ta
nói tức là không,
Cũng
gọi là giả danh
Cũng
là nghĩa trung đạọ
Chưa
từng có một pháp
Chẳng
từ nhân duyên sinh
Thế
nên, tất cả pháp
Ðều
là Không hết thảỵ
Nghĩa
là tất cả vạn pháp trong thế giới này đều do nhân duyên
sanh khởi, và do nhân duyên sanh tức cũng do nhân duyên mà hoại
diệt, nên không tự tánh. Vì không tự tánh nên tất
cả đều là Không. Nếu vạn sự vạn vật có tự tánh
thì sự ấy, vật ấy không cần phải đợi các duyên hòa
hợp mới sanh hay diệt. Vì không có tính cách cố định
nên gọi là Không và cũng vì Không nên vạn sự vạn vật
mới sanh khởi và hoại diệt. “Không” ở đây chẳng
nên hiểu lầm là tất cả rỗng không, không có gì hết.
Vạn pháp sanh diệt lệ thuộc bởi nhân duyên mà nhân duyên
sanh và nhân duyệt diệt đều không thật, chỉ tạm gọi là,
chỉ là giả danh, giả có. Tất cả vạn sự vạn pháp
đó cũng chỉ là giả danh và cũng chính là nghĩa của Trung
Ðạọ
Trung
Ðạo nghĩa là siêu việt ý niệm có và ý niệm không.
Không, Giả Danh và Trung Ðạo là ba tên gọi của một thực
tại, nhưng khi đề cập đến một tên gọi cũng bao hàm luôn
hai tên gọi kiạ Thí dụ cái xe hơi trước mặt là do
sự tổ hợp của nhiều yếu tố và được gọi là, hay đặt
tên là. Nó là giả danh tạm gọi để phân biệt với
thứ khác. Chính nó là Không thật có và cũng là Trung
Ðạọ
Ðối
với Ngã, Ngã Sở và Ngã Chấp, chúng ta hiểu cũng chỉ là
những khái niệm, được lập thành bởi nhiều yếu tố và
do nhân duyên hòa hợp. Do nhân duyên hòa hợp mà có nên
chúng không có tự tánh và vì thế nó là Không. Thấy
được bản chất của Ngã là Không tức chúng ta cũng thấy
được bản chất của Niết Bàn là Không, là Trung Ðạọ
Cái Không siêu việt mọi phạm trù có và không, như là một
phương tiện phá trừ tất cả kiến chấp, thiên kiến cũng
như tà kiến, vượt thoát mọi thứ Ngã Chấp và Pháp Chấp,
nguyên nhân của phiền não, khổ đau và sinh tử luân hồị
Con
đường của Phật dạy là con đường Trung Ðạọ Con
đường này không phải “lane” giữa của một xa lộ có
ba “lane”, mà là con đường vượt thoát cái thấy đối
đãi của thế giới hiện tượng. Phật tùy theo căn duyên
chúng sinh mà giảng giảị Thấy chúng sinh chấp vào Ngã
tức là chấp vào thường , Phật nói đừng chấp vào thường.
Khi nghe Phật nói vậy, chúng sinh lại chấp vào đoạn và cứ
như thế Phật phá tất cả kiến chấp của chúng sinh để
dẫn chúng sinh đến một cái không thể nghĩ bàn được, mà
cái đó chính chúng sinh phải tự mình kinh nghiệm nó.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 04-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 338 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân