Thời Gian
Với Ý Nghĩa Giải Thoát của Đạo Phật
Chí
Anh
Thời
gian có lẽ là một phạm trù gây nên những băn khoăn nhiều
nhất cho triết học, khoa học, tôn giáo và con người nói
chung bởi nó là điểm trụ của mọi hình thái tồn vong vũ
trụ.
Thật
vậy, mọi vật sinh khởi trong thời gian, và cũng huỷ diệt
trong thời gian, hữu sinh tất hữu diệt là một quy luật chẳng
những đúng cho vạn vật, mà còn cho tất thảy mọi chúng
sinh chúng ta. Sinh, lão, bệnh, tử là một tiến trình không
thể nghịch đảo trong khuôn viên khắc nghiệt của thời
gian tuyến tính. Thời gian vừa là người sáng tạo vừa là
kẻ huỷ diệt, vậy nên phải đánh giá như thế nào về vai
trò của thời gian trong sự tồn tại của đời sống con người?,
phải đánh giá như thế nào về cái thời gian một đi không
trở lại đã khiến bao người luyến tiếc khôn nguôi về
những hoài niệm vàng son quá khứ. Có lẽ cảm xúc trên đã
khiến nhà văn Pháp Marcel Prous viết nên cuốn tiểu thuyết
triết học nổi tiếng “Đi tìm thời gian đã mất” (A la
rechercher du temps perdu). Trong chuyện, ông đã mê hoặc độc
giả bằng hình ảnh của những nàng trinh nữ trong trắng và
những chiếc bánh M. anisopli-ae-đơ-len ngon lành từ trong quá
khứ ngọt ngào của ông.Thế nhưng cũng chính cái thời gian
mà không ít người trong chúng ta xem là quý báu ấy đối với
W. Faulkner–nhà văn Mỹ được giải thưởng Nôben, nó chẳng
qua chỉ là thứ sản phẩm máy móc của chiếc đồng hồ mà
ông từng ngấm ngầm nguyền rủa mà thôi!
Từ
những quan niệm và cảm xúc trái ngược nhau của con người
về thời gian đã cho thấy ý nghĩa triết học của nó đối
với đời sống con người thật vô cùng quan thiết. Bởi vậy
mà chúng tôi rất tâm đắc đối với những luận điểm của
Thiền sư Đạo Nguyên (Dozen, 1200–1253) đã được nêu lên
trong thiên khảo luận nối tiếng của ông về thời gian với
tên gọi Trực thể thời gian (être Temps), đại thể như sau:
–
Khảo cứu chân lý là khảo cứu thời gian.
–
Khảo cứu thời gian là khảo cứu đời người.
–
Khảo cứu đời người là khảo cứu thân phận “cái tôi”
của nó.
–
Khảo cứu “cái tôi” là khảo cứu sự tồn tại của nó
trong thời gian, và qua đó tìm ra ý nghĩa giải thoát tối hậu
cho nó.
Có
thể vì những ý nghĩa hiện sinh nhân bản như vậy nên từ
cổ chí kim, từ Đông sang Tây đã có biết bao nhà tư tưởng
ra sức tìm tòi, những mong khâm phá bản chất đích thực
của thời gian, để phục vụ cho mục đích trên.
Quả
thật, thời gian là một thực thể khó nắm bắt, khó định
nghĩa, bản thân nó là một cái gì đó vừa cụ thể vừa
trừu tượng, vừa minh nhiên, vừa hàm chứa, đầy bí ẩn
mung lung. Chẳng vậy mà khi được hỏi về thời gian, Thánh
Augustin đã nói: “Thời gian, tôi có thể biết rất rõ nó
là như thế nào, song tôi lại không sao mô tả cho người khác
biết được”. Chung quy, khía cạnh triết học mà con người
quan tâm là thời gian có phải là một thực thể tự hữu
hay không? hoặc giả nó chỉ trừu tượng, tồn tại đơn thuần
trong ý thức của con người? Trả lời những câu hỏi trên
theo cả hai hướng khẳng định, hay phủ định đều không
đơn giản. Bởi lẽ theo Thiền sư Long Thọ–người được
xem là một trong những triết gia biện chứng lỗi lạc nhất
của mọi thời đại–đã xây dựng nên trường phái Trung
Quán Luận nổi tiếng của Phật giáo Đại thừa. Theo trường
phái này, bất cứ một luận điểm khẳng định nào cũng
tất yếu dẫn đến một luận điểm phủ định Do đó, sự
chứng minh của một định đề thường không vượt qua được
một phản đề. Tuy nhiên, nghịch lý này chỉ là sản phầm
của thế giới hiên tượng, chứ không phải là bản chất
bất khả tri của nhận thức. Bởi vậy, chân lý theo Long Thọ
không phải là khẳng định, cũng không phải là phủ định,
mà là trung
điểm
(MADHYA). Tóm lại, Trung Quán Luận bác bỏ những quan điểm
phiến diện, cực đoan và siêu việt lên trên mọi cố chấp
của đời thường.
Vậy
nên, theo Trung Quán Luận có hai loại chân lý:
1.
Chân lý Tuyệt đối (Absolute Reality): Chân lý này bất khả
tư nghì (unthinkable), không thể nghĩ mà bàn tới được và
chỉ có thể được chứng nghiệm bởi những ai đã Ngộ đạo.
2.
Chân lý Tương đối (Relative Reality): Thuộc thời gian nên nó
còn được gọi một cách rất có ý nghĩa là Chân lý Thời
gian, bởi những khái niệm của nó thường chỉ có giá trị
trước những gì xảy ra trong khuôn khổ của thời gian tương
đối thuộc thế giới hiện tượng, nên nó hoàn toàn bất
lực trước chân lý tuyệt đối nằm trong Không-Thời gian.
Như
vậy, trước A.Einstein gần 2000 năm, Thiền sư Long Thọ đã
thấu hiểu tính tương đối của thời gian, và coi đặc điểm
tuyến tính của thời gian chỉ là ảo giác nơi con người.
Tuy nhiên, khái niệm về thời gian tuyến tính đã thống trị
tư duy vật lý cổ điển của Newton trong suốt mấy trăm năm.
Thời gian–Theo quan niệm của vật lý cổ điển là một thực
thể độc lập tuyệt đối trong vũ trụ, nó đã trôi đi theo
một chiều bất thuận nghịch từ vô thủy đến vô chung,
nó không chịu ảnh hưởng bởi bất cứ những gì xảy ra
trong vũ trụ, mặc cho không gian bao la, mặc cho các vật thể
chuyển động, các lực hút, lực đẩy tạo nên trường hấp
dẫn trong đó, nó vẫn cứ liên tục, đều đều trôi đi một
cách vô cảm và bất biến. Vậy nên ý nghĩ cho rằng thời
gian là một thực thể tuyệt đối đã ngự trị đầu óc
con người từ ngàn xưa âu cũng là chuyện tự nhiên vậy.
Phải
tới năm 1915, khi lý thuyết tương đối toàn phần của A.Einstein
ra đời, ông chỉ ra rằng: “Tất cả mọi chúng ta đều đã
bị lừa, bản chất đích thực của thế giới không phải
như chúng ta tưởng, những gì mà chúng ta vẫn cho là ổn đinh,
là bất biến, tuyệt đối, thật ra chỉ có giá trị tương
đối trong phạm vi nhỏ hẹp của đờí sống hàng ngày mà
thôi.Xét về căn bản, chúng chẳng có gì là bển vững và
ổn định mà hoàn toàn hư ngụy – Vật chât hư ngụy –
Không gian hư ngụy – và thời gian, cái tưởng như tuyệt
đối, cũng chỉ là hư ngụy nốt!”.
Einstein
đã chứng minh thời gian tuyến tính chỉ là ảo giác của
con người thay thế nó bằng khái niệm Không-Thời gian bốn
chiều (Continuous for dimensional space time).
Theo
khái niệm này, Thời gian kết hợp với Không gian thành một
liên thể bốn chiều thống nhất, và sự thống nhất đó
còn được mở rộng sang phạm trù vật chất qua hệ thức
vật lý căn bản nổi tiếng: E = MC2. Hệ thức này nói với
chúng ta rằng, vật chất vốn chỉ là năng lượng ẩn trong
khối lượng, và nó là dạng tồn tại chủ yếu trong thế
giới hiện tượng.
Chính
sự tồn tại và vận động của nó đã tạo nên không gian
và thời gian, hay chính xác hơn là tạo nên những đặc tính
của không gian và thời gian. Như vậy, không gian định hình
bởi vật, và thời gian định tính bởi sự liên kết mật
thiết với vật chất và không gian, theo nghĩa tương lác nhân
duyên, tức là cái này tạo tác thành cái kia và ngược lại.
Đúng như lời dạy kinh điển của giáo lý Đạo Phật: “Không
làm gì có cái gọi là Thực thể tuyệt đối tự hữu”.
Sự
đồng nhất đã khiến các thực thể vật chất, không gian
và thờí gian dung thông nhau, nên có những đặc tính của
nhau. Do đó về mặt lý thuyết, thời gian trong thuyết tương
đối có thể tiến về tương lai hoặc lui quá khứ, hệt như
trong không gian ta có thể tiến lên phía trước hoặc lùi lại
về phía sau vậy. Tuy nhiên, điều này chỉ được quan sát
thấy trong thế giới vi mô, biểu hiện qua sự phân rã của
các hạt cơ bản mà sự hợp tan, tan hợp của chúng đúng
với cả hai chiều thuận nghịch. Lại nữa, thời gian cũng
không phải trôi đi đều bất biến, mà sự trôi nhanh hay chậm
là tuỳ thuộc vào sự vận động và mật độ vật chất
quanh chúng tạo ra.
Tính
đồng nhất của thế giới hiện tượng còn bao gồm cả con
người chúng ta, biểu hiện trong sự nhận thức thế giớí
đó. Giáo sư Hubert Reever giảng dạy khoa Vũ trụ luận ở trường
Đại học Paris đã nói rất hay rằng: “Phải chăng con người
chúng ta nhận thức được vũ trụ sinh ra từ vụ nổ Big Bang
là vì cơ thể của chúng ta được cấu tạo bởi những nguyên
tử của vụ nổ đó, nên vẫn còn mang theo những ký ức về
nó?”. Giả định đầy lãng mạn đó của ông không phải
không có những nhân tố hiện thực.Thật vậy, theo giáo lý
Đạo Phật con người chúng ta đặc trưng bởi cái cơ thể
Tứ Đại, gồm đất, nước, gió, lửa vốn có cấu trúc từ
những hạt vật chất cơ bản tạo thành vũ trụ. Nên những
đặc tính của không gian ba chiều và thời gian một chiều
đã nằm ngay trong những giác quan nhận thức của chúng ta
về thế giới đó. Nói một cách dễ hiểu hơn, sở dĩ chúng
ta nhận thức được các vật thể có ba chiều trong thế giới
bởi chúng ta là những sinh vật ba chiều. Với thời gian một
chiều cũng vậy, mặc dù Einstein đã chứng minh nó chỉ là
ảo giác nơi con người, song, không một ai trong chúng ta có
thể khắc phục được cái cảm giác về mũi tên thời gian
luôn chuyển động từ quá khứ đến tương lai. Điều này
cho thấy cơ chế thời gian một chỉều dường như được
lập trình trong từng tế bào của mỗi chúng ta là để đi
từ chiếc nôi đến nấm mồ chứ không phải theo chiều
ngược lại. Tóm lại, chúng ta nhận thức được thế giới
hiện tượng đúng như quan niệm truyền thống, là do sự tương
đồng của chính bản thân chúng ta với những thành phần
cơ bản của thế giới ấy.
Khái
niệm đồng nhất như vậy đã được mở rộng sang lĩnh vực
nhận thức thuộc phạm trù tinh thần của con người. Điều
này rất có nghĩa, bởi nó xóa nhoà cái ranh gíới giữa khách
thể và chủ thể mang tính nhị nguyên mà theo nhận định
bất hủ của Đạo sư Tây Tạng nổi tiếng Milarepa thì đó
chính là: “Hai ngụy thuyết căn bản đó đã giam hãm con người
trong vỏ bọc vô minh”.
Tuy
nhiên, tính đồng nhất của thế giới hiện tượng một mặt
đã tạo nên chỉnh thể của nó, mặt khác đó cũng chính
là sợi dây ràng buộc vô cùng khắc nghiệt đối với mỗi
cá thể bất kỳ, trong một thế giới bị điều kiện hoá
chặt chẽ bởi những đặc trưng của nó mà Đạo Phật gọi
là hữu ngại. Trong thế giới đó con người bị trở ngại,
bị hạn chế, bị ngăn cách bởi không gian, bởi thời gian
và bởi các sự vật khác mà nguyên nhân chính là do sự đồng
nhất của bản thân con người với thế giới đó! Ngẫm lời
Phậl dạy thật chí lý “Hữu thân hữu khổ” hoặc của
một Lão Tử đầy minh triết: “Ngô sở dĩ hữu đại
hoạn giả vi ngô hữu thân” (Ta sở dĩ còn khổ vì hoạn
nạn cũng bởi do có cái thân này).
Trong
muôn ngàn trở ngại của thế giới hữu ngại làm nên nỗi
khổ đời người, chung quy thời gian là nỗi khổ đã dằn
vặt, ám ảnh con người nhiều nhất. Bởi lẽ mỗi con người
là một hệ thống khép kín, nên nó chịu sự chi phối chặt
chẽ của một định luật khoa học rất nổi tiếng, có liên
quan đến thời gian, định luật này đã ảnh hưởng sâu sắc
tới triết học và xã hội học đương thời. Đó là Định
luật thứ hai của Nhiệt động học (Law of entropy) thường
được phát biểu như sau: “Trong những hệ thống khép kín
thì vô trật tự tức là sự hỗn độn của hệ luôn gia tăng
theo thời gian. Bởi vậy mọi vật luôn tiến triển theo chiều
hướng xấu đi”. Chẳng hạn, một chiếc cốc lành ở trên
bàn biểu thị cho trạng thái trật tự cao, một chiếc cốc
vỡ trên sàn nhà biểu thị trạng thái hỗn độn. Con người
chúng ta chỉ có thể đi từ chiếc cốc lành ở trên bàn trong
quá khứ, đến chiếc cốc vỡ dưới sàn nhà trong tương lai,
chứ không thể đi theo chiều ngược lại.
Có
thể nói, sự chuyển động của mũi tên nhiệt động học
theo hướng gia tăng sự hỗn độn trong thời gian, đã minh
hoạ cho lời dạy đúng đắn của giáo lý Đạo Phật về
tính chất vô thường của chúng sinh và vạn vật trong thế
gian. Thật vậy, mỗi chúng sinh chỉ là một hệ thống thống
nghiệp báo được khép kín trong chu trình Sinh, Lão, Bệnh,
Tử nên toàn thể vạn vật trong vũ trụ cũng chỉ là một
hệ thống nghiệp báo cộng đồng, cho dù vô cùng rộng lớn,
vô cùng dài lâu, cũng vẫn phải khép kín trong chu trình Thành,
Trụ, Hoại, Không của nó. Hiển nhiên, ngày nay chúng ta đều
đã biết vũ trụ mà chúng ta đang sống được sinh khởi cùng
vớí thời gian cách đây khoảng 15 tỷ năm trong một vụ nổ
lớn, và tất yếu sẽ đứng trước hai cái chết đang chờ
đợi nó trong tương lai. Hoặc chết bởi sự thiêu huỷ của
một vũ trụ co về trạng thái nhiệt độ ban đầu khủng
khiếp của nó, hoặc chết do sự giá lạnh của một vũ trụ
dãn nở cho đến hết năng lượng. Bề nào thì sự kết thúc
của vũ trụ cũng sẽ khiến vật chất của nó bị phân rã
và tan vào hư không, do đó sẽ kéo theo sự kết thúc của
thời gian. Trạng thái này của vũ trụ hoàn toàn giống vói
thời kỳ gọi là không kiếp được mô tả trong nhiều cuốn
kinh của Đạo Phật.
Một
khi ta nhận thức được tính hữu hạn của thời gian là sinh
khởi và kết thúc cùng vũ trụ tức thị đặc điểm tuyến
tính giả hiệu của nó biến mất, mà thay vì chỉ còn một
thời gian cầu tính, tròn trịa–sản phẩm của nghiệp báo
luân hồi–được khép kín cùng chu trình sinh diệt thế gian.
Từ khái niệm tuyến tính (Linear) kéo dài vô hạn, đến khái
niệm cầu tính (Spheric) khép kín hữu hạn, thờí gian đã
thay đổi bản chất của nó, biểu hiện ở sự gắn liền
của nó cùng với chu trình sinh diệt của cảnh giới mang nghiệp
báo luân hồi. Nên về thực chất, thời gian là đồng nhất
với nghiệp. Nhận thức này sẽ khiến ta ngộ ra rằng: không
hề có sự trôi đi của một thời gian đích thực nào cả
! mà chỉ có chu trình sinh diệt của những thực thể mang
nghiệp báo luân hồi (Bao gồm vạn vật vô tri và chúng sinh
hữu tình), được lập trình theo trật tự nhân quả, đã
tạo ra cái ảo giác về sự trôi đi theo một chiều của cái
gọi là Thời gian tuyến tính. Hoặc nói một cách khác chặt
chẽ hơn, khái niệm thờì gian tuyến tính chỉ là sản phẩm
được sinh ra từ ý niệm nhân quả mà thôi. Tình hình cũng
giống như khi ta đang đi trên một con tàu vậy. Sự chuyển
động của ta theo con tàu luôn tạo ra cái ảo giác về sự
trôi đi của cảnh vật hai bên đường. Khì nào con tàu dừng
lại, cảnh vật sẽ dừng trôi. Điều này hoàn toàn đúng
cho những chủ thể đang hành trình trên con tàu nghiệp báo
của chu trình sinh diệt. Chính là sự chuyển động theo tiến
trình nhân quả của con tàu đã tạo nên cái ảo giác về
sự trôi đi của thời gian. Một khi con tàu dừng lại, xem
như các chủ thể đã đoạn nghiệp, nên thấy thời gian lập
tức ngừng trôi.
Các
nhà Thiền học nổi tiếng của Đạo Phật hiểu rõ điều
này không phải bằng suy luận thuần tuý, mà bằng sự trải
nghiệm qua thiền định của chính bản thân họ. Ta hãy nghe
Thiền sư Đạo Nguyên nói về bản chất bất động nói trên
của thời gian:
“Hầu
hết mọi người tin rằng thời gian đã trôi qua; trong thực
tế nó ở đâu vẫn nguyên
đó.
Cái ý niệm về sự trôi qua này, có thể gọi là thời gian,
nhưng đó là một ý niệm không
đúng,
bởi vì người ta chỉ coi như nó đi qua, mà không hiểu được
rằng, nó ở chỗ nào vẫn
nguyên
ở chỗ ấy” (Nguyên văn trong tiếng Anh: “It is believed by
most that tíme passes; in acual fact, it stays where it is. This idea
of passing may be called time, but it is an incorrect idea for since one
sees it as passing, one can not understand that it stays where it is”)
Ý
tưởng về sự bất động của thời gian nói trên có vẻ
là một nghịch lý đối với chúng ta, nhưng nó lại rất
tương đồng với sự suy luận của các nhà vật lý hiện
đại về bản chất động và bất động của thời gian, biểu
hiện qua sự khác nhau của thời gian tâm lý và thời gian vật
lý. Thời gian tâm lý là thời gian trôi theo đời người, mà
tất cả mọi chúng ta đều phải gánh chịu. Hiển nhiên sự
phân chia giữa quá khứ, hiện tại và tương lai đã chi phối
đời sống của chúng ta, làm nên những số phận khác nhau
và chính nó đã tạo nên nền tảng ngôn ngữ của con người
với các động từ được phân chia rành rẽ ở ba thời quá
khứ, hiện tại và tương lai. Như vậy, xem như thời gian có
chuyển động, song, khi mô tả cụ thể sự chuyển động của
nó lại không phù hợp với ngôn ngữ của vật lý học hiện
đại. Chẳng hạn, nếu thờỉ gian có chuyển động thì vận
tốc của nó bằng bao nhiêu? – một câu hỏi thật vô nghĩa!
Mặt khác, nếu cho rằng chỉ có thời điểm hiện tại là
thực tại thời gian duy nhất.
Điều
này lại không tương thích với thời gian của lý thuyết tương
đối mà Einstein đã nói rõ rằng: “Quá khứ của người
này có thể là hiện tại của người khác và thậm trí còn
là tương lai của người khác nữa!” Vậy với thời gian
vật lý, không còn phân biệt giữa quá khứ, hiện tại và
tương lai. Tất cả mọi thời điểm là bình đẳng như nhau,
vì khái niệm phân chia ba thời bị loại bỏ nên thời gian
ở đây thực chất đúng như sự mô tả của Thiền sư Đạo
Nguyên là nó ở chỗ nào vẫn nguyên ở chỗ ấy.
Tuy
nhiên, các nhà vật lý vẫn chưa hiểu do đâu có sự khác
biệt giữa thời gian tâm lý và thời gian vật lý. Theo thiển
ý của chúng tôi, vấn đề sẽ khá rõ nếu ta gọi thời gian
tâm lý trôi theo dòng sinh diệt thế gian là Thời gian nghiệp
báo, và gọi trạng thái không trôi của thời gian vật lý
là Thời gian phi nghiệp. Bởi như chúng tôi đã trình bây ở
trên, thời gian là đồng nhất với nghiệp, nên chuyển
động tuyến tính của nó chỉ là ảo giác của con người
còn mang nghiệp báo trong thế giới nhân quả (Điều này đã
được Thiền sư Long Thọ chỉ rõ) và một khi không còn
nghiệp báo, chủ thể sẽ chứng nghiệm sự tĩnh tại hoàn
toàn của trạng thái phi thời gian tức Thời gian Phi nghiệp
vậy.
Phải
chăng, vì thấu hiểu điều này, nên các truyền thống tôn
giáo Đông phương, mà tiêu biểu là Phật giáo và Ấn giáo
luôn chỉ dẫn cho tín đồ của họ những phương cách để
vượt lên kinh nghiệm thông thường về thời gian, và tự
giải thoát khỏi vòng nhân quả, khỏi nghiệp báo luân hồi.
Bởi vậy người ta thường nói rằng mục đích của Huyền
Học Đông Phương là sự giải thoát khỏi thời gian Vậy giải
thoát khỏi thời gian chủ thể sẽ đi về đâu? Theo quan niệm
Phật giáo, chủ thể sau khi tu tập đã dừng nghiệp, tức
thị trở về trạng thái chân tâm, hoàn toàn vô ngã, nên nó
đã siêu việt lên trên mọi cảnh giới còn mang nghiệp báo,
để đồng nhất hoá với cái “không” bản thể của cảnh
giới phi thời gian tức thời gian phi nghiệp vậy. Đây chính
là cảnh giới của các vị Phật và những chúng sinh tu hành
đắc đạo, chứng được A-La-Hán quả, nên ở đó không còn
phân biệt chủ thể, khách thể mà hoàn toàn bình đẳng, tự
tại bất biến và thường định trong cái tuyệt đối tĩnh
lặng của trạng thái phi thời gian. Vậy nên các chủ thể
một khi đã đồng nhất với nó sẽ không còn sinh diệt,
không còn nhân quả, không còn sự phân chia quá khứ hay vị
lai. Do đó, không còn khái niệm trước sau. Tóm lại, mọi
rào cản hữu ngại đã bị gỡ bỏ, nên tất cả đồng hiện
ra trong một cái thấy toàn diện, nhất như của trí tuệ vô
ngại trong một sát na (Lượng tử thời gian) hiện tiền. Đúng
như Đức Phật khi thành đạo, Ngài đã thấy lại vô lượng
kiếp quá khứ của bản thân và vô lượng kiếp vị lai của
chúng sinh khốn cùng đã hiên ra trong thời khắc hiện tiền
này. Đó là cái hiện tiền vĩnh cửu (eternal now) dung nạp
cả quá khứ kỷ lẫn vị lai trên mặt bằng của nó, mà Thiền
sư SUZUKI đã mô tả như sau. “Trong cõi giới tâm linh này,
không hề có sự phân chia thời gian thành quá khứ, hiện tại
hay tương lai; bởi vì thời gian đã tự thu vào chỉ trong một
khoảnh khắc hiện tại mà thôi” (Nguyên văn trong tiếng Anh:
“In this spiritual world, there are no time divisions such as the past,
present anh future, for they have contracted themselves into a single moment
of the present”) và cái hiện tiền vĩnh cửu nói trên chính
là sát na thường trụ mà Lục Tổ Huệ Năng gọi là cái hiện
tại tuyệt đối, không bị hạn chế bởi ranh giới nào, nên
nó chính là niềm vui bất diệt. Nói một cách khác, sát na
ấy là cảnh giới “Như thị” của hàng đạt đạo đã
chứng nghiệm cái lý vô sinh của nhà Phật.
Tuy
nhiên, Đạo Phật không chỉ quan tâm tới mục đích xuất
thế siêu phàm mà quên đi nỗi bức xúc của chúng sinh trong
thời gian. Bởi chúng sinh hiện hữu ở thế gian, nên tồn
tại theo thời gian, do đó, có thời gian từ khi tạo nghiệp
cho đến lúc chịu nghiệp báo. Chừng nào còn nghiệp thì thời
gian còn theo nó như hình với bóng. Hiểu rõ thực tế này
nên các Thiền gia đạo Phật luôn hướng dẫn chúng sinh những
phương cách để thích nghi và vượt lên thời gian hiện tồn
của chủ thể, bởi xem nó là người bạn đồng hành của
những ai còn mang nghiệp báo luân hồi.
Chấp
nhận thực tế này thông qua việc hành thiền sẽ giúp chúng
ta chung sống một cách dễ chịu với thời gian, qua đấy tìm
thấy cảm giác tự do và cảm xúc sáng tạo của con người
nhập thế. Hơn thế nữa, việc hành thiền sẽ giúp ta tái
lập cơ chế bản nguyên của tự tính con người vốn là tự
tại và thường trụ ở bên ngoài thời gian. Vì vậy, nó chính
là phương tiện để đạt tới sự rõ “cái tôi” thực
sự trong một thực tiễn thời gian duy nhất của một hiện
tiền vĩnh cửu. Như vậy, là ta đã siêu việt lên trên thời
gian trong tư cách của con người xuất thế. Khắc chế được
cái cảm giác dằn vặt đau đớn về thời gian luôn khi lẽo
đẽo bám theo kiếp người.
Sau
hết, để cho bài viết còn sơ lược này được rõ nghĩa
hơn, chúng tôi xin kể thêm rằng, cách đây đã nhiều năm
có một nữ tác giả Nhật Bản tên là Yachiyo Kato vốn là
một Phật tử nên bà đã viết một vở kịch mà nhân vật
trong đó là một người đàn ông, do nỗ lực tu tập nên đã
hoàn toàn giải thoát khỏi sự ràng buộc của cơ thể, và
đạt tới trạng thái siêu thoát của một sinh vật tâm linh
thuần tuý. Tên của anh ta là Emiton đọc ngược lại theo tiếng
Anh là Notime có nghĩa là “phi thời gian”. Từ vở kịch độc
đáo trên, dường như tác giả muốn thông điệp với chúng
ta rằng ý nghĩa giải thoát đích thực của con người là
sự giải thoát khỏi thời gian. Và muốn vậy, chúng ta hãy
đảo ngược những quan niệm cố hữu về thế giới hiện
tượng do nghiệp lực tạo nên ở mỗi người, cũng giống
như sự đảo ngược cái tên Emiton trong vở kịch thành Notime.
Như vậy, chân lý giải thoát phi thời gian sẽ được hiển
lộ./.
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 04-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 338 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân