CHUYỂN
NGHIỆP LỰC THÀNH NGUYỆN LỰC
HT.
Tịnh Không
Kính
thưa qui vị đồng tu,
Sáng
nay ông Tổng Cán sự yêu câu tôi lợi dụng buổi tối hôm
nay nói chuyện cùng với quí vị, thời gian là một giờ đồng
hồ, vì sau đó tôi có khách đến phỏng vấn.
Sau
hai ngày đến đạo tràng tôi rất vui khi nhìn thấy quí vị
đồng tu tinh tấn niệm Phật. Ngày hôm qua, chúng tôi đến
thăm trường Đại Học Queensland, nghe nói gần đây trường
này có mở một môn học gọi là Khoa tham khảo về an đinh
xã hội và hòa bình thế giới. Đây là môn học rất mới
mẻ xưa nay chưa từng có. Họ nói với tôi hiện nay trên toàn
thế giới có khoảng tám trường Đại học đã ý thức được
tính chất quan trọng của môn học này và đang tiến hành
mở lớp, trong đó sự tiến hành ở trường Đại học Queensland
là thành công nhất. Nghe nói họ dự tính nhận khoảng
20 - 40 học sinh mà số người ghi danh đã lên đến hơn 100
người.
Đây
là môn học xưa nay chưa từng dạy qua nên không có kinh nghiệm.
Họ đến tìm tôi vì biết tôi trong nhiều năm qua đã có một
chút cống hiến đối với việc tổ chức, hợp tác, trợ
giúp giữa tôn giáo và các cộng đồng với nhau. Tuy nhiên
tôi chỉ có mọt chút kinh nghiệm nhỏ bé để cống hiến
cho họ tham khảo mà thôi. Chúng tôi đã trò chuyện thật cởi
mở và vui vẻ trong buổi gặp gỡ vừa qua.
Môn
học này đối với xã hội hiện tại có thể nói là vô cùng
cần thiết và cấp bách, bởi vì chúng sanh đang sống trên
quả địa cầu này đều ý thức được rằng: Thế giới
hiện nay quá loạn, tai nạn dồn dập, hầu hết mọi người
đều có cảm giác không an toàn đây là tất cả hiện tượng
của thời đại .
Nay
nhìn thấy những vị Viện trưởng, những vị Giảng Sư Đại
học có thể đề cập đến vân đề này, tôi vô cùng cảm
động và tán thán họ có được tư tưởng và cách làm việc
như vậy. Trong Phật pháp gọi đó là Phật, Bồ Tát, Đại
từ Đại bi cứu khổ, cứu nạn. Trong tôn giáo của Tây phương
gọi đó là sứ giả của Thượng Đế. Dựa vào những điểm
này tôi có thể nói rằng thế giới đã loé lên một luồng
ánh sáng vì có những người đáng quí như vậy xuất hiện,
nên tôi hết lòng khuyến khích họ.
Hai
chữ Hòa Bình, hầu như mọi người mỗi ngày đều mong cầu,
sự mong cầu này đã trải dài qua mấy ngàn năm, mấy vạn
năm, hình như niềm hy vọng hòa bình càng lúc càng thấy mỏng
manh. Nguyên do vì đâu? Đối với ý nghĩa bên trong của
văn hóa ngoại quốc tôi không hiểu, nhưng đối với văn tự
của Trung Quốc, ý nghĩa hai chữ Hòa bình rất sâu rộng, trong
đó bao gồm cả nhân quả.
HÒA:
là mọi người hòa thuận đối xử với nhau, tối thiểu các
chúng sanh sinh sống trên quả địa cầu này đều cần phải
hòa thuận đối xử, dĩ nhiên trong ấy bao gồm cả việc tôn
trọng, yêu kính, chiếu cố lẫn nhau hợp tác giúp đỡ với
nhau làm việc, đây chính là nội dung của việc hòa thuận
đối xử, là kết quả mà chúng ta mong cầu. Còn Nhân
là gì? Nhân là bình.
BÌNH
là mỗi người có thể đối xử bình đẳng với nhau, thì
quả sẽ hiện thành, nếu như mong cầu được quả báo tốt
mà cứ mãi tạo nghiệp xấu làm sao có kết quả tốt được?
Cho nên ý nghĩa của văn tự Trung Hoa rất là sâu sắc, muốn
đạt đến chỗ thế giới được hòa bình, xã hội được
ổn định, quyết phải thực hành ngay trong tâm của mỗi người
chúng ta.
-Trước
tiên phải đối xử bình đẳng với tất cả mọi người
mọi vật.
-Thứ
hai, trong hoàn cảnh sinh hoạt của ta bao gồm tất cả thực
vật, khoáng vật ở chung quanh, chúng ta đều phải bình đẳng
đối xử.
-Thứ
ba, là đối với thiên địa, quỉ thần, chúng ta vẫn phải
bình đẳng tôn kính.
Nếu
thực hiện tốt ba sự quan hệ này Hai chữ Hòa thuận mới
có thể hiện thực.
Người
với người hòa thuận
Người
với đại thiên nhiên hòa thuận
Người
với thiên địa quỉ thân hòa thuận, chắc chắn sẽ có hòa
bình
Nếu
như chúng ta vừa khởi tâm động niệm chỉ nghĩ đến lợi
ích của mình, nghĩ đến việc làm đó có phù hợp với lợi
ích của mình không? Như vậy, \/ĩnh viễn sẽ chẳng bao
giờ hy vọng có hòa bình. Chúng ta thường thấy những bài
diễn văn của những vị lãnh tụ giữa các quốc gia, hầu
hết đều chỉ đề cập đến những việc làm nào phù hợp
với lợi ích quốc gia của mình Nếu còn mang ý niệm như
vậy thì Hòa bình sẽ không bao giờ có hy vọng Giả như mỗi
vị lãnh tụ của mỗi quốc gia khi khởi tâm động niệm đêu
biết nghĩ rằng: Việc làm của mình, cách suy nghĩ của mình
có phù hợp với lợi ích cho nhân loại trên toàn thế giới
của quả địa cầu này không? Được như vậy, hòa bình của
thế giới mới có nền tảng, nếu chỉ biết nghĩ đến lợi
ích riêng tư của mình, của quốc gia mình, không đoái hoài,
suy nghĩ đến lợi ích của quốc gia khác, thì giữa người
với người, giữa quốc gia với quốc gia, giữa chủng tộc
với chủng tộc, giữa tôn giáo với tôn giáo làm sao lại
không phát sinh xung đột?
Dù
là niềm tin của tôn giáo nào, vừa khởi tâm động niệm,
quyết định phải nghĩ đến việc làm đó có phù hợp với
lợi ích cho tất cả các tôn giáo khác không? Đây mới thật
sự là nguồn gốc của Hòa bình.
Ai
là sứ giả của Thượng Đế? Ai là Phật, Bồ Tát? Là những
người thật sự phát tâm hy sinh, phụng sự và cống hiến,
khởi tâm động niệm luôn vì người chẳng hề vì cá nhân
mình. Trong lúc giảng kinh, tôi thường nói: Quí vị lần này
đến thế gian để làm người, đại đa số là do nghiệp
lực dẫn tới, bản thân tôi cũng vậy.
Vì
sao chúng ta phải học Phật? Vì Phật pháp dạy chúng ta có
thể tự chính mình chuyển nghiệp lực thành nguyện lực,
đây là sự chỉ dạy không thể nghĩ bàn.
Thế
nào là “Nghiệp lực”? Mỗi một ý niệm chỉ nghĩ cho cá
nhân, đó là nghiệp lực. Chỉ cần quí vị còn giữ một
chút ý niệm vì lợi ích cá nhân, cho dù quí vị tu hành như
thế nào hoặc giỏi đến đâu cũng không thể chống chọi
lại với nghiệp lực.
Trong
nhà Phật thường nói: “Tín, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt,
tạm dịch: “Tin - Phật - Chúng sanh, ba thứ không hề sai biệt.
Đó là Tâm lực - Phật lực - nghiệp lực. Ba thứ lực
lượng này đều lớn như nhau. Chúng sanh thuộc về nghiệp
lực giả như chúng ta biết kết hợp hai lực lượng của
Tâm lực và Phật lực, chắc chắn chúng ta sẽ vượt khỏi
được Nghiệp lực.
Lực
lượng của tâm là sức mạnh của sự chuyển biến trong tâm,
trong tư tưởng của chúng ta. Lực lượng của Phật là Phật
lực gia trì, nhờ hai lực lượng này để chuyển nghiệp lực.
Nếu
không như thế, cho dù quí vị có xuất gia đi nữa cũng không
thể chuyển nghiệp lực được. Điều này tôi rất có kinh
nghiệm, đây là một điển hình thực tế mà tôi đã từng
nói với nhiều người.
Khi
tôi xuất gia, tôi với hai người bạn thân, cả ba chúng tôi
đều cùng chung chí hướng và tâm đạo giống nhau. Trong cùng
một năm, tôi với hai thày Minh Nghiêm và Pháp Dung đồng thời
thọ giới. Những người xem tướng bói toán đều nói số
mạng của cả ba người chúng tôi không qua khỏi 45 tuổi,
phước mỏng đoản mạng.
Trong
lòng chúng tôi đã biết rõ điều này, nên sau khi xuất gia,
cả ba người đều vô cùng siêng năng tinh tấn. Đặc biệt
là thày Minh Nghiêm, hết sức dõng mãnh tinh tấn, nghiêm trì
giới luật. Trong suốt 50 năm qua, tôi chưa từng thấy ai có
thể hơn thày ấy.
Tháng
hai, năm 45 tuổi thày Pháp Dung ra đi, tháng năm, thày Minh Nghiêm
cũng ra đi, tháng bảy, tôi bị một trận bịnh nặng. Tôi
tự nghĩ, cả ba người chúng tôi thật sự không thể sống
qua năm này. Lúc đó, tôi đang tham dự mùa an cư, kiết hạ
ở chùa Đại Giác tại Cơ Long, thày trụ trì là Hòa Thượng
Linh Nghiêm, Hòa Thượng bảo tôi giảng kinh Lăng-Nghiêm, tôi
mới giảng tới tập thứ ba, vì mang bệnh nặng nên không
thể giảng tiếp, tôi tự biết giờ chết đã đến nên không
đi khám bác sĩ, không uống thuốc. Bởi vì bác sĩ chỉ có
thể chữa bệnh chứ không thể chữa mệnh, nếu như mạng
sống đã hết, thuốc men cũng chẳng thể làm gì được.
Tôi
chỉ còn cách niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, niệm Phật hơn
một tháng, sức khỏe dần dần hồi phục trở lại và mãi
cho đến ngày hôm nay tôi chưa từng bị bịnh nặng lần thứ
hai. Sau trận bịnh đó, khoảng một năm sau, tôi dự pháp hội
Luân Vương gặp Ngài Can Trúc (Ngài Cam Túc là Lạt Ma tái sanh),
ngài là bạn cũ của tôi và cũng là học sinh của Chương
Gia Đại sư, Ngài lớn hơn tôi khoảng 16, 17 tuổi, chúng tôi
gặp nhau ở trong pháp hội, ngài nói với tôi: “Chúng tôi
thường nói chuyện về thầy, một người giỏi dắn thông
minh, nhưng rất tiếc đoản mạng, không có phúc báo”.
Tôi
nói: “Những điều này có thể nói thẳng với tôi, không
cần phải nói sau lưng, vì tôi biết và tôi cũng sẵn sàng
chấp nhận”.
Ngài
nói tiếp: “Mấy năm nay thầy giảng kinh thuyết pháp, hoằng
pháp lợi sanh, tướng của thầy đã hoàn toàn thay đổi, thầy
chẳng những trường thọ mà còn có đại phúc báo nữa”.
Qua
những điều kể trên, chúng ta phải khéo biết phản tỉnh.
Vì sao hai thầy Minh Nghiêm và Pháp Dung tinh tấn dõng mãnh như
thế mà vẫn không thể chuyển đổi mạng số? Bởi vì hai
thầy chỉ vì mình, sở dĩ tôi có thể kéo dài tuổi thọ
chuyển đổi mạng số bởi tôi không vì cá nhân tôi, tôi
vì chúng sanh, vì Phật Pháp, đây thuộc về tâm linh.
Sau
khi học Phật, tôi hiểu rõ Phật pháp vô cùng thù thắng,
vô cùng hoàn mỹ, nhưng rất tiếc không có người hoằng dương.
Nếu như chúng ta không biết thì chẳng nói làm gì! Một khi
đã biết mà không gánh vác trách nhiệm phục hưng giáo pháp,
chúng ta có lỗi với Phật Đà, có lỗi với thầy Tổ, có
lỗi với chúng sanh và có lỗi với chính mình, tôi quan niệm
như vậy.
Học
Phật, thế nào gọi là học Phật? Là học theo đức Phật
Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni, tâm của Ngài như thế
nào? Hoàn toàn mang tấm lòng vì tất cả chúng sanh, không hề
mang tâm nghĩ cho cá nhân Ngài, nếu vì Ngài, thì Ngài đã trở
về làm Quốc Vương rồi, bởi Ngài là Hoàng Tử, kế thừa
ngôi vua, vì sao Ngài lại không chịu làm vua để hưởng thụ?
Vì sao Ngài lại buông xả cuộc sống hưởng thụ vinh hoa phú
quý? Bởi vì sao? Vì Ngài muốn giúp đỡ những chúng sanh khổ
nạn, muốn giúp những chúng sanh đang bị khổ nạn mà không
hòa mình chung sống thì làm sao có thể giúp đỡ họ được?
Ai có thể tin tưởng? Vừa trông thấy hình dáng của một
vị Hoàng Tử, người ta đã chạy trốn từ đàng xa rồi,
không ai dám gần gũi, cho nên ngài phải sống một cuộc đời
giống hệt như những chúng sanh khổ nạn vậy.
Đạo
lý này, tất cả quý vị đồng tu ở Singapore đã từng trông
thấy và nghe về bà cụ Hứa Triết. Tất nhiên sẽ hiểu rất
rõ vì sao bà cụ Hứu Triết phải sống vô cùng khổ cực
như vậy?
Cuộc
sống của bà gần như giống đức Phật Thích Ca, ngày ăn
một bữa rau tươi, các thứ dầu, muối, gia vị đều không
dùng, sinh hoạt vô cùng đơn giản. Khi tôi hỏi đến thì bà
cụ trả lời: “Tôi muốn giúp đỡ, chăm sóc những người
nghèo cùng nhất, nếu cuộc sống của tôi không giống như
họ, họ sẽ không nhận sự chiếu cố của tôi”.
Áo
quần của bà cụ Hứa Triết mặc là do lượm từ trong những
thùng rác, quần áo nào vừa thì bà giặt sạch sẽ để mặc,
quần áo nào không vừa, thì tự sửa lại, chưa bao giờ tốn
tiền mua sắm áo quần.
Năm
nay bà đã 104 tuổi rồi, thân thể khỏe mạnh như người
trẻ tuổi. Cuộc sống như bà cụ mới thật là cuộc sống
hạnh phúc mỹ mãn. Hơn 100 tuổi, chưa từng đau ốm qua, một
chút bệnh tật cũng không có. Tôi quan sát kỹ thấy bà cụ
chỉ mất có mỗi một cái răng, tóc bà có bạc nhưng thể
lực khoẻ mạnh như người ở tuổi 30, 40. Hiện nay bà vẫn
đang tiếp tục săn sóc những người nghèo khổ nhất, đa
số là những người già 60 – 70 tuổi, bà cụ Hứu Triết
năm nay 104 tuổi mà vẫn còn chăm sóc người già 60 – 70 tuổi,
đại chúng trong xã hội, không ai mà không tôn kính bà cụ.
Chúng
tôi cũng thường tặng một ít tiền bạc cho bà, bà liền
dùng tiền đó tiếp tục đi giúp những người nghèo khổ.
Qua
hình ảnh này quý vị mới biết Phật Thích Ca Mâu Ni vì sao
Ngài phải sống một cuộc sống như thế !
Hôm
nay, chúng ta là những người đệ tử của Phật, đang được
thừa hưởng phước báo của Ngài, tiếp nhận sự cúng dường
đầy đủ, phong phú của tứ chúng, mà hành vi, việc làm của
chúng ta thì quên hết tất cả những việc làm, hành vi của
Phật, chẳng giống Phật một chút nào. Cho nên chư cổ đức
từng nói: “Trước cửa địa ngục, người tu nhiều’’,
những ai đọa địa ngục ? – Người xuất gia.
Người
xuất gia vì sao lại đoạ địa ngục ? Bởi quý vị hưởng
thụ sự cúng dường của tứ chúng, mà không chịu học theo
Phật, quý vị không đoạ thì ai đoạ đây? Đương nhiên,
ở xã hội hiện nay chúng ta nhìn thấy những người tạo
tội ngũ nghịch thập ác rất nhiều cho nên cảnh tượng ở
dưới địa ngục hiện giờ chen chúc nhau rất đông đảo
náo nhiệt, người xuất gia sở dĩ bị đọa lạc, bởi vì
vô minh không hiểu, nên bị ảnh hưởng bởi phong khí của
xã hội, tham đắm sư hưởng thụ của ngũ dục lục trần,
quên sạch hết việc hoằng pháp lợi sanh.
Thế
giới hiện nay, nếu không được Phật lực gia hộ thì chắc
chắn sẽ được yêu ma quỉ quái gia trì, việc này tôi nhìn
thấy rất rõ.
Yêu
ma quỉ quái gia trì cho quý vị bằng cách nào? Tăng trưởng
tham, sân, si, mạn, khiến cho tham sân si mạn của quý vị mỗi
năm mỗi tăng trưởng, đó là Ma đang gia trì cho quý vị, tiền
đồ tương lai một màu đen tối !
Những
“Phật sự hình thức” không ngừng tái diễn để lừa gạt
tín đồ Phật tử, lừa gạt những thiện nam, thiện nữ tốt
lành của thế gian, tội của quý vị sẽ nặng biết chừng
nào ! Tâm của quý vị không phải là tâm của Phật. Tâm của
Phật là tâm từ bi, tâm bình đẳng, tâm lợi ích cho tất
cả chúng sanh. Hành vi của quý vị không phải là hành vi của
Phật, vì hành vi của Phật tối thiểu phải có thập thiện
ngũ giới. Chúng ta chưa thực hành được như vậy. Hành vi
tối thiểu của người xuất gia là Sa di mười giới, hai mươi
bốn điều uy nghi, thật sự làm được như thế, quý vị
mới có thể gọi là người xuất gia, là người chỉ thực
hiện tới mức tiêu chuẩn tối thiểu, chứ chưa phải là
tiêu chuẩn cao, tối thiểu phải được như vậy, không thể
kém hơn.
Nếu
như không có mười giới, hai mươi bốn điều uy nghi, quý
vị không phải là người xuất gia, là người giả mạo làm
đệ tử Phật, không phải là người thật sự xuất gia, nếu
lại ngay đến “Đệ tử quy” cũng không thể thực hành,
quý vị không phải là học trò của Khổng Lão Phu Tử.
Tiêu
chuẩn hành trì trong giáo dục của nhà Nho, thấp nhất là
đệ tử qui, đó là bài học của những em nhỏ 5 -6 tuổi.
Hôm nay chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh quý vị phải nỗ
lực học tập là bởi vì sao? Vì xưa kia lúc còn nhỏ quý
vị chưa được học, hiện giờ đã 30, 40 tuổi rồi, qua một
thời gian lâu dài như thế đã tập thành nhiều thói hư tật
xấu, những tập quán không tốt lành, chỉ cần quý vị mở
quyển sách Đệ Tử Quy, quyển Thái Thượng Cảm Ứng Thiên
và Sa Di Luật Nghi ra xem, những gì quý vị chưa thực hiện
được đều do tập khí xấu.
Cư
sĩ tại gia không thực hiện được, lỗi đó còn nhẹ, tu
sĩ xuất gia mà không thực hành được, tội lỗi của quý
vị mới thật là nặng. Cho nên Ngài Ấn Quang Đại Sư cả
một đời không làm việc thế phát cho ai (không xuất gia cho
người), nguyên do vì đâu? Cuộc đời của Ngài có “ba điều
KHÔNG”, đó là:
- Không xuất gia cho người.
- Không truyền giới.
- Không làm trụ trì
Ngài
không thế phát (xuất gia) cho người là đại từ đại bi,
bởi vì sao? Vì xuất gia cho một người là khiến cho một
người đoạ xuống A Tỳ địa ngục, Ngài không nhẫn tâm
để cho quý vị đọa địa ngục. Bởi người xuất gia là
tượng trưng cho Phật, cho hình tướng của Phật, nếu quý
vị làm không giống Phật, khiến cho người thế gian nhìn
thấy rồi huỷ báng Phật pháp, huỷ báng người xuất gia,
tội của quý vị lớn biết chừng nào!
Quý
vị là người đại diện cho hình tướng của Phật, Bồ Tát,
nếu như hình tướng của quý vị có thể khiến cho xã hội
đại chúng nhìn thấy, phát tâm tôn kính và tán thán, công
đức của quý vị vô lượng vô biên. Ngược lại quý vị
khiến cho người khác huỷ báng, chửi mắng Phật. Tội lỗi
của quý vị là ở A Tỳ địa ngục. Tổ sư không xuất gia
cho người đó thật sự là do lòng đại từ đại bi.
Ngài
không làm trụ trì, vì trách nhiệm của trụ trì quá lớn,
giống như Hiệu trưởng vậy. Sứ mạng là giáo hóa dân chúng
cả một vùng, Ấn tổ có khả năng không ? Ngài có khả năng,
nhưng không có người cấp dưới có thể hợp tác. Như một
người hiệu trưởng không có người đồng tâm hiệp lực,
không thể xây dựng tốt một trường học.
Cho
nên làm trụ trì của một chùa không phải là chuyện đơn
giản để làm, một người trụ trì tốt, tối thiểu phải
có thêm ba người chấp sự chính yếu tốt, giống như trường
học, ngoài hiệu trưởng tốt, cần có người giáo vụ tốt,
người tổng vụ tốt và người huấn đạo tốt, thêm vào
đó cần có giáo viên tốt nữa thì trường học mới tốt
được. Ấn tổ thật sự không dám đảm nhận vì không có
người có thể hợp tác với ngài.
Cho
nên chúng ta hãy nghĩ xem muốn xây dựng một đạo tràng tốt
còn khó làm được, huống hồ hiện giờ trường Đại học
muốn đẩy mạnh công tác xây dựng hòa bình, an định xã
hội trên toàn thế giới, thật không phải là chuyện dễ
dàng.
Ngày
hôm qua tôi nói với những vị giáo sư phụ trách về môn
học này và vị Viện trưởng của trường Đại học Queensland
rằng:
“Muốn
thực hiện công tác này, điều khó khăn nhất là tìm đâu
ra người thật sự chịu hy sinh, sẵn sàng phụng sự và cống
hiến”.
Đây
là điều kiện tiên quyết của thế và xuất thế gian pháp,
quan trọng nhất là do ở con người. Không có nhân sự cho
dù nguyện vọng, lý tưởng có tốt như thế nào đi nữa cũng
không thể thực hành. Nhân sự là quan trọng nhất.
Thật
tình mà nói hiện giờ chúng ta có đầy đủ về mọi mặt,
duy chỉ thiếu nhân sự. Chúng tôi hy vọng những vị Viện
trưởng, các vị giáo sư phát tâm chân thành, mong cầu Phật,
Bồ tát, hy vọng Phật, Bồ tát, Thánh thần thật sự
phái Bồ tát, phái sứ giả đến. Ngoài phương pháp này ra
không còn cách nào hơn.
Khởi
tâm động niệm, không nên vì cá nhân ta, phải hết lòng tình
nguyện sống một cuộc sống khổ cực nhất để vì mọi
người. Ta sống khổ một chút thèm một phần phước báo
cho người khác. Ta hưởng thụ thêm một chút thì người khác
phải chịu khổ thêm một phần. Ta sớm một ngày thành tựu,
chúng sanh sẽ sớm một ngày được phước. Ta trễ một ngày
thành tựu, chúng sanh sẽ bị khổ nhiều hơn. Phải có tư
tưởng, nguyện vọng như thế mới được. Người như vậy
biết tìm đâu ra bây giờ ?
Người
Trung Quốc xưa thường nói: ”có thể gặp mà không thể cầu”.
Tuy nhiên, hiện nay trường Đại học mở môn học này, “đã
có hơn một trăm người tự động đến ghi danh” đây là
lời nói của những vị giáo sư tổ chức nói với tôi.
Tôi
tin tưởng trong số hơn một trăm người của hai trường học
đó chắc chắn là có người do thừa nguyện tái lai đến
để cứu vãn tai nạn của thế giới. Ngày hôm trước chúng
tôi đến thăm trường Đại học Griffith, gặp cả hai vị
Viện trưởng của hai trường Đại học Griffith và Queensland.
Hai vị này đều vô cùng nhiệt tâm với nền giáo dục xã
hội đa nguyên văn hóa.
Tôi
nói: “Tôi không bì được với hai ông, quý ông thật sự
phát tâm làm công việc này. Tôi sẽ tận lực, tận tâm để
hợp tác”.
Trong
quý vị những người xuất gia đây, chưa có người thành
tựu, tôi tin rằng, trong số học sinh tình nguyện ghi danh của
hai trường Đại học đó rất có thể có Phật, Bồ tát tái
lai. Tôi rất vui khi nhìn thấy tinh thần nhiệt thành của
hai học viện này. Họ tự động đến tìm tôi, không phải
tôi đi tìm họ. Tôi còn biết hiện nay trên thế giới có
tám trường Đại học đã có cùng một lý tưởng, quan niệm
vì nền hòa bình của thế giới và đang hướng về mục tiêu
này đẩy mạnh.
Tôi
nói: “Đây chính là cội nguồn ánh sáng của thế giới”,
nghe xong họ gật đầu khẳng định. Thật sự đây là luồng
ánh sáng của thế giới, bởi vì thế giới vẫn còn có thể
cứu vãn. Cho nên tôi thường khuyên quý vị đồng tu, có phải
lần này chúng ta đến thế gian đây để ứng kiếp? Nghĩa
là trong đại tai kiếp của thế giới này. Chúng ta đến đây
tham gia hủy diệt và hưởng ứng với đại tai nạn đại
tai kiếp để cùng nhau đi đến chỗ tận diệt ? ! Hoặc là
quý vị đến thế gian này để cứu vãn tai kiếp? Nếu như
nói rằng có khả năng cứu vãn tai kiếp.
Vấn
đề không phải là có khả năng hoặc không có khả năng,
phải xem quý vị có phát tâm hay không? Phàm Thánh khác nhau
chỉ trong một niệm, một niệm xả kỷ vị tha tức là chuyển
phàm thành thánh, còn như không chịu vứt bỏ tánh ích kỷ,
không chịu sửa đổi thói hư tật xấu, thì quý vị chính
là người đến đây để hưởng ứng tai kiếp, không thể
tránh thoát tai nạn.
Thực
tế mà nói, chúng ta quyết định không cần phải trốn tránh
tai nạn, đối với tai nạn chúng ta không hề sợ hãi, chỉ
có một nguyện vọng duy nhất là tận tâm tận lưcï giúp
đỡ những chúng sanh đang bị khổ nạn trên thế giới. Một
nguyện vọng duy nhất này thôi. Sự sống chết, tồn vong của
chính mình đều đã buông bỏ hết, hà huống là những thứ
khác.
Con
người sống ở thế gian, nếu chỉ biết vì mình, quý vị
sẽ bị nghiệp lực chi phối cả một cuộc đời của quý
vị. Hãy đọc sách Liễu Phàm Tứ Huấn sẽ tự rõ, ngược
lại nếu biết vì chúng sanh, lập tức sẽ chuyển nghiệp
lực thành nguyện lực. Sự chuyển biến này, trong Phật Pháp
thường nói là thừa nguyện tái lai, nghĩa là ta cởi bỏ được
nghiệp lực, vì nguyện lực đã thù thắng.
Do
nguyện lực mà sống ở thế gian thì rất tùy duyên, chúng
sanh có phước, ta vì họ phục vụ thêm ít ngày, chúng sanh
không có phước thì ta phục vụ họ ít đi vài ngày. Thời
gian trụ thế dài hay ngắn đã không còn liên quan gì với
cá nhân ta nữa mà tùy xem phước báo của chúng sanh. Đối
với Phật Pháp, Phật Pháp tự sẽ có Phật Bồ Tát an bài
chúng ta không cần phải bận tâm. Việc hưng thịnh của Phật
pháp chúng ta đã nhiều lần đọc kinh Hoa Nghiêm, biết đó
là do chư Phật Bồ Tát ứng hóa đến đây.
Chúng
sanh không có phước, muốn tạo đại tai kiếp, nên chư Phật
Bồ tát tạm thời lánh đi, chờ khi tai kiếp qua rồi, các
Ngài sẽ trở lại, Phật, Bồ tát chiếu cố chúng sanh, thật
không sơ sót chỗ nào, trong Phật pháp thường nói :“Phật
thị môn trung, bất xả bất nhân” nghĩa là “trong nhà Phật
chẳng hề từ bỏ một ai”.
Cho
nên tâm của chúng ta phải tương ưng với tâm của Phật.
Thế nào là tâm Phật? Chúng tôi học Phật đã được nửa
thế kỷ rồi, các vị giáo sư hỏi tôi dạy học đã được
bao lâu?” Tôi nói: “Đã được 44 năm”, tôi tổng kết
tâm Phật lại thành mười chữ, đó là tâm: chân thành, thanh
tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi.
Quý
vị nên nhớ, chẳng phải Phật có năm cái tâm, chỉ có duy
nhất một tâm, trong đó đầy đủ chân thành, thanh tịnh,
bình đẳng, chánh giác, từ bi. Đây là tâm của Phật. Còn
hành vi của Phật là nhìn thấu, buông xả, tự tại, tùy duyên
niệm Phật.
-Buông
xả là gì? Là buông bỏ những thói hư tật xấu của chính
mình.
-Nhìn
thấu là đối với thế và xuất thế gian pháp như trong kinh
Bát Nhã nói: chư pháp thật tướng hoặc trong kinh Đại thừa
thường nói: Tín, Tướng, Sự, Lý, Nhân, Quả, quý vị đều
hiểu thấu gọi là nhìn thấu.
Chân
tướng là gì? Trong kinh Kim Cang nói rất rõ: ”Phàm sở hữu
tướng, giai thị hư vọng”. Phật nói rất hay, tất cả các
tướng đều “vô sở hữu, tất kính không, bất khả đắc”
lời nói này hoàn toàn là sự thật.
Ngày
hôm qua chúng tôi đến thăm trường Đại học Griffith, hôm
nay họ mang tấm hình chụp đến cho tôi. Tôi xem qua, liền
thấy rõ “vô sở hữu, tất kínhkhông, bất khả đắc”.
Quý vị xem trong một tích tắc chụp hai tấm ảnh, tấm ảnh
sau, tuyệt đối không thể là tấm ảnh trước, thời gian
rất ngắn trong một tích tắc thôi, một khi nó qua rồi chúng
ta không thể kéo lại được, quý vị nói có thể chiếm hữu
nó được không? Chẳng được gì cả. Cho nên quý vị chỉ
cần nhìn tấm ảnh đã chụp, cũng có thể tự biết thức
tỉnh khai ngộ và sẽ minh tâm kiến tánh, biết nó là giả
là không.
Ngày
nay chúng ta bị mê, mê ở chỗ nào ? Ở chỗ xem những tướng
hình ảnh nối liền nhau cho là thật, như vậy mới bị thiệt
thòi lớn, nên nhớ mọi vật chẳng có gì là thật cả, tất
cả đều “tất kính không, bất khả đắc”. Quý vị một
khi hiểu rõ được đạo lý này rồi, còn gì mà không thể
buông xả? Buông bỏ đi những ích kỷ, những phiền não, thói
hư tật xấu để thuận theo lời răn dạy của Phật vì tất
cả chúng sanh khổ nạn làm tấm gương tốt, được như thế
thật là công đức vô lượng. Chỉ có vô lượng công đức
này quý vị mới có thể mang theo, ngoài ra không có một thứ
gì có thể mang theo được. Người thông minh nên tạo những
điều có thể mang theo, ngược lại thì không nên làm.
Chúng
ta hãy nhìn xem, cái bịnh nghiêm trọng nhất của xã hội đại
chúng ngày nay là gì ? Con người ngày nay thật là bất trung,
bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa. Trong nhà Phật dạy chúng
ta cách đối trị nghĩa là chúng ta phải làm tấm gương Trung,
Hiếu, Nhân, Nghĩa ra cho mọi người thấy.
-Mặt
trái của hiện tượng xã hội ngày nay là tham lam. Phật dạy
chúng ta bố thí, nhiệt tình giúp đỡ người khác, chínhï
mình không có mà vẫn có thể giúp, cho dù ngày mai không có
ăn, hôm nay còn một chút ta vẫn sẵn sàng bố thí mặc cho
ngày mai không còn.
-Chúng
sanh đều tạo ác nghiệp. Chúng ta học trì giới, trì giới
đối trị ác nghiệp.
-Chúng
sanh đa số đều hay sân hận, đố kỵ, chúng ta tu nhẫn nhục
để đôi trị.
-Chúng
sanh giải đãi, lười biếng. Chúng ta tu tinh tấn.
Phải
thực hiện tốt sáu điều này ngay ở bản thân ta để làm
gương cho mọi người xem, không cần phải nói nhiều. Vì có
nói nhiều cũng không ai chịu nghe, phải thực hành cho người
ta thấy, sau khi ta học Phật quả nhiên đã có nhiều thay đổi
so với ngày xưa, tất cả những thói hư tật xấu trước
kia nay đã hoàn toàn sửa đổi.
Gần
đây, tu viện trên núi Toowoomba, có cư sĩ Hứa Thu Diệp đã
khiến chúng tôi rất thán phục, cư sĩ này có nhiều tật
xấu, nay đã hoàn toàn thay đổi, chính bà cũng cảm thấy
ngạc nhiên, bà nói : có lẽ do Tam Bảo gia hộ, vì mấy mươi
năm qua bà đã có thói quen ngủ dậy rất trể thích “nằm
nướng” khi đến học viện đây rồi, vẫn phải nhờ cô
giáo họ Dương gọi bà thức, khi cô Dương gọi, bà nói :
“cho tôi ngủ thêm một chút”, sau mười phút cô Dương trở
vô gọi tiếp. Bà nói : “thôi, hôm nay tôi nghỉ học, nghỉ
niệm Phật một bữa”.
Đến
nay bà có thể tự động thức dậy không cần người gọi
nữa. Mỗi sáng 5 giờ đã dậy công phu, ngày xưa nhất định
phải ngủ tới 7, 8 giờ sáng cho thấy bà đã tiến bộ dần.
Cô Dương cũng rất giỏi, chương trình của học viện là
nghe giảng kinh 8 giờ và niệm Phật cũng 8 giờ đồng hồ
nay cô đã thực hành được 15 giờ mỗi ngày chỉ còn thiếu
một giờ. Phải tự nơi bản thân mình thật sự dõng mãnh
tinh tấn, như thế mới gọi là người học Phật, gọi là
tinh tấn.
Hôm
nay chúng ta học Phật, tuyệt đối không thể đòi hỏi ở
người khác, yêu cầu người khác là sai lầm, xã hội hiện
nay là xã hội dân chủ tự do khai phóng, tôn trọng nhân quyền.
Nếu chúng ta can dự vào người khác xem như xâm phạm nhân
quyền của họ cho nên chúng tôi không làm những điều này,
nên nhớ : thiên đàng, địa ngục tự mình đi, mỗi người
đi theo con đường của cá nhân mình. Trong lúc giảng pháp
chúng tôi chỉ có thể khuyến khích mà không thể hạn chế
quý vị.
Nếu
mỗi người ở đây đều chịu học, chịu làm thực hành
như lý như pháp, tôi rất vui và cùng quý vị ở đây tu hành.
Giả như mọi người chỉ thích nghe mà không thực hành,
tôi cũng vẫn vui và không dự vào đoàn thể của quý vị
nữa, có thể tôi chỉ dùng một căn phòng nhỏ của học hội
để làm chỗ nghỉ ngơi và đến trường đại học để giảng
dạy, tôi sẽ không trở lên Toowoomba nữa .
Nếu
không dạy ở trường Đại học, tôi sẽ đến một nơi khác,
chỗ nào có bạn đồng tu tôi sẽ đến đó, tôi chẳng bao
giờ phải đắn đo chỗ nào có tai nạn, có nguy hiểm, tôi
không bao giờ nghĩ đến chuyện này, ở đâu có bạn đồng
tu tôi sẽ đến đó.
Trong
các kinh luận của đại, tiểu thừa, Phật thường nói điều
quan trọng đầu tiên trong việc học Phật của chúng ta là
phải có thiện tri thức. Thứ hai là có bạn đồng tu chân
thật, thật sự phát tâm xả kỷ vị tha. Xả kỷ vị tha biểu
hiện ở đâu ? Ở trên mặt hành vi. Quý vị có thể nói rất
hay nhưng không thực hành được đó là giả, không thật chút
nào, cho nên chúng ta nhất định phải thực hành cho bằng
được để khắc phục phiền não, thói hư tật xấu của
mình, thật sự nỗ lực , cố gắng làm tốt hình tướng của
Phật, Bồ tát.
- Xuất
gia làm tốt hình tướng của người xuất gia.
-
Tại gia làm tốt hình tướng của người tại gia.
Công
đức thật là vô lượng vô biên. Cư sĩ Tưởng. khi mới đến,
ông ta cũng mang tật xấu đầy mình, sau khi ở đây tu học
rồi trở về Vancouver.. ông đã hoàn toàn đổi mới, thật
đáng khen vô cùng chứng tỏ ông đã thật sự học, thật
sư tu. Nếu không, mang tiếng đến đây tu học, đó chỉ là
giả danh mà thôi. Phải thật sự biết ăn năn hối cải. Sửa
đổi từ đâu? Từ Đệ tử quy, từ Thái Thượng cảm Ứng
Thiên, từ Sa Di luật nghi mà sửa lỗi. Sa Di Luật Nghi, tại
gia cư sĩ có thể học, phải thật sự sửa đổi.
Lần sau quý vị từ học viện Toowoomba xuống đây gặp tôi.
Tôi xem quý vị có thật sự thực hành, thật sự sửa đổi
hay không? Nếu quý vị có thể tự mình sửa đổi trở lại,
quý vị sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều người, đây mới
là công đức chân thật.
Xã hội đại chúng nhìn thấy với một người lớn tuổi,
nhiều thói hư và tập quán xấu, gần như không có cách cứu
chữa mà vẫn có thể sửa đổi trở lại, quý vị nghĩ xem,
cách nhìn của họ đối với Phật pháp chắc chắn sẽ khác,
bởi vì công đức của Phật pháp, thật sự thù thắng không
thể nghĩ bàn, có thể khiến cho một người nhiều tập khí
xấu như vậy quay đầu trở lại, từ đó mọi người mới
có tín tâm để học Phật, nghĩ rằng người đó có thể
sửa đổi vì sao ta lại không ?
Phải
hy sinh, không tiếc thân mạng để làm người dẫn đầu trong
việc tu tập. Hôm nay thời gian đã hết, tôi chỉ có vài lời
nói này để cúng dường quý vị, ngày mai tôi phải đi Singapore,
cám ơn tất cả.
Tịnh
Tông Học Hội Úc Châu, Queensland
Ngày
31 tháng 01 năm 2002
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 04-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 338 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân