Tổ Thứ
Nhất Trung Hoa
Bồ-đề-đạt-ma
(Bodhidharma)
(Đầu
thế kỷ thứ mười một sau Phật niết-bàn)
Ngài
dòng Sát-đế-lợi ở Nam Ấn, cha là Hương Chí vua nước này.
Vua Hương Chí sanh được ba người con trai, Ngài là vương
tử thứ ba. Thuở nhỏ, Ngài đã có chí siêu việt và đặc
tài hùng biện.
Nhân
vua Hương Chí thỉnh Tổ Bát-nhã-đa-la vào cung cúng dường,
Ngài mới có duyên gặp Tổ. Qua cuộc nghiệm vấn về hạt
châu, Tổ đã biết Ngài là người siêu quần bạt tục sẽ
kế thöøa Toå vò.
Sau
khi vua cha băng, Ngài quyết chí xuất gia cầu xin Tổ Bát-nhã
độ làm đệ tử, Tổ hoan hỉ làm lễ thế phát và truyền
giới cụ túc. Tổ bảo Ngài:
- Hoàng
tử đối các pháp đã được thông suốt, nay nên đổi hiệu
là Bồ-đề-đạt-ma. Từ đây, Ngài luôn hầu hạ bên thầy.
Một
hôm, Tổ gọi Ngài đến truyền pháp và dặn dò:
- Ngươi
tạm giáo hóa ở nước này, sau sang Trung Hoa mới thật là
nhân duyên lớn. Song, đợi ta diệt độ khoảng sáu mươi năm
sau sẽ đi. Nếu ngươi đi sớm, sau e có việc không tốt.
Những
điều kiết hung về sự giáo hóa ở Trung Hoa sau này, Ngài
đều cầu xin Tổ chỉ dạy. Tổ dùng những lời sấm ký tiên
đoán sự kiết hung vận số Phật pháp ở Trung Hoa, nói có
hơn mười bài kệ.
Tổ
tịch rồi, Ngài vẫn ở tại nước nhà giáo hóa. Người huynh
đệ đồng sư với Ngài là Phật Đại Tiên cùng chung sức
giáo hóa. Thời nhân gọi hai Ngài là "Mở hai cửa cam lồ".
Song, sau môn đồø của Phật Đại Tiên lại chia làm sáu tông:
1.- Hữu tướng, 2.- Vô tướng, 3.- Định tuệ, 4.- Giới hạnh,
5.- Vô đắc, 6.- Tịch tịnh, đua nhau truyền bá. Ngài thấy
sự chia ly ấy, ngại cho chánh pháp suy vi. Vì thế, Ngài dùng
phương tiện cảm hóa họ hồi đầu quay về chánh pháp.
Vua
Nguyệt Tịnh băng, con vua là Thái tử Dị Kiến nối ngôi.
Dị Kiến lên ngôi không bao lâu lại tin theo tà thuyết bài
bác Phật giáo. Ngài sai đệ tử là Ba-la-đề đến cung vua
để nhiếp hóa. Sau khi cải tà qui chánh, vua Dị Kiến hỏi
ra mới biết Ba-la-đề là đệ tử của chú mình. Nhà vua cho
người thỉnh Ngài về cung giáo hóa.
Về
cung giáo hóa một thời gian, Ngài thấy cơ duyên sang Trung Hoa
đã đến, bèn đem lời huyền ký của Tổ Bát-nhã-đa-la thuật
lại cho vua biết. Vua không còn lời gì dám ngăn cản, đành
sắm một chiếc thuyền buôn, cho thủy thủ đưa Ngài sang Trung
Hoa. Vua và quần thần tiễn đưa Ngài ra tới cửa biển.
Ngài
ở trên thuyền gần ngót ba năm, thuyền mới cặp bến Quảng
Châu, nhằm đời nhà Lương niên hiệu Phổ Thông năm đầu
(520 sau T.C.), ngày hai mươi mốt tháng chín năm Canh Tý. Thích
sử tỉnh nầy ra đón tiếp Ngài, đồng thời dâng sớ về
triều tâu vua Lương Võ Đế. Vua được sớ, liền sai sứ
lãnh chiếu chỉ đến thỉnh Ngài về Kim Lăng (Kinh đô nhà
Lương). Vua Võ Đế hỏi:
- Trẫm
từ lên ngôi đến nay thường cất chùa, chép kinh, độ Tăng
Ni, không biết bao nhiêu, vậy có công đức gì chăng?
Ngài
đáp:
- Đều
không có công đức.
-
Tại sao không có công đức?
-
Bởi vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo
nhỏ ở cõi người cõi trời, như bóng theo hình, tuy có mà
chẳng phải thật.
-
Thế nào là công đức chân thật?
-
Trí thanh tịnh tròn mầu, thể tự không lặng, công đức như
thế chẳng do thế gian mà cầu.
-
Thế nào là thánh đế nghĩa thứ nhất?
-
Rỗng rang không thánh.
-
Đối diện với trẫm là ai?
-
Không biết.
Vua
Lương Võ Đế không lãnh ngộ được, lui về nghỉ. Ngài biết
căn cơ chẳng hợp, tạm lưu lại đây ít hôm.
Đến
ngày mười chín, Ngài bỏ vua Lương, lén sang sông qua Giang
Bắc. Ngài nhập cảnh nước Ngụy đi đến Lạc Dương nhằm
đời Hậu Ngụy vua Hiếu Minh Đế niên hiệu Chánh Quang năm
đầu (520 sau T.C.) ngày hai mươi ba tháng mười một.
Ngài
dừng trụ tại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, trọn ngày ngồi
xây mặt vào vách im lặng. Tăng chúng đều không hiểu được.
Người đời gọi Ngài là "Thầy Bà-la-môn ngồi nhìn vách"
(Bích quán Bà-la-môn).
Có
vị tăng tên Thần Quang học thông các sách, giỏi lý diệu
huyền, nghe danh Ngài tìm đến yết kiến. Thần Quang đã đủ
lễ nghi mà Ngài vẫn ngồi lặng yên ngó mặt vào vách không
màng đến. Quang nghĩ: "Người xưa cầu đạo chẳng tiếc thân
mạng, nay ta chưa được một trong muôn phần của các Ngài."
Hôm ấy, nhằm tiết mùa đông (mùng chín tháng chạp), ban đêm
tuyết rơi lả tả, Thần Quang vẫn đứng yên ngoài tuyết
chấp tay hướng về Ngài. Đến sáng tuyết ngập lên khỏi
đầu gối, mà gương mặt Thần Quang vẫn thản nhiên. Ngài
thấy thế thương tình, xây ra hỏi:
-
Ngươi đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì?
Thần
Quang thưa:
- Cúi
mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ chúng con.
- Diệu
đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn,
hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn,
còn không thể đến thay! Huống là, dùng chút công lao nhỏ
này mà cầu được pháp chân thừa?
Thần
Quang nghe dạy bèn lén lấy đao chặt cánh tay trái để trước
Ngài để tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Ngài biết đây là
pháp khí bèn dạy:
- Chư
Phật lúc ban đầu cầu đạo, vì pháp quên thân, nay ngươi
chặt cánh tay để trước ta, tâm cầu đạo như vậy cũng
khá.
-
Pháp ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng?
-
Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được.
-
Tâm con chưa an, xin Thầy dạy pháp an tâm.
-
Ngươi đem tâm ra đây, ta an cho.
-
Con tìm tâm không thể được.
-
Ta đã an tâm cho ngươi rồi.
Thần
Quang nhân đây được khế ngộ. Ngài liền đổi tên Thần
Quang là Huệ Khả.
Từ
đây kẻ tăng người tục đua nhau đến yết kiến Ngài, tiếng
tăm vang dậy. Vua Hiếu Minh Đế nước Ngụy sai sứ ba phen
thỉnh Ngài, Ngài đều từ chối. Nhà vua càng kính trọng,
sai sứ đem lễ vật đến cúng dường: một cây tích trượng,
hai y kim tuyến, bình bát, v.v... Ngài từ khước nhiều lần,
nhưng nhà vua cố quyết cúng dường, rốt cuộc Ngài phải
nhận.
Mở
cửa phương tiện, Ngài có dùng bốn hạnh để giáo hóa môn
đồ: 1.- Báo oán hạnh, 2.- Tùy duyên hạnh, 3.- Vô sở cầu
hạnh, 4.- Xứng pháp hạnh. (1)
Ở
Trung Hoa gần chín năm, Ngài thấy cơ duyên đã đến, liền
gọi đồø chúng hỏi:
-
Giờ ta trở về sắp đến. Các ngươi mỗi người nên nói
chỗ sở đắc của mình.
Đạo
Phó ra thưa:
-
Theo chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn
tự, đây là dụng của đạo.
Ngài
bảo:
-
Ngươi được phần da của ta.
Bà
ni Tổng Trì ra thưa:
-
Nay chỗ hiểu của con, như Tổ A-nan thấy nước Phật A-súc,
chỉ thấy một lần, không còn thấy lại.
Ngài
bảo:
-
Ngươi được phần thịt của ta.
Đạo
Dục ra thưa:
-
Bốn đại vốn không, năm ấm chẳng có, chỗ thấy của con
không một pháp có thể được.
Ngài
bảo:
-
Ngươi được phần xương của ta.
Đến
Huệ Khả bước ra đảnh lễ Ngài, rồi lui lại đứng yên
lặng.
Ngài
bảo:
-
Ngươi được phần tủy của ta.
Ngài
gọi Huệ Khả đến dặn dò:
- Xưa
Như Lai đem đại pháp nhãn tạng trao cho Tổ Ca-diếp, lần
lượt truyền đến ta. Nay ta đem trao lại cho ngươi, ngươi
phải truyền trao không để dứt mất. Cùng trao cho ngươi y
Tăng-già-lê và bát báu, để làm pháp tín. Mỗi thứ tiêu
biểu cho mỗi việc, ngươi nên biết.
Huệ
Khả thưa:
- Xin
Thầy từ bi chỉ dạy mọi việc.
Ngài
dạy:
- Trong
truyền tâm ấn để khế hợp chỗ tâm chứng, ngoài trao ca-sa
để định tông chỉ. Đời sau có nhiều người cạnh tranh
nghi ngờ, họ nói "Ta là người Ấn, ngươi là người Hoa,
căn cứ vào đâu mà được pháp, lấy cái gì để minh chứng?"
Ngươi gìn giữ pháp y nầy, nếu gặp tai nạn, ngươi đem ra
làm biểu tín, thì sự giáo hóa không bị trở ngại. Hai trăm
năm sau khi ta diệt độ, y bát nầy dừng lại không truyền,
vì lúc đó, Phật pháp rất thạnh hành. Chính khi ấy, người
biết đạo thật nhiều, người hành đạo quá ít, người
nói lý thì nhiều, người ngộ lý thì ít. Tuy nhiên, người
thầm thông lặng chứng có hơn ngàn vạn. Ngươi gắng xiển
dương, chớ khinh người chưa ngộ. Nghe ta nói kệ:
Ngô
bản lai tư độ,
Truyền
pháp cứu mê tình.
Nhất
hoa khai ngũ diệp,
Kết
quả tự nhiên thành.
Dịch:
Ta
sang đến cõi nầy,
Truyền
pháp cứu mê tình.
Một
hoa nở năm cánh,
Nụ
trái tự nhiên thành.
Ngài
lại bảo:
- Ta
có bộ kinh Lăng-già bốn quyển, là Phật nói tột pháp yếu,
cũng giúp cho chúng sanh mở, bày, ngộ, nhập kho Tri kiến Phật,
nay ta trao luôn cho ngươi. Ta từ Nam Ấn sang đây đã năm phen
bị thuốc độc mà không chết, vì thấy xứ nầy tuy có khí
Đại thừa mà chưa ứng hợp, nên ta lặng lẽ ngồi lâu chờ
đợi. Nay đã truyền trao xong, đã có thủy ắt phải có chung
vậy.
Xong
rồi, Ngài cùng đồ chúng đi đến Võ môn ở chùa Thiên Thánh
dừng lại ba hôm. Quan thái thú thành nầy tên Dương Huyễn
Chi là người sùng mộ Phật pháp. Nghe tin Ngài đến, liền
tới đảnh lễ. Ông hỏi:
- Thầy
ở Ấn Độ được kế thừa làm Tổ, vậy thế nào là Tổ,
xin Thầy dạy cho?
Ngài
đáp:
- Rõ
được Tâm tông của Phật, không lầm một mảy, hạnh và
giải hợp nhau, gọi đó là Tổ.
- Chỉ
một nghĩa này hay còn nghĩa nào khác?
- Cần
rõ tâm người, biết rành xưa nay, chẳng chán có không, cũng
chẳng cố chấp, chẳng hiền chẳng ngu, không mê không ngộ.
Nếu hay hiểu như thế, cũng gọi là Tổ.
Huyễn
Chi lại thưa:
- Đệ
tử vì bị nghiệp thế tục, ít gặp được tri thức, trí
nhỏ bị che lấp không thể thấy đạo. Cúi xin
Thầy
chỉ dạy, con phải noi theo đạo quả nào? Dùng tâm gì được
gần với Phật, Tổ?
Ngài
vì ông nói kệ:
Diệc
bất đổ ác nhi sanh hiềm
Diệc
bất quán thiện nhi cần thố,
Diệc
bất xả trí nhi cận ngu,
Diệc
bất phao mê nhi tựu ngộ.
Đạt
đại đạo hề quá lượng,
Thông
Phật tâm hề xuất độ,
Bất
dữ phàm thánh đồng triền,
Siêu
nhiên danh chi viết Tổ.
Dịch:
Cũng
đừng thấy dữ mà sanh chê,
Cũng
đừng thấy lành mà ái mộ,
Cũng
đừng bỏ trí mà gần ngu,
Cũng
đừng ném mê mà về ngộ.
Đạt
đạo lớn chừ quá lượng,
Thông
Phật tâm chừ vô kể,
Chẳng
cùng phàm thánh đồng vai,
Vượt
lên, gọi đó là Tổ.
Huyễn
Chi nghe dạy hoan hỷ đảnh lễ, lại thưa:
-
Xin Thầy chớ vội tạ thế, để làm phước lợi cho quần
sanh. Ngài bảo:
-Đời
mạt pháp, kẻ tệ ác quá nhiều, dù ta còn ở lâu e chẳng
lợi ích, mà thêm tai nạn, làm tăng trưởng tội ác cho người.
-
Từ Thầy đến đây ai thường hại Thầy, xin Thầy chỉ họ,
con sẽ sắp xếp.
-
Nói ra ắt có tổn hại, ta nên đi vậy. Đâu cam hại người
để mình được vui.
Huyễn
Chi nài nỉ thưa:
-
Con không hại người, chỉ muốn biết đó thôi.
Ngài
bất đắc dĩ nói bài kệ:
Giang
tra phân ngọc lãùng,
Quản
cự khai kim tỏa.
Ngũ
khẩu tương cộng hành,
Cửu
thập vô bỉ ngã.
Dịch:
Thuyền
con rẽ sóng ngọc,
Đuốc
soi mở khóa vàng.
Năm
miệng đồng cùng đi,
Chín,
mười không ta người.
Huyễn
Chi nghe rồi ghi nhớ, đảnh lễ Ngài lui ra.
Ở
đây đúng ba hôm, Ngài ngồi an nhiên thị tịch. Hôm ấy là
ngày mùng chín tháng mười năm Bính Thìn, nhằm niên hiệu
Đại Thông năm thứ hai nhà Lương (529 T.C.). Đến ngày mười
tám tháng chạp năm này, làm lễ đưa nhục thân của Ngài
nhập tháp tại chùa Định Lâm, núi Hùng Nhĩ.
Sau,
vua Hậu Ngụy sai Tống Vân đi sứ Ấn Độ về, gặp Ngài
tại núi Thông Lãnh, thấy Ngài tay xách một chiếc dép, một
mình đi nhanh như bay. Tống Vân hỏi:
- Thầy
đi đâu?
Ngài
đáp:
- Về
Ấn Độ.
Ngài
lại nói thêm:
- Chủ
ông đã chán đời rồi.
Tống
Vân ngẩn ngơ, từ giã Ngài về triều. Đến triều thì vua
Minh Đế đã băng. Hiếu Trang Đế lên ngôi. Ông đem việc
ấy tâu lại, vua ra lệnh mở cửa tháp giơ quan tài ra, quả
nhiên là quan tài không, chỉ còn một chiếc dép. Vua sắc đưa
chiếc dép về thờ ở chùa Thiếu Lâm. Đến đời Đường
niên hiệu Khai Nguyên năm thứ mười lăm (728 sau T.C.) môn đồø
lại dời chiếc dép về thờ ở chùa Hoa Nghiêm.
Vua
phong Ngài hiệu Viên Giác Thiền Sư, tháp hiệu Không Quán.
Tập
Thiếu Thất Lục Môn nói là tác phẩm của Ngài.
(1)
Xem cửa thứ ba quyển "Sáu cửa vào động Thiếu Thất" của
Trúc Thiên dịch.
(Trích
trong "Sử 33 vị Tổ Thiền Tông Ấn-Hoa",Thanh Từ soạn, 1972,
trang 157-171)
LINH
THOẠI BỒ ĐỀ ĐẠT MA
Trúc
Thiên
Tổ
Ðạt Ma cỡi sóng qua Ðông Ðộ.
Tổ
Ðạt Ma vào đất Ngụy, đường đường như một kiếm khách
chốn bải tần.
Tổ
Ðạt Ma “đơn dao trực nhập” triều đình Lương Võ Ðế
nói pháp như chuyển sóng.
Tổ
Ðạt Ma chín năm trầm hùng ngồi nhìn vách đá chùa Thiếu
Lâm.
Tổ
Ðạt Ma kỳ diệu ban phép an tâm.
Tổ
Ðạt Ma cỡi bè lau về Thiên Trức.
Tổ
Ðạt Ma xách một chiếc dép phi hành trên ngọn Thông Lãnh.
Tổ
Ðạt Ma... và Tổ Ðạt Ma...
Bao
nhiêu là câu chuyện truyền kỳ kết hào quang đưa nhà sư
mắt biếc đất Hồ (Bích nhãn Hồ tăng) vào Huyền Sử.
oOo
Từ
Tung sơn, sừng sững bên vách đá chùa Thiếu Lâm, bóng Người
ngả dài suốt lịch sử đông phương như một tượng trưng
thuần túy của Ðạo. Ngót mười lăm thế kỉ nay, lòng người
còn nghe đồng vọng tiếng Người nói ; chốn già lam còn nghe
vang dội bước Người đi.
Người
đi qua không gian hiển hiện như chưa-từng-có.
Người
đi qua thời gian, hiển hiện như chưa-từng-không.
Người
đi thẳng vào sự thực, dẫm nát dư luận.
Người
đi thẳng vào lòng người, không mặt nạ.
oOo
Ðối
vởi Người, sự thực là sự thực, không được trả giá.
Trả giá với sự thực là kí kết với ma. Con người đang
đi xuống quá rồi , thế đạo đang nghiêng ngửa quá rồi
giữa sắc tướng ; cần cấp thời chận đứng cái đà tuột
giốc ; cần vươn mình lên mở lấy một con-đường-không-đường
, cần nhảy thẳng vào tâm điểm của cuộc sống, của giác
ngộ. Căn bịnh đã quá trầm trọng, cần bạo tay thọc thẳng
mũi đao vào tròng ung thư. Trong tinh thần vô úy ấy Người
đã thét giữa những con người bé nhỏ chúng ta chơn lí tối
hậu : hoát nhiên vô thánh.
Từ
huyền sử, Người trang nghiêm tô lại khung đời bằng nét
đạo tâm linh.
Sống
là đạo, ngoài ra không có đạo nào khác. Ðạo nào khác đều
tìm thánh mà bỏ phàm, đều ham ngộ mà ghét mê, đều bỏ
đời mà cầu đạo, đều tự trói buộc mình :
“Bất
dữ phàm chánh đồng triền
Siêu
nhiên danh chi viết tổ”
(Chẳng
cùng phàm thánh sánh vai
Vượt
lên mới gọi là tổ)
Cho
nên bất cứ phương diện nào của cuộc sống cũng là đạo.
Bắt nguồn tự vách núi Tung Sơn, đạo sống Thiền thấm nhuần
khắp giải đất Á Ðông, nung sanh lực cho mấy ngàn năm văn
hóa.
Cho
nên uống trà cũng là đạo, trà đạo : trà Thiền nhất vị.
Võ thuật cũng là đạo, nhu đạo : đạo lấy mềm thắng cứng.
Cắm hoa, viết chữ, bắn cung cũng là đạo : đạo luyện phép
vô tâm, để cho sự vật tự nó sắp xếp lấy một cách viên
mãn nhứt.
Cho
đến xách nước, bửa củi cũng là đạo :
Bửa
củi là diệu dụng
Xách
nước ấy thần thông
(Bàng
Uẩn)
Mà
rồi im lặng cũng là đạo nốt :
Ði
cũng Thiền, ngồi cũng Thiền
Nói
im động tịnh thảy an nhiên
(Huyền
Giác)
oOo
Sau
khi Tổ viên tịch, “vấn đề” giải thoát được nêu lên
với tất cả tinh thành của hàng đệ tử. Người ta tự hỏi
nhau : “Tổ truyền gì cho Huệ Khả ? Bí quyết của pháp Phật
là gì ? Huyết mạch của đạo Thiền là gì ? Thực chất của
giác ngộ là gì ? v.v...” Bao nhiêu là câu hỏì nóng
hổi đặt dài theo bước chân người cầu đạo suốt mười
lăm thế kỉ nay, và có thể đúc kết lại trong câu hỏi độc
đáo sau đây của phép tu Thiền :
“Như
hà thị Tổ Sư tây lai ý ?”
(ý
nghĩa tối yếu của việc Tổ Sư qua Tàu là gì ?)
Người
ta mang câu hỏi sống chết ấy đến gõ cửa các Thiền sư.
Ðáp lại tấc lòng tinh thành ấy, người ta nhận được những
câu trả lời quái dị như sau:
Sư
Hương Lâm nói : ngồi lâu thấm mệt ;
Sư
Cửu Phong nói : một tấc lông rùa nặng chín cân ;
Sư
Triệu Châu nói : cây bách ở trước sân, v.v...
oOo
Lối
nói ngược ngạo đó gọi là công án. Trong số 1700 công án
Thiền, riêng về câu hỏi trên chiếm đến trên trăm câu,
thế đủ biết Tổ Ðạt Ma luôn luôn có mặt ở khắp nẻo
Thiền. Nên một ông sư Phù Tang nói :
“Người
nào lấy hư không làm giấy, lấy sóng trùng dương làm mực,
lấy núi Tu Di làm bút, viết được năm chữ “Tổ Sư tây
lai ý” thì sãi tôi xin trải tấm tọa cụ ra mà đảnh lễ
dưới chân.”
oOo
Sở
dĩ vậy vì người nào hiểu được, chẳng hạn, câu nói “cây
bách ở trước sân” (đình tiền bách thọ tử) của Triệu
Châu là cùng một lúc hiểu tất cả câu nói khác, tất cả
đạo Thiền, tất cả pháp Phật. Một công án là một hột
bồ đề, xâu chung với vô số hột khác thành một chuỗi
bồ đề vô tận; cho nên đập bể một hột bồ đề là toàn
xâu cbuỗi bung ra; nắm được một công án là nắm trọn,
là thông suốt tâm Phật ý Tổ.
oOo
Tuy
nhiên, muốn hiểu được “ý nghĩa của Tổ Sư qua Tàu”
không phải suy luận mà được, mà cần phải sống chết với
nó, mang nó trong thịt da như Tôn Hành Giả mang cái niệt kim
cô quanh đầu. Khi Tôn vê tròn xong công quả thì cái niệt
đau khổ kia bỗng chốc hóa thành không; cũng vậy, khi người
tìm đạo “quán” được một công án thì công án ấy, cũng
như vô số công án khác, bỗng hóa thành vô nghĩa, thừa thải,
như một trò đùa rẻ tiền.
oOo
Dầu
vậy, suốt thời gian chưa quán được thì công án là một
mũi tên oan nghiệt bắn thẳng vào mạng sống, nhổ không ra
mà muốn chết quách cũng không chết được Ðó là tâm trạng
cùng quẫn, thai nghén cho biến cố ngộ đạo. Tâm trạng ấy
được ví như tâm trạng của người
leo
lên cây cao, miệng cắn vào một cành cây, hai tay buông thỏng
giữa hư không, hai chơn không vịn được vào đâu hết. Tình
cờ dưới gốc cây có người hỏi vọng lên : “ý của Tổ
Sư qua Tàu là gì ?”. Người trên cây không trả lời thì
không được mà trả lời thì rơi chết hốt xương.
(theo
vô môn quan)
Người
kể câu chuyện cổ quái trên đặt câu hỏi : Chính trong hoàn
cảnh ấy, chính người ấy, phải làm sao ?
oOo
“Phải
làm sao ?”
Ðó
là bí thuật của Thiền Ðông Ðộ, mà Đạt Ma là Sơ Tổ
: một linh thoại của muôn đời.
(Bài
này đăng trong Tư Tưởng ĐH Vạn Hạnh Số 2 & 3 – 1968)
Kinh
Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 04-2003
Down
Load " Word Document" (WinZip File 338 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân