VÔ THƯỜNG
VÀ BIẾN CHUYỂN
TRONG PHẨM
II TRUNG LUẬN: QUÁN KHỨ LAI
HỒNG
DƯƠNG
CHUYỂN
ĐỘNG VÀ THỜI GIAN.
Trong
Phẩm Hai: Quán Đi và Lại, nhằm giải thích một cách cụ
thể những biến chuyển không ngừng trong thế giới vô thường
theo lý duyên khởi, Trung luận đề cập vấn đề đi và đứng
yên phát sinh từ ba duyên tố trọng yếu: không gian chuyển
dịch (gantavya), chủ thể chuyển dịch (gantṛ), và động tác
chuyển dịch (gamāna). Trong Phẩm này, chữ đi (khứ) được
sử dụng để chỉ động tác chuyển dịch hay chuyển động
nói chung. Ngài Long Thọ đả phá cách phân tích và phát biểu
không hợp lý của đối phương đã thiên chấp sự đi và
đứng yên, hay chuyển động nói chung, và ba duyên tố cấu
thành là những sự vật hiện hữu độc lập riêng biệt,
có sẵn định tánh nơi bản thể.
Theo
lý duyên khởi, tất cả hiện tượng ấy đồng thời câu
khởi, hỗ tương giao thiệp không ngăn ngại nhau. Thật tướng
của chúng là vô tự tính, là Không. Cần hiểu rằng các duyên
tố cấu thành chỉ có công dụng trưng dẫn tính cách giả
hữu của hiện tượng chuyển động và miêu tả quá trình
chuyển động theo ngôn ngữ thông tục và qui ước cộng đồng.
Quá trình này chỉ là một mảnh cắt xén tùy tiện từ trong
mạng lưới nhân duyên sinh trùng trùng vô tận biểu tượng
thế giới vô thường, tuyệt nhiên không liên hệ với thực
tại khách quan.
Trên
quan điểm quan hệ hỗ tương dị thời, hết thảy sự tồn
tại tuy vô thường biến thiên nhưng không một sự vật nào
hoàn toàn đoạn diệt cả. Nghĩa là, nếu nhân duyên tức quan
hệ của nó còn tồn tại thời sự biến hóa của nó vẫn
tiếp tục mãi mãi. Điều này đã được đức Phật thường
xuyên thuyết minh dưới hình thức lý pháp sinh mệnh kế tục
dùng làm nền tảng của sự kế tục của thế giới. Lý pháp
này đóng một vai trò chủ yếu trong những quan hệ thành lập
thế giới.
Y theo
động tác và vị trí, thời gian chuyển dịch được phân
biệt có quá khứ, hiện tại, và vị lai. Trên phương diện
quan hệ dị thời, một đường thẳng biểu hiện thời gian
được chia làm hai bởi một điểm. Một phần chia tương ứng
với đoạn đường đã đi, gọi là X, phần kia với đoạn
đường chưa đi, gọi là Y, và điểm chia tương ứng với
điểm hiện đang đi, gọi là Đ. Thật ra, trên phương diện
luận lý, thời gian ở đây được quan niệm như không gian,
và được phân chia thành hai phần bổ sung nhau: A và phi A.
A là đoạn X đã đi và phi A là đoạn Y chưa đi. Vũ trụ ngôn
thuyết ở đây được hạn định trong đường thẳng biểu
hiện thời gian chuyển dịch tức tập hợp hội của hai phần
bổ sung X và Y mà thôi. Do đó không có điểm Đ nào là điểm
hiện đang đi ngoài các đoạn đã đi X và chưa đi Y.
Trên
quan điểm quan hệ hỗ tương đồng thời, “cái này có, cái
kia có; cái này không, cái kia không”, sự phân chia không gian
thành cái đã đi, cái chưa đi, và cái đang đi, sẽ không có
ý nghĩa nếu động tác chuyển dịch không được đề cập.
Ngược lại, sự mô tả động tác chuyển dịch cần đến
sự chia không gian thành ba cái, đã đi, chưa đi, và đang đi.
Ngoài hai duyên tố, không gian chuyển dịch và động tác chuyển
dịch, cũng cần thêm vào duyên tố thứ ba là chủ thể chuyển
dịch mới mong giải thích thông suốt động tác chuyển dịch,
và do đó mới quán triệt chuyển động đi và đứng yên,
tức là sự vận hành và đình trụ trong thế giới hiện tượng.
Chủ thể chuyển dịch có thể là người đi hay vật thể
chuyển động. Trong Phẩm này, bản chữ Hán, chữ “khứ giả”
được sử dụng để chỉ chủ thể chuyển dịch, và được
dịch ngắn gọn là “người đi”.
Trước
tiên, bài tụng đầu II.1 trình bày một dạng tứ cú không
trọn nhằm đả phá quan niệm triết học về chuyển động.
Bản
chữ Hán:
II.1.
Dĩ khứ vô hữu khứ/ Vị khứ diệc vô khứ/ Ly dĩ khứ vị
khứ/ Khứ thời diệc vô khứ.//
Dịch:
II.1. Cái đã đi không có đi/ Cái chưa đi cũng không đi/ Ngoài
cái đã đi và cái chưa đi/ Cái đang đi cũng không đi.//
Trong
bài tụng này, mệnh đề tôn “Đi trong không gian phải đi
qua” thiết lập quan hệ giữa động tác đi và không gian
phải đi qua. Tôn y sau, “không gian phải đi qua”, được
chia thành hai phần bổ sung: “cái đã đi” tức đoạn X và
“cái chưa đi” tức đoạn Y. Hội hai phần bổ sung này là
vũ trụ ngôn thuyết đối với bài tụng II.1. Nói như thế
có nghĩa là trong không gian phải đi qua, không còn có điểm
Đ nào phải đi ngoài X và Y. Vậy cái điểm Đ hiện đang bước
qua không có. Do đó, câu “Cái đang đi cũng không đi” được
chứng minh với lý do là điểm Đ, cái đang đi, không hiện
hữu.
Trên
phương diện luận lý hình thức, bài tụng này là một tứ
cú phủ định không trọn, thiếu thiên kiến thứ ba. Ba thiên
kiến, thứ nhất, thứ hai, và thứ tư, bị bác bỏ có thể
viết ra theo thứ tự là (1) X, cái đã đi (gata) không có động
tác đi, (2) Y, cái chưa đi (agata) không có động tác đi, và
(3) Đ, một điểm ngoài X và Y là cái đang đi (gamyamāna) không
có động tác đi với lý do là một điểm Đ như vậy không
thể có được vì X và Y hội lại đã biểu hiện toàn thể
không gian phải đi qua.
Điều
khó hiểu trong vấn đề chia không gian phải đi qua làm hai
đoạn, X, đoạn đã đi và Y, đoạn chưa đi, là tuy hai đoạn
này phân ly nhau, nhưng không có một điểm Đ biên giới nào
nằm trong không gian phải đi qua ở giữa hai đoạn ấy. Đó
là vì ta đã dùng ngôn ngữ, ở đây là toán ngữ, để mô
tả thực tại. Thật ra, không một đường thẳng hình học
nào khả dĩ biểu hiện chính xác và trung thực một không
gian vật lý. Thường nói đến đoạn đường thói quen quan
niệm nó có hai mút. Nhưng đường thẳng hình học thời không
có mút. Nó có mút chỉ khi nào ta quyết định chọn cho nó
một điểm để làm mút đó. Trái lại, ta có thể dùng chữ
“điểm” để chỉ hoặc là một vật thể toán học trừu
tượng không có kích thước, hoặc là một vị trí trong không
gian vật lý. Như vậy, nếu có một điểm Đ chia không gian
phải đi qua làm hai phần, X và Y, phân ly, thời tất nhiên
điểm Đ ấy không thể thuộc cả hai đoạn X và Y. Vì như
thế thời X và Y đâu còn phân ly nữa! Nhưng nếu bảo nó
là mút của X, thời tại sao không bảo nó là mút của Y? Cuối
cùng chỉ còn một cách là quan niệm một điểm biên giới
không chiếm cứ một không gian vật lý nào.
Cả
ba thiên kiến đều bị bác bỏ cho nên kết luận là động
tác đi không có. Thông thường, hiện tại được quan niệm
như là cái gì ở giữa hai thời quá khứ và vị lai, cho nên
cái chuyển động đang diễn ra, tạm gọi là chuyển động
trong hiện tại hay chuyển động tức thời, thường được
giải thích căn cứ vào đoạn đã đi và đoạn chưa đi. Nhưng
tứ cú II.1 đả phá triệt để lối giải thích ấy. Như vậy,
cần phải tìm hiểu chuyển động tức thời độc lập với
hai thời quá khứ và vị lai hầu tránh sự phủ định của
tứ cú II.1.
Trong
bài tụng II.2, đối phương đề nghị một cái đi độc lập
với điểm đang bước qua. Họ đồng ý rằng động tác chuyển
dịch không có trong cái đã đi cũng như trong cái chưa đi,
nhưng chủ trương động tác chuyển dịch có nơi cái điểm
hiện đang bước qua.
Bản
chữ Hán:
II.2.
Động xứ tắc hữu khứ/ Thử trung hữu khứ thời/ Phi dĩ
khứ vị khứ/ Thị cố khứ thời khứ.//
Dịch:
II.2. Nơi có động tác ắt có đi/ Động tác ấy có trong cái
đang đi/ Không có trong cái đã đi hay chưa đi/ Vậy nên cái
đang đi đi.//
Ngài
Long Thọ bác bỏ quan điểm ấy trong hai bài tụng II.3-4 bằng
phép hệ quả phi lý (reductio ad absurdum; phép phản chứng).
Bản
chữ Hán:
II.3.
Vân hà ư khứ thời/ Nhi đương hữu khứ pháp/ Nhược ly ư
khứ pháp/ Khứ thời bất khả đắc.//
II.4.
Nhược ngôn khứ thời khứ/ Thị nhơn tắc hữu cữu/ Ly khứ
hữu khứ thời/ Khứ thời độc khứ cố.//
Dịch:
II.3.
Làm thế nào cái đang đi/ Mà có cái đi?/ Nếu lìa khỏi cái
đi/ Cái đang đi không thể được.//
II.4.
Nếu nói cái đang đi đi/ Thời kẻ đó sai lầm/ Lìa khỏi
cái đi có cái đang đi/ Nên cái đang đi riêng đi.//
Theo
ngài Long Thọ, khi đối phương nói “cái đang đi đi” thời
đối phương đã tiên quyết rằng có một thật thể thứ
nhất là điểm đang bước qua tức cái đang đi, nơi đó đang
có tác dụng của động tác đi tức cái đi, một thật thể
riêng biệt thứ hai. Nghĩa là, câu nói “cái đang đi đi”
đúng chỉ khi nào có hai thật thể riêng biệt như thế. Trái
ngược lại, theo quan điểm quan hệ hỗ tương đồng thời,
thời cái đang đi hiện khởi đồng thời với động tác đi,
không có điểm đang bước qua nào hiện hữu riêng biệt với
động tác đi: cái này có, cái kia có; cái này không, cái kia
không. Ngài áp dụng phương pháp phản chứng, từ chủ trương
của đối phương là “có cái đi trong cái đang đi”, suy
ra hệ quả “có hai thật thể cố định riêng biệt là điểm
đang bước qua tức cái đang đi và động tác đi” để sau
đó chứng minh rằng hệ quả ấy phi lý, nghĩa là chủ trương
của đối phương không đúng.
Trong
II.3, ngài Long Thọ chỉ trích quan điểm của đối phương
theo đó động tác đi vừa là đặc tính của cái đang đi,
vừa độc lập riêng biệt với cái đang đi. Quan điểm ấy
dẫn đến hệ quả phi lý là cái đang đi dẫu tách riêng với
cái đi, mà vẫn có động tác đi trong đó!
Theo
II.4, nếu nghĩ rằng động tác đi có thật thể cố định,
tự nó hiện hữu độc lập tách biệt đối với mọi pháp
khác, thời khi tách ra khỏi cái đang đi vì có tự tính nên
động tác đi có thể tiếp tục đi hay đứng yên [Trong toán
học, đứng yên có nghĩa là đi với tốc độ triệt tiêu].
Phía kia, cái đang đi, tức cái điểm đang bước qua, thật
thể cố định thứ hai, lẽ ra không còn đi nữa vì động
tác đi đã lìa khỏi nó. Thế mà cái (thật thể cố định)
đang đi cứ riêng đi, do cái đi là đặc tính của nó!
Nói
cho đúng, động tác đi tức chuyển động, nếu có, thời
đáng lý nó phải ở trong chủ thể đi, tức người đi hay
vật thể chuyển động, chứ không ở trong cái đang đi tức
cái điểm đang bước qua. Nếu cái đi là đặc tính của chủ
thể đi, thời vẫn không thể căn cứ vào nó mà phân biệt
được cái điểm đang bước qua. Ngoài ra, động tác đi không
thể đồng thời là đặc tính của chủ thể đi và của cái
điểm đang bước qua, vì như thế, chủ thể đi và cái điểm
đang bước qua là một. Đó là điều phi lý. Bài tụng II.5
phân tích ý nghĩa câu “cái đang đi có đi” để nhận xét
rằng có hai cái đi.
Bản
chữ Hán:
II.5.
Nhược khứ thời hữu khứ/ Tắc hữu nhị chủng khứ/ Nhất
vị vi khứ thời/ Nhị vị khứ thời khứ.//
Dịch:
II.5. Nếu cái đang đi có đi/ Ắt có hai cái đi/ Một cái làm
cái đang đi/ Hai là cái mà cái đang đi đi.//
CHỦ
THỂ VÀ CHUYỂN ĐỘNG.
Bài
tụng tiếp theo, II.6, nói rằng nếu có hai cái đi tất phải
có hai chủ thể đi khác nhau.
Bản
chữ Hán:
II.6.
Nhược hữu nhị khứ pháp/ Tắc hữu nhị khứ giả/ Dĩ ly
ư khứ giả/ Khứ pháp bất khả đắc.//
Dịch:
II.6. Nếu có hai cái đi/ Ắt có hai người đi/ Vì lìa khỏi
người đi/ Cái đi không thể được.//
Ngài
Long Thọ chỉ cho thấy rằng quan điểm nhận thức động tác
đi là đặc tính của cái điểm đang bước qua dẫn đến
hệ quả tất yếu là có hai cái đi với hai chủ thể đi riêng
biệt. Luận chứng diễn ra như sau.
Nếu
cái đi là đặc tính của cái đang đi, thời cả hai, cái đi
và cái đang đi, đều đi. Nói như vậy có nghĩa là có hai
cái đi riêng biệt. Vì sao? Vì đối phương chủ trương cái
đi có thật thể cố định, tự nó hiện hữu độc lập,
cho nên nó có thể đứng yên, hay đi thật mau, bỏ cách xa
cái đang đi. Vậy đây là một cái đi khác với cái đi đặc
tính của cái đang đi. Do đó, có hai cái đi. Một là cái đi
ở trong cái đang di, tức là đặc tính của cái đang đi, và
hai là cái đi độc lập riêng biệt với cái đang đi.
Với
hai cái đi riêng biệt tất phải có hai chủ thể đi riêng
biệt. Vì nếu chỉ có một chủ thể mà đi hai cái đi như
thế thời người đi hay vật thể chuyển động đồng nhất
với cái đang đi, đó là điều phi lý. Tóm lại, những cố
gắng giải thích động tác đi của một người đang bước
qua một điểm bằng vào quan niệm cái đi và cái đang đi là
hai thật thể riêng biệt, cái nào có yếu tính quyết định
riêng của cái ấy, đã nhân lên số cái đi và số người
đi thành hai động tác đi với hai người đi! Đó là một
hệ quả phi lý mà đối phương không chấp nhận được mặc
dầu hệ quả ấy xuất xứ từ chính họ quan niệm mọi hữu
đều có tự tính.
Qua
những bài tụng trên, rõ ràng không có điểm nào trong không
gian phải đi qua được bước qua. Sự phân chia không gian thành
cái đã đi, cái chưa đi, và cái đang đi có tính cách hoàn
toàn tương đối, giả danh, không thật có. Không hiện hữu
một yếu tính quyết định nào có thể căn cứ vào đó mà
ngăn cách một không gian riêng biệt và phân biệt nó với
những không gian khác.
Bài
tụng II.7 đặt trọng tâm vào sự quan hệ giữa chủ thể
đi và cái đi.
Bản
chữ Hán:
II.7.
Nhược ly ư khứ giả/ Khứ pháp bất khả đắc/ Dĩ vô khứ
pháp cố/ Hà đắc hữu khứ giả.//
Dịch:
II.7. Nếu lìa khỏi người đi/ Cái đi không thể được/ Vì
không cái đi cho nên/ Làm sao có người đi?//
Động
tác và chủ thể đồng thời câu sanh, không thể có cái này
mà không có cái kia và ngược lại. Bởi vậy, chúng không
có tự tính, vì nếu có tức là chúng tự hữu riêng biệt
không nương vào nhau mà hiện khởi và tồn tại. Bài tụng
II.8 có một cấu trúc tứ cú phủ định không trọn giống
như bài tụng II.1.
Bản
chữ Hán:
II.8.
Khứ giả tắc bất khứ/ Bất khứ giả bất khứ/ Ly khứ
bất khứ giả/ Vô đệ tam khứ giả.//
Dịch:
II.8. Người đi ắt chẳng đi/ Người không đi chẳng đi/ Ngoài
người đi và người không đi/ Không có người đi thứ ba.//
Trong
hai câu đầu, mệnh đề tôn “Người đi đi” thành lập
quan hệ giữa chủ thể đi và động tác đi. Chủ thể đi
là tôn y trước được chia thành hai phần bổ sung là người
đi (gantr) và người không đi (agantṛ), tương ứng với hai
thiên kiến đầu của tứ cú là người đi chẳng đi và người
không đi chẳng đi.
Hai
câu cuối được giải thích theo hai cách khác nhau. Thông thường,
chúng được xem là lời phát biểu thiên kiến thứ tư: kẻ
nào không phải người đi không phải người không đi chẳng
đi. Phật Hộ (Buddhapālita), ngược lại, giải thích hai câu
sau là lời phát biểu thiên kiến thứ ba: kẻ nào cả vừa
người đi vừa người không đi chẳng đi.
Theo
luận thức tứ cú của II.8, muốn biết mệnh đề “Người
đi đi” có đúng hay không, thời phải xét thử hai câu, “người
đi đi” và “người không đi đi”, có đúng hay không. Riêng
đối với câu thứ nhất, “người đi đi”, sự phân tích
dẫn đến điều kiện đúng là phải có hai thật thể cố
định độc lập riêng biệt, “chủ thể đi” và “động
tác đi”. Luận chứng diễn ra trong các bài tụng II.9-11, áp
dụng cùng một phép lý luận như đã trình bày trước đây
trong các bài tụng II.3-5 đối với trường hợp câu “cái
đang đi đi”. Cuối cùng kết luận là “người đi ắt chẳng
đi”.
Đối
với câu thứ hai, “người không đi đi”, thời kết luận
“người không đi chẳng đi” là điều quá hiển nhiên. Ngoài
hai trường hợp ấy, không thể nào có chủ thể chẳng đi
thứ ba cả vừa người đi vừa người không đi, hay không
phải người đi không phải người không đi.
Bản
chữ Hán:
II.9.
Nhược ngôn khứ giả khứ/ Vân hà hữu thử nghĩa/ Nhược
ly ư khứ pháp/ Khứ giả bất khả đắc.//
II.10.
Nhược khứ giả hữu khứ/ Tắc hữu nhị chủng khứ/ Nhất
vị khứ giả khứ/ Nhị vị khứ pháp khứ.//
II.11.
Nhược vị khứ giả khứ/ Thị nhơn tắc hữu cữu/ Ly khứ
hữu khứ giả/ Thuyết khứ giả hữu khứ.//
Dịch:
II.9.
Nếu nói người đi đi/ Làm sao có nghĩa ấy?/ Nếu lìa khỏi
cái đi/ Người đi không thể được.//
II.10.
Nếu người đi có đi/ Ắt có hai cái đi/ Một là người đi
đi/ Hai là cái đi đi.//
II.11.
Nếu bảo người đi đi/ Thời kẻ đó lầm lẫn/ Lìa khỏi
cái đi có người đi/ Nói rằng người đi có đi.//
Đối
phương quan niệm động tác đi (cái đi) là một thật thể
có tự tính, vừa là đặc tính của “người đi”, vừa
độc lập riêng biệt với “người đi”. Không thể nói
“người không đi đi”, vì nói như thế là phạm lỗi đối
với luật phi mâu thuẫn. Nhưng nếu nói “người đi đi”
thời hỏi có hợp lý hay không?
Câu
“người đi đi” đúng chỉ khi nào phân biệt được hai
thật thể có yếu tính quyết định, người đi và cái đi.
Vấn đề thiết lập quan hệ “chủ thể - động tác” giữa
hai thật thể có tự tính, người đi và cái đi, là một mặt
phải phân biệt hai thật thể độc lập, người đi và cái
đi, và mặt khác, phải tìm cách đồng nhất hai thật thể
riêng biệt ấy mới có thể nối kết chúng với nhau. Có hai
trường hợp: (1) tách riêng cái đi, người đi tự nó không
đi, và (2) người đi đi là do ghép động tác “đi” với
chủ thể mệnh đề là “người đi”.
Trường
hợp thứ nhất, “người đi không đi”, xét ra thật kỳ
quặc vì tuy gọi là người đi mà lại không đi. Trong trường
hợp thứ hai, “người đi đi”, ta thấy có hai cái đi, cái
đi đặc tính do nó mà có tên gọi là “người đi”, và
cái đi độc lập riêng biệt với người đi ấy. Hệ quả
của sự phân biệt hai thật thể có tự tính, người đi và
cái đi, là phải chấp nhận có hai cái đi, và do đó phải
chấp nhận có hai người đi: người đi do tên gọi vì sẵn
có đặc tính cái đi và người đi chủ thể mệnh đề được
ghép động tác đi. Đó là điều phi lý. Kết luận: “Người
đi chẳng đi”. Nói theo quan hệ hỗ tương đồng thời, chuyển
động và chủ thể chuyển động đồng thời nương vào nhau
mà hiện khởi, chứ không tự hữu độc lập riêng biệt.
Không chuyển động thời không có chủ thể chuyển động
và ngược lại.
Trong
thực tế, bảo rằng “Người đi ắt chẳng đi” và “Người
không đi chẳng đi” là có ý muốn nói cái gì? Đó là muốn
nói rằng không có chủ thể nào thực hiện động tác đi.
Bằng cách phát biểu như vậy, ngài Long Thọ bác bỏ câu “người
đi đi”, hay nói rộng ra, Ngài phủ định hết thảy mọi
chuyển động.
Đối
phương nói có động tác trong cái đang đi. Thử hỏi động
tác ấy khởi phát từ đâu và vào lúc nào? Câu hỏi này được
giải đáp trong các bài tụng II.12-14.
Bản
chữ Hán:
II.12.
Dĩ khứ trung vô phát/ Vị khứ trung vô phát/ Khứ thời trung
vô phát/ Hà xứ đương hữu phát.//
II.13.
Vị phát vô khứ thời/ Diệc vô hữu dĩ khứ/ Thị nhị ưng
hữu phát/ Vị khứ hà hữu phát.//
II.14.
Vô khứ vô vị khứ/ Diệc phục vô khứ thời/ Nhất thiết
vô hữu phát/ Hà cố nhi phân biệt.//
Dịch:
II.12.
Không khởi đi trong cái đã đi/ Không khởi đi trong cái chưa
đi/ Không khởi đi trong cái đang đi/ Vậy khởi đi ở chỗ
nào?//
II.13.
Chưa khởi đi thời không cái đang đi/ Cũng không có cái đã
đi/ Hai cái đó lẽ ra có khởi đi/ Cái chưa đi làm sao có
khởi đi?//
II.14.
Chẳng đi chẳng chưa đi/ Cũng chẳng đang đi/ Tất cả không
có khởi đi/ Cớ gì mà phân biệt?//
Đã
đành cái đi không phát khởi từ trong cái đã đi hay từ trong
cái chưa đi, nhưng còn cái đang đi thời phi hữu như đã trình
bày ở phần trên, vậy làm sao phát khởi từ đó?
Kết
luận: Cái đi không có chỗ phát khởi. Thế thời người đi
khởi đi từ lúc nào? Trước khi khởi đi, thời làm gì phân
biệt được thời quá khứ hay thời hiện tại. Và làm sao
có thể bảo cái đi phát khởi trong thời vị lai? Đối phương
tưởng rằng thật có ba thời, quá khứ, hiện tại, và vị
lai, là những thật thể có yếu tính quyết định tương ứng
với ba không gian có tự tính, cái đã đi, cái đang đi, và
cái chưa đi. Thật ra, không có chuyển động thời không làm
sao phân biệt được ba thời và ba không gian tương ứng như
vậy. Đó là ý nghĩa bài tụng II.14.
Ngược
lại, không phân biệt ba thời và ba không gian tương ứng thời
không làm sao thông hiểu nổi chuyển động. Giải thích kiểu
chạy vòng quanh như vậy là do quá trình suy luận và phát biểu
bằng ngôn ngữ thông thường căn cứ trên sự quan sát và
phân tích theo lối nhị biên, chủ đối với khách, tự đối
với tha, nhân đối với quả, v..v... Theo Duy thức, chuyển
động, chủ thể chuyển động, ba thời và ba không gian tương
ứng, tất cả đều nương vào sự chuyển biến của thức
mà giả thi thiết. Bởi thế tất cả đều vô tự tính. Theo
tục đế, chúng hiện khởi do duyên sinh. Theo Chân đế, chúng
là Không.
Đến
đây xin mở dấu ngoặc để đưa ra một thí dụ phủ định
chuyển động trong logic Aristotle. Đó là nghịch lý “Mũi tên
bay” của Zeno. Zeno là môn đệ của triết gia Parmenides, cả
hai thuộc nhóm công dân Hy lạp di cư ở Elea, miền nam nước
Ý, vào khoảng thế kỷ thứ năm trước Công nguyên. Theo Plato
kể lại, trong một dịp gặp triết gia Socrates ở Athens với
sự có mặt của Zeno, nhà tư tưởng lão thành 65 tuổi Parmenides
gây kinh hãi khi đưa ra kiến giải về một thực tại nhất
thể không biến chuyển, không sai biệt, xác quyết không có
chuyển động, và phản bác đa sổ (plurality), nghĩa là không
chấp nhận có nhiều, mà chỉ có một. Zeno dựng lên nhiều
nghịch lý (paradoxes) để biện minh chủ trương triết học
của sư phụ, trong số đó nghịch lý “Mũi tên bay” đưa
ra những lý lẽ vì sao chuyển động không thể được.
Thế
nào là nghịch lý? Là một kết luận (đoán án) trái với
tri thức thường nghiệm suy ra từ những tiền đề tưởng
là hợp lý bằng những chứng lý tưởng là xác thực. Vấn
đề ở đây là phải quyết định chọn một kiến giải,
hoặc là không chấp nhận kết luận sai lầm, hoặc là xét
thấy lý luận không đúng qui tắc, hoặc là nhận biết khuyết
điểm trong tiền đề.
Nghịch
lý thứ nhất của “Mũi tên bay” được suy diễn như thế
này. Đối với trí phân biệt và so sánh, ta có thể chia nhỏ
dần vô hạn đoạn đường từ khởi điểm đến mục tiêu
mãi mãi không ngưng, bắt đầu chia nó thành hai, rồi đem phần
nửa bên phía khởi điểm chia thành hai, v.v... Trước khi mũi
tên đạt đến vị trí ở chặng giữa đường đến mục
tiêu, thời nó phải bay qua một phần tư đường đến mục
tiêu. Tiếp diễn luận chứng như thế sẽ tạo thành một
chuỗi lý luận nghịch suy vô hạn đưa đến kết luận là
chuyển động không bao giờ phát khởi được.
Nghịch
lý thứ hai của “Mũi tên bay” được suy diễn từ quán
sát như sau. Vào một thời điểm nào đó trên đường bay,
quán sát mũi tên chiếm một khoảng không gian bằng chiều
dài của nó và không thấy có chuyển động. Tại vì những
gì quán sát vào một thời điểm bất kỳ luôn luôn vẫn quán
sát thấy như vậy ở vào bất cứ thời điểm nào khác trên
đường bay, cho nên kết luận rằng mũi tên chưa bao giờ bay.
Tuy
Aristotle suy tôn Zeno như là người phát minh luận pháp biện
chứng, nhưng kỳ thật qua những nghịch lý vừa kể, Zeno không
hề sử dụng biện chứng pháp. Zeno chỉ phủ định thiên
kiến chuyển động mà không đả động thiên kiến đối nghịch
là đứng yên. Là một biện chứng gia đúng danh nghĩa, ngài
Long Thọ đả phá cả hai thiên kiến, chuyển động và đứng
yên. Hãy đọc xem ba bài tụng II.15-17 bác bỏ khái niệm đứng
yên.
Bản
chữ Hán:
II.15.
Khứ giả tắc bất trụ/ Bất khứ giả bất trụ/ Ly khứ
bất khứ giả/ Hà hữu đệ tam trụ.//
II.16.
Khứ giả nhược đương trụ/ Vân hà hữu thử nghĩa/ Nhược
đương ly ư khứ/ Khứ giả bất khả đắc.//
II.17.
Khứ vị khứ vô trụ/ Khứ thời diệc vô trụ/ Sở hữu hành
chỉ pháp/ Giai đồng ư khứ nghĩa.//
Dịch:
II.15.
Người đi ắt chẳng đứng yên/ Người không đi chẳng đứng
yên/ Ngoài người đi và người không đi/ Đâu có người thứ
ba đứng yên?//
II.16.
Người đi nếu đứng yên/ Làm sao có nghĩa ấy?/ Nếu lìa
khỏi cái đi/ Người đi không thể được.//
II.17.
Đã đi hay chưa đi không đứng yên/ Đang đi cũng không đứng
yên/ Sự vận hành và đình chỉ/ Đều đồng nghĩa với cái
đi.//
Theo
đúng biện chứng pháp, đã phủ định động tác chuyển dịch
thời tất nhiên phải phủ định động tác đối đãi “đứng
yên”. Vậy phải phủ định các duyên tố trọng yếu khác
của chuyển động như chủ thể di chuyển và không gian chuyển
dịch giống như trường hợp phủ định chuyển động trước
đây. Bài tụng II.15 bảo rằng “người đi ắt chẳng đứng
yên”, điều này dễ hiểu. Nhưng tại sao người không đi
cũng chẳng đứng yên? Bởi tại người không đi đã ở trong
trạng thái tĩnh chỉ rồi thời đâu có động tác đứng yên
nữa. Ngoài người đi và người không đi, không thể có chủ
thể đứng yên thứ ba cả vừa người đi vừa người không
đi, hay không phải người đi không phải người không đi.
Trong
bài tụng II.16, hỏi “làm sao có nghĩa ấy?” là muốn nêu
lên sự kiện mâu thuẫn quá hiển nhiên trong câu “người
đi nếu đứng yên”, vì với động tác đứng yên tức là
lìa khỏi động tác di chuyển thời người đi không thể được.
Khi một người hay sự vật đứng yên đương nhiên nó không
phải chủ thể di chuyển.
Thường
động tác có thể ngừng lại cho nên tưởng rằng có thể
có động tác đứng yên. Như nói người đi dừng lại, dừng
lại tức đứng yên phát khởi, vì dừng lại đối nghịch
với chuyển dịch. Theo bài tụng II.17, không thể lý luận
như vậy được, vì người đi dừng lại từ khi nào? Nó dừng
lại từ trong cái đã đi, cái chưa đi, hay cái đang đi? Động
tác dừng lại bị bác bỏ trong cả ba thời và ba không gian
tương ứng. Lý do: Như đã trình bày trên đây không có chuyển
động trong ba thời và ba không gian tương ứng, thời làm sao
có sự dừng lại của chuyển động?
Tóm
lại, cả sự vận hành (động tác chuyển dịch) lẫn sự
đình chỉ (động tác đứng yên) đều bị phủ định, và
theo ý nghĩa phủ định ấy, chuyển động nói chung bị bác
bỏ. Đó là do cái chỗ đều không của các pháp, cái giác
tánh bản nguyên của chúng sinh. Luận Đại thừa khởi tín
giải thích tâm chúng sinh ấy là pháp Đại thừa. Đi và đến
(khứ lai) được ví với mê và ngộ cái tâm không tịch của
chúng sinh: “Mê nhất tâm đến sáu thú, ấy là đi, là động.
Ngộ pháp giới trở về nhất tâm, ấy là đến, là tịnh”
(Tu tâm quyết. Thiền sư Phổ Chiếu). Nói theo Luận Đại thừa
khởi tín, pháp hành chỉ là tâm sanh diệt của tâm chúng sinh.
Biến dịch sanh tử, gồm có hai phần. Một phần tương ưng
với "hành" có nghĩa là thiên lưu, thuận dòng vô minh gọi
là lưu chuyển, sanh ra các pháp sanh tử tạp nhiễm (bất biến
tùy duyên). Phần kia tương ưng với "chỉ" có nghĩa là hoàn
tịnh, do nơi pháp tạp nhiễm lưu chuyển mà trở lại thanh
tịnh (tùy duyên bất biến) tùy theo trình độ của người,
hoặc mau hoặc chậm không đồng.
KHÔNG
MỘT KHÔNG KHÁC.
Trong
các bài tụng II.18-21, một phương pháp khác được áp dụng
để phủ định chuyển động. Đoạn này đề cập quan hệ
giữa chủ thể chuyển dịch và động tác chuyển dịch.
Bản
chữ Hán:
II.18.
Khứ pháp tức khứ giả/ Thị sự tắc bất nhiên/ Khứ pháp
dị khứ giả/ Thị sự diệc bất nhiên.//
Dịch:
II.18. Cái đi đồng nhất người đi/ Sự này ắt không đúng/
Cái đi sai khác người đi/ Sự này ắt cũng không đúng.//
Tứ
cú lần này là do sự phân chia mối quan hệ giữa hai tôn y
là người đi và cái đi thành hai quan hệ bổ sung, quan hệ
đồng nhất và quan hệ sai khác. Dụng ý là y cứ vào tính
phi nhất phi dị của hai tôn y mà chứng minh rằng cả hai đều
Không, nghĩa là chủ thể chuyển dịch và động tác chuyển
dịch đều không phải là thật thể cố định, có tự tính,
và tự hữu độc lập riêng biệt. Hai bài tụng II.19-20 giải
thích tính phi nhất phi dị đó.
Bản
chữ Hán:
II.19.
Nhược vị ư khứ pháp/ Tức vi thị khứ giả/ Tác giả cập
tác nghiệp/ Thị sự tắc vi nhất.//
II.20.
Nhược vị ư khứ pháp/ Hữu dị ư khứ giả/ Ly khứ giả
hữu khứ/ Ly khứ hữu khứ giả.//
Dịch:
II.19.
Nếu cái đi/ Là một với người đi/ Kẻ tạo nghiệp và sự
tạo nghiệp/ Ắt chỉ là một.//
II.20.
Nếu cái đi/ Sai khác người đi/ Lìa khỏi người đi vẫn
có cái đi/ Lìa khỏi cái đi vẫn có người đi.//
Cái
đi và người đi không thể là một vì không thể nói động
tác là người tác động. Cũng không thể nói cái đi và người
đi là hai thật thể riêng biệt vì nói như thế có nghĩa là
đi mà không có ai đi cả, hay có người đi mà chẳng chuyển
dịch. Kết luận được nêu lên trong bài tụng II.21.
Bản
chữ Hán:
II.21.
Khứ khứ giả thị nhị/ Nhược nhất dị pháp thành/ Nhị
môn câu bất thành/ Vân hà đương hữu thành.//
Dịch:
II.21. Cái đi và người đi là hai/ Nếu pháp một khác thành/
Thời cả hai bên đều không thành/ Làm sao sẽ có cái thành?//
Ý
bài tụng II.21 muốn nói rằng “Nếu hai thật thể cố định
hiện hữu mà không đồng nhất không sai khác, thời làm sao
chúng có thể hiện hữu được?” Do đó, cả hai, chủ thể
chuyển dịch và động tác chuyển dịch, đều bị phủ định.
Theo
bài tụng II.22, có thể nói người đi tùy thuộc cái đi, do
cái đi mà biết người đi. Tuy nhiên, nếu phân biệt người
đi độc lập riêng biệt cái đi, thời đương nhiên có một
thật thể là chủ thể động tác đi, và cái thật thể đó
phải có trước cái đi. Nhưng một thật thể người đi không
thể có trước khi có cái đi. Vì không có thật thể người
đi độc lập và trước khi có động tác đi, nên mới bảo:
“Người đi không dùng cái đi ấy”.
Bản
chữ Hán:
II.22.
Nhân khứ tri khứ giả/ Bất năng dụng thị khứ/ Tiên vô
hữu khứ pháp/ Cố vô khứ giả khứ.//
Dịch:
II.22. Nhân cái đi biết người đi/ Không dùng cái đi ấy/
Trước không có cái đi/ Nên không người đi đi.//
Theo
trên, sự phân biệt người đi độc lập riêng biệt cái đi
dẫn đến hệ quả tất yếu là có hai cái đi, và do đó có
hai người đi. Trong thực tế, điều ấy không xảy ra. Sự
thật là chỉ có một chủ thể chuyển dịch mà thôi. Bài
tụng II.23 nói rằng tuy người đi tùy thuộc cái đi, nhưng
người đi không sử dụng cái đi nào khác ngoài cái đi đặc
tính có sẵn và do đó nó được gọi là người đi. Vì ngoài
cái đi đặc tính ấy, không thể có cái đi thứ hai khác biệt
trong cùng một người đi.
Bản
chữ Hán:
II.23.
Nhân khứ tri khứ giả/ Bất năng dụng dị khứ/ Ư nhất khứ
giả trung/ Bất đắc nhị khứ cố.//
Dịch:
II.23. Nhân cái đi biết người đi/ Không dùng cái đi khác/
Vì ở trong một người đi/ Nên hai cái đi không thể được.//
KẾT
LUẬN.
Hai
bài tụng cuối II.24-25 kết thúc Phẩm II: Quán Đi và Lại
như sau.
Bản
chữ Hán:
II.24.
Quyết định hữu khứ giả/ Bất năng dụng tam khứ/ Bất
quyết định khứ giả/ Diệc bất dụng tam khứ.//
II.25.
Khứ pháp định bất định/ Khứ giả bất dụng tam/ Thị
cố khứ khứ giả/ Sở khứ xứ giai vô.//
Dịch:
II.24.
Người đi thật có/ Không dùng ba cái đi/ Người đi không
thật có/ Cũng không dùng ba cái đi.//
II.25.
Cái đi thật có hay không thật có/ Người đi không dùng ba
cái/ Vậy nên cái đi, người đi,/ Và chỗ đi đều không.//
Các
chữ “thật có” và “không thật có” là dịch từ chữ
“quyết định hữu” và “bất quyết định”. “Thật
có” là hữu có yếu tính quyết định, tự hữu, độc lập
riêng biệt. “Không thật có” là phi hữu, hoàn toàn không
có, ngay cả giả hữu tức có một cách tương đối và vọng
hữu tức có do biến kế chấp cũng đều không có.
Theo
lời chú giải của Thanh Mục (Pingala), ba duyên tố của chuyển
động được nêu ra trong bài tụng II.24 và hai câu đầu bài
tụng II.25 là: người đi, động tác đi, và không gian phải
đi. “Người đi” được chia thành ba loại: thật có, không
thật có, thật có và không thật có. “Không gian phải đi”
được chia thành cái đã đi, cái chưa đi, và cái đang đi.
Hai bài tụng cuối Phẩm xác quyết rằng trong mọi trường
hợp, dẫu người đi và cái đi thật có, hay không thật có,
hay thật có và không thật có, người đi không đi cái đã
đi, cái chưa đi, hay cái đang đi. Như vậy có nghĩa là người
đi, động tác đi, và không gian phải đi, ba duyên tố được
đối phương quan niệm như là những thật thể có tự tính
và độc lập riêng biệt, tất cả đều bị phủ định. Điều
này dẫn đến kết luận: theo tục đế, chuyển động là
do duyên sinh; trên phương diện Chân đế, chuyển động là
Không, là không có thật.
Trong
Phẩm II này, Trung luận dựa vào ba phương pháp phủ định
để đả phá chủ trương mọi hữu đều có tự tính. Phương
pháp thứ nhất sử dụng một điểm chia không có kích thước
để chia các thật thể tồn tại với thời gian thành hai phần
bổ sung như chia đường thẳng biểu tượng thời gian thành
hai đoạn phân ly (II.1). Phương pháp phủ định thứ hai là
phương pháp hệ quả phi lý suy diễn từ sự chấp ngã chấp
pháp (II.3-5 và II.9-11). Phương pháp thứ ba y cứ trên tính
phi nhất phi dị (II.18-21). Ba phương pháp này thường xuyên
được áp dụng trong 27 phẩm Trung luận để trưng dẫn tánh
Không của vạn pháp. ❏
H.D.