Thế Nào
Là Kinh Điển Ngụy Tạo Trong Phật Giáo?
Thích
Lệ Thọ
Gần
đây chúng tôi ghi nhận một số Học giả và Giảng sư cho
rằng, kinh điển sau thời đức Phật được các vị Thánh
đệ tử chuyển tải ngôn ngữ xa xưa thành ngôn ngữ đương
thời từ những bản kinh “gốc” hoặc phóng tác, trước
tác…là kinh điển ngụy tạo!
Các
học giả Tây phương quan niệm hệ thống giáo lý Phật
giáo từ các bản Pali, Sanskrit là kinh “gốc” và kinh sau
thời đức Phật là kinh phát triển để dễ dàng cho việc
trích dẫn trong công tác so sách, nghiên cứu…đó là công
việc bắt buộc cho những ai khi bước vào con đường học
vấn. Đối với ngôn ngữ của Anh hay Mỹ thì thường dùng
từ “Apocrypha” để chỉ cho các văn bản không phải là
bản gốc, nên chung ta phải hiểu là: “kinh sau thời đức
Phật”, “kinh phát triển” “Tân kinh”…chứ không hề
áp đặt nghĩa xấu khi được chuyển tải qua tiếng Việt
thành từ ngụy tạo! Mang nghĩa: “ kinh xảo trá” “kinh lường
gạt” “kinh sai sự thật” “kinh ngụy biện”…Tiếng
việt chúng ta được kết hợp với tiếng Trung Quốc, nên
đời sống thường nhật chúng ta đã dùng khoảng 30% là âm
Hán-Việt. Vì thế từ ngữ hết sức là đa dạng, nên khi
diễn dịch phải thận trọng, để tránh nhằm lẫn giữa nghĩa
“đen” và nghĩa “bóng”. Mọi lĩnh vực đều có “tự
điển” riêng để diễn đạt đúng nghĩa theo lĩnh vực của
mình, nhưng Phật giáo Việt Nam lại chưa có một quyển “Đạo
Phật Tự Điển Anh-Việt” nên phải vay mượn từ những
quyển tự điển thông dụng, cho nên khi tra từ “Apocrypha”
vào hầu hết các quyển Anh-Việt tự điển thông dụng thì
chỉ có nghĩa “kinh ngụy tác”. Dựa trên nghĩa này,
một ít Học giả, Giảng sư mạnh dạn phán một câu “xanh
rờn” kinh điển ngụy tạo! Nói như thế, có nghĩa là chúng
ta đã đánh đổ toàn bộ hệ thống giáo lý Đại Thừa, vì
được kiết tập sau khi đức Phật nhập Vô-dư-y Niết Bàn
khoảng 200 năm, thậm chí như quyển kinh Vu
Lan
Báo Hiếu, mới ra đời khoảng 150 năm trở lại đây. Nhưng
đâu có một ai dám cho bản kinh đó là không có giá trị!
Hệ thống giáo lý Phật giáo thuở ban đầu giống như một
cội cây chưa phát triển nhiều cành và lá, vì vào thời điểm
của đức Phật, Ngài tập trung nhiều cho Tăng đoàn. Nhưng
mãi về sau, hoàn cảnh xã hội phát triển, nhận thức về
nội tâm cũng khác nên môi trường “Bình bát cơm nghìn nhà,
thân chơi muôn dặm xa” là không thể thích nghi. Đồng thời,
phật tử cũng không còn thời gian nhiều để gần gũi Tăng
Ni học đạo, nên nhu cầu thay đổi ngôn ngữ vào thời của
đức Phật cho phù hợp với nhận thức mới, là việc làm
ắt có và đủ! Chứ không thể để giáo lý “sinh động”
thực tiển giúp cho cuộc sống hết khổ đau và đạt được
hạnh phúc, phải nằm bất động như những tài sản quí báu
trong các viện bảo tàng! Giáo lý giải thoát của đức
Phật
còn được xem như là một thang thuốc có tám muôn bốn ngàn
vị, để đối trị lại tám muôn bốn ngàn bệnh: “mừng,
giận, thương, sợ, yêu, ghét và muốn….” của chúng sinh,
nên toàn bộ kinh điển là không có một chữ một câu nào
dư thừa, chứ đừng nói là có một quyển kinh “ngụy tạo”
trong giáo lý Phật giáo!
Giả
sử, các học giả Tây phương có dụng ý đi chăng nữa, thì
các Học giả Phật giáo và các Giảng sư cũng phải lưu tâm
sửa chữa lại nhưng khiếm khuyết của các học giả Tây
phương chứ không nên vị nể họ có nhiều văn bằng và tầm
ảnh hưởng của họ quá “nặng ký” trong lĩnh vực nghiên
cứu, mà phải nói theo họ. Trong khi các Học giả phật giáo,
các giảng sư cũng là người nghiên cứu lĩnh vực hệ thống
giáo lý của chính mình, như thế chúng ta mới là người có
đủ thẩm quyền hơn các học giả Tây phương chứ, vì chúng
ta không những là nhà nghiên cứu mà còn là các Hành giả
đang tu tập từ 10, 20 năm trở lên thì lẽ nào chúng ta lại
không tường tận hơn các học
giả
Tây phương!
Chúng
ta thử đặt lại vấn đề, hiện nay các học giả Tây phương
và trong giới Phật giáo đều căn cứ theo theo hai ngôn ngữ
cổ của Ấn Độ Pali và Sanskrit làm “gốc” để có cơ
sở nghiên cứu và giảng dạy cho Phật tử. Nhưng trong tương
lai biết đâu các nhà khảo cổ lại phát hiện ra một văn
bản Magadha cổ hơn thì lúc đó chúng ta lại “phán” những
bản kinh được viết bằng Pali và Sanskrit là kinh điển “trước
tác” hoặc “kinh điển ngụy tạo” hay sao? Cách nay 100 năm,
học thuyết tiến hóa của Darwin được thế giới xem như
là kinh điển, cả thế giới đều đưa vào bộ phận giáo
dục, nhưng ngày nay ngành khoa học lại đi xa hơn nên học
thuyết đó không còn được xem là chân lý
nữa!
Cho
nên, đây chỉ là sự ngộ nhận và hạn chế giữa ngôn ngữ
với ngôn ngữ mà thôi, chứ không thể phủ nhận hệ thống
kinh điển Đại Thừa là ngụy tạo. Trong khi, các học giả
các vị Thánh Tăng điều thừa nhận Ngài Long Thọ là Phật
Thích Ca thứ hai nhưng không có 32 tương tốt! Hơn nữa, đức
Phật cũng từng xác nhận: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh
là Phật sẽ thành” thế thì kinh điển sau thời đức Phật
cũng đâu có gì trở ngại cho việc tu học của gới tu sĩ.
Vả lại, những gì được “kiết tập” và phát triển
giáo lý cho phù hợp với ngôn ngữ của xã hội đương thời
là do các vị Thánh đệ tử bậc A-la-hán làm nên. Chắc chắn
Trí tuệ của các Ngài hơn hẳn chúng ta đến
hàng
ngàn tỷ lần, nên chúng ta không thể đem “trí tuệ” của
chúng ta đánh đồng với các Ngài và chạy theo các học giả
Tây phương mà cho các bản kinh Đại Thừa là “kinh ngụy
tạo”! Kinh điển thuộc về lý tưởng, tùy bệnh mà cho thuốc
thì làm sao chúng ta có thể đo lường bằng khảo cổ, lịch
sử, ngôn ngữ học…
Kinh
điển “ngụy tạo” là đồng nghĩa với ngôn ngữ hiện
đại là văn hoá “độc hại” cần phải loại trừ ra khỏi
ngành văn chương để nó không làm “oen ố” đỉnh cao trí
tuệ; cần phải loại trừ những gì không do Phật nói, để
không làm ảnh hưởng đến sự thanh tịnh, giải thoát và
an lạc hạnh phúc trong hệ thống giáo lý đạo Phật! Bản
kinh nào trong hệ thống của Đại Thừa đã sai trật
làm mất đi giá trị căn bản đạo đức và lộ trình
hướng đến gải thoát? Đạo lý của đức Phật giống như
trận mưa to xối xuống để đáp ứng cho tất cả cỏ cây,
chứ không riêng biệt cho một số cây to nào mà thôi! Nó có
khác chăng là hình thức và phương tiện đưa đến mục đích
mà thôi, không thể lúc nào cũng phải ngồi thiền mới thành
Phật, còn lặt rau, bửa củi, gánh nước, tụng kinh là thành
tà ma ngoại đạo! Phải chăng, các vị Thánh Tăng đã khéo
léo lấy nhiều hình thức: 5+5, 7+3, 4+6… để trở thành con
số 10, nhằm hướng dẫn cho những người Thượng căn, Trung
căn và Hạ căn. Nên đức Phật khẳng định rằng: “Đại
dương chỉ thuần một vị mặn, cũng vậy đạo lý giải thoát
của ta cũng chỉ thuần một vị là giải thoát!”
Vì
vậy, khi chuyển ngữ, hoặc giảng dạy phải cần lưu ý đến
ngôn ngữ vốn phong phú và đa dạng của tiếng Việt để
tránh đi sự ngộ nhận giáo lý chính thống và giáo lý không
chính thống trong Phật giáo! Đồng thời, giúp cho Phật tử
không bị chao đảo trước những học vị “nặng ký” phát
biểu, hoặc nghĩa lý từ những quyển tự điển thông dụng!
Delhi,
08/07/2002
Lệ
Thọ
Nguồn:
http://www.thuvienhoasen.org/ddpp-kinhdiennguytao.htm