SỐ 304 THÁNG 04 NĂM 2003
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM TRONG TƯƠNG LAI
Lệ Thọ 


Tre tàn măng mọc, thế hệ trẻ là một thế hệ chuyển tiếp giữa thế hệ đi trước và thế hệ tương lai. Chúng ta thử tạm lấy cột mốc từ thập niên 70 trở lại đây để làm thế hệ trẻ, vì giai đoạn này có một bước chuyển tiếp lịch sử của cả một dân tộc. Sau 30 năm nhìn lại những bước đi thăng trầm của dân tộc trong đó có sự phát triển, thành đạt mọi lĩnh vực của thế hệ trẻ ở trong và ngoài nước. Tuy nhiên cũng phải ghi nhận những mặt khiếm khuyết yếu kém mà thế hệ trẻ vô tình hoặc điều kiện khách quan nào đó tạo nên sự mất cân đối. Ở đây, chúng tôi không có tham vọng là nhặt hết được những điểm khiếm khuyết, hoặc ca ngợi hết các mặt thành công, mà chỉ ghi nhận một trong những góc độ của thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay, như nhìn lại một chặng đường đã qua!

Trên chặng đường 30 năm truân chuyên đó, dĩ nhiên không phải chỉ có hoa thơm cỏ lạ cho thế hệ trẻ nhẹ bước đăng trình, mà còn có rất nhiều chông gai cho thế hệ trẻ bền chí thử thách. Mỗi lần có một sự cố khó khăn ngang trái là một bước đi non trẻ trưởng thành, những bức phá càng dữ dội thì lớp trẻ càng rắn rỏi, như những đường nét của người nghệ sĩ điêu khắc từ từ chạm trổ nên diện mạo đặc thù của một Việt Nam tương lai!

Ba mươi năm trôi qua, cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã đủ thời gian và vững vàng trên bước đường lập nghiệp, đất nước mở cửa và thay đổi tuy nhiên vẫn bề bộn trăm điều. Phải chăng đó là những điều mà dân tộc Việt Nam đang cần bàn tay thế hệ trẻ dựng xây một Việt Nam không còn tự ti mặc cảm-nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu...

Một Việt Nam ngày nay, đã có thế hệ trẻ sinh ra hoặc trưởng thành ở các xứ văn minh, và trong nước thì được cọ sát học tập những mặt thành tựu của khoa học tiên tiến từ nước ngoài vào đầu tư và đang có xu hướng hòa nhập toàn cầu hóa. Đó là những chất liệu làm cho Việt Nam thay da đổi thịt bằng thế hệ trẻ! Ở nước ngoài, thế hệ trẻ đã đủ tự tin hòa nhập vào thế giới Văn minh mà không còn bị rào bất đồng ngôn ngữ ngăn cản, giờ đây họ có thể tham gia vào bất cứ mọi ngành nghề của chính phủ hoặc tư nhân, họ có sức chịu đựng dẽo dai, nhẫn nại học tập cộng với bẩm chất thông minh, nên họ đã khéo léo hòa nhập giữa 2 nền Văn minh Âu-Á thành một bản sắc văn hóa Việt Nam tại hải ngoại, gây ấn tượng thật tốt trong lòng của dân bản địa vốn kỳ thị màu da chủng tộc. Đó là một thành công đáng kể của thế hệ trẻ đã đóng góp và giới thiệu nền văn hóa Việt Nam cho bạn bè năm châu biết đến.

Trong nước cũng đã có một lực lượng trẻ thành công trên lĩnh vực kinh tế, đối tác lao động, đầu tư ra nước ngoài trong những năm gần đây đã tăng lên đáng kể! Tuy nhiên, bên cạnh của vầng hào quang thành công rực rở đó của thế hệ trẻ đã bị hạn chế và tha hóa về nhận thức cội nguồn và tâm linh. Nên sự hội nhập kia đã và đang vấp phải:

Một là: Tạo cho giới trẻ một quan niệm sống chạy theo hưởng thụ vật chất, lao mình vào sự kiếm tiền, đánh giá giàu nghèo bằng mức tiêu xài, phung phí mà quên đi đời sống tinh thần, đạo đức và lý tưởng.

Hai là: Làm lung lay hầu hết các truyền thống phong tục tập quán lâu đời của dân tộc, vì giới trẻ ngày nau hầu như chỉ tin vào khoa học.

Ba là: Tạo nên một sự mất quân bình trong con người giữa tinh thần và thể xác, nên con người thời nay thường mang bệnh trạng về tâm lý và tâm thần mà tự mình không biết, đến độ có những hạng người lao vào hưởng thụ, có những người luôn bị trầm cảm "stress" vì làm việc quá độ, có khi chán nản cả ngay cuộc sống hiện thời.

Đó có thể được xem là một bài toán hóc búa làm đau đầu cho những người có trách nhiệm chăm sóc xã hội, các bậc cha mẹ và các vị lãnh đạo tôn giáo đang đối mặt, làm sao cho việc vẫn phát triển mà không bị mất thuần phong mỹ tục, đạo đức của dân tộc? Công nghiệp hóa hiện đạo hóa đất nước mà vẫn giữ được tình làng nghĩa xóm, hiếu thảo cha mẹ mà các nước Châu Âu không làm sao có được? Nói chung là phát triển, hội nhập toàn cầu hóa mà không bị suy thoái đạo đức và bản chất của người Việt Nam!

Vấn đề đặt ra ở đây là giới trẻ có chấp nhận cả 2 vật chất và tinh thần cùng phát triển haykhông? Và tinh thần thì là cái gì và của ai? Chúng ta thử lược lại những diễn biến đã qua của các tôn giáo trên thế giới để chọn một hướng đi cụ thể và thích hợp bản sắc văn hóa của người Việt Nam!

Nhìn vào lịch sử, trong Thế Kỷ 20, các tôn giáo lớn đều gặp những thử thách không nhỏ bởi các chế độ chính trị, các trào lưu tư tưởng, các chủ thuyết, ngoài ra còn sự tranh chấp giữa đạo này với đạo khác, gây nên bạo động, xô xát, có khi tiến đến chiến tranh. Lược qua hai thập niên sau cùng của Thế Kỷ 20, ta thấy có khoảng 10 cuộc chiến mang tính tôn giáo:

Thứ nhất: Phải kể cuộc chiến ở Bắc Ái Nhĩ Lan giữa những tín đồ Tinh Lành và Thiên Chúa Giáo thuộc La Mã đã kéo dài hàng thế kỷ.

Thứ hai: Cuộc chiến Bosnia và Kosovo giữa người Albania theo Hồi Giáo và người Serbia theo Chính Thống Giáo, cuộc chiến này còn mang thêm tính sắc tộc nữa.

Thứ ba: Cuộc chiến Croatia giữa những người theo Thiên Chúa Giáo La Mã và Hồi Giáo.

Thứ tư: Cuộc chiến ở Nam Sudan giữa những tín đồ Thiên Chúa Giáo La Mã và các tín đồ Hồi Giáo.

Thứ năm: Cuộc chiến giữa người Thổ Nhĩ Kỳ theo Hồi Giáo và người Hy Lạp theo Chính Thống Giáo tức Thiên Chúa Giáo, ở đảo Cyprus.

Thứ sáu: Cuộc chiến ở Kashmir giữa những người theo Hồi Giáo được Pakistan hỗ trợ với những người theo Ấn Độ Giáo được Ấn Độ hậu thuẫn.

Thứ bẩy: Cuộc chiến ở Ambon, Indonesia giữa những người Hồi Giáo và tín đồ Thiên Chúa Giáo. Trước đó là cuộc chiến tại Đông Timor cũng của hai tôn giáo này.

Thứ tám: Cuộc chiến ở Sri Lanka giữa chính quyền theo Phật Giáo và phe Ấn Giáo đòi ly khai gọi là Hổ Tamil.

Thứ chín: Cuộc chiến tại Afghanistan trước đây giữa hai phe Hồi Giáo Taliban và Liên Minh Phương Bắc, nay là cuộc chiến chống khủng bố.

Thứ mười: Cuộc chiến tại Philippines giữa chính phủ theo Thiên Chúa Giáo La Mã và lực lượng Hồi Giáo gọi là Moro. Hiện nay đang có cuộc chiến tiêu diệt nhóm Abu Sayab theo Hồi Giáo, được coi như thành phần khủng bố có liên lạc với tổ chức khủng bố quốc tế Al Qaeda.

Sở dĩ người ta mất niềm tin là vì tôn giáo đã không đáp ứng được những nhu cầu tinh thần mà họ mong muốn. Nhu cầu tinh thần của người đời rất giản dị chỉ mong muốn một cuộc sống hạnh phúc, an vui và những an ủi khi khổ đau hoạn nạn. Chức năng của tôn giáo là phụng sự nhân sinh đem lại an bình, hạnh phúc, kiến tạo một xã hội tốt đẹp để mọi người được sống trong sự thương yêu, hòa hợp, trong một trật tự không bị áp chế bởi giáo điều, hay quyền lực. Nhưng hầu hết các tôn giáo đương thời không làm tròn chức năng đó. Tôn giáo không làm tròn chức năng vì hai điểm:

Một là: Đường lối không thích ứng với thời đại.

Hai là: Các vị lãnh đạo tinh thần đã hướng hoạt động về củng cố giáo quyền hơn là phục vụ xã hội và nhân sinh.

Về mặt đường lối, vài tôn giáo lớn vẫn còn duy trì tính cách độc tôn, kèm theo việc thực thi một số giáo luật lỗi thời đã áp dụng từ hàng ngàn năm trước khiến con người thời đại, với kiến thức khoa học ngày nay và tinh thần tự do tư tưởng thấy không thể chấp nhận được.

Về mặt các vị lãnh đạo tinh thần thì phần đông muốn bảo vệ cơ sở, bành trướng tổ chức, củng cố giáo quyền, nên các tín đồ trở thành công cụ để thực hiện mục đích trên, khiến mất đi ý nghĩa "Đạo lập ra để phụng sự Đời".

Qua những nhận xét về hiện trạng các tôn giáo vào thời điểm này, nay ta thử tìm hiểu xem nhu cầu tâm linh của nhân loại bước vào Thế Kỷ mới đòi hỏi những gì?

Muốn trả lời câu hỏi này, ta phải nhìn vào thế giới, vì các nhu cầu tinh thần đều phát xuất từ con người trong môi trường sống phù hợp với từng giai đoạn. Thế giới vào Thế Kỷ 21 này đang hình thành một trật tự mới, với ba đặc trưng.

Thứ nhất: Một cuộc cách mạng tin học đang diễn tiến.

Thứ hai: Một sự phân tích sâu xa về con người qua các tìm tòi về "Gene" và "DNA" cùng "Nhân bản vô tính" nhằm chuyển đổi vào kéo dài đời sống con người.

Thứ ba: Hướng đến toàn cầu hóa về nhiều mặt trước hết về kinh tế.

Muốn phát huy được những điểm trên thì cần phải có một thế giới "an bình và hợp tác". Tất cả những điểm trên đều nhắm xây dựng một thế giới tiến bộ nhưng thiên về vật chất, nên cần bổ túc về mặt tinh thần, đó là vai trò đòi hỏi ở tôn giáo. Nhân loại ngày nay cần có một nhu cầu tâm linh hợp với thời đại 
để quân bình cuộc sống nghĩa là một nhu cầu phát triển tốt đẹp cả về vật chất lẫn tinh thần. Đây là một nhu cầu cấp thiết và sống còn của nhân loại hôm nay để đối phó với bất an, để có hòa bình thực sự và để phát triển vẹn toàn. Một vĩ nhân thế giới trong Thế Kỷ 20 mà ai cũng biết, đó là nhà Bác Học Albert Einstein đã nhận xét về vấn đề tôn giáo của Thế Kỷ 21 với những lời lẽ như sau: "Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo chung cho cả vũ trụ, tôn giáo này phải vượt lên trên một Thượng Đế cá thể và tránh những giáo điều cùng lý thuyết. Bao gồm cả thiên nhiên và tinh thần, nó phải được dựa trên cơ sở một tôn giáo mang tính thực nghiệm về mọi sự vật, cả tự nhiên và tinh thần trong sự hợp nhất viên mãn, Đạo Phật đáp ứng được những điều mô tả trên."

Tóm lại, trên đây là một ghi nhận những diễn biến của nhân loại nói chung và thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng về một số mặt thành tựu và nhược điểm đã và đang tồn động, nên chúng tôi thử lạm bàn và đưa ra mặt nhận thức chung mang tính gợi ý để thế hệ trẻ Việt Nam chọn cho mình một lối đi có sự thăng bằng giữa vật chất và tinh thần, để cuộc sống yên vui hạnh phúc và có đầy đủ ý nghĩa hơn! Đồng thời để các vị lãnh đạo tôn giáo thấy được sự thiếu thực tế giữa "cung và cầu" giữa tôn giáo và con người nhằm thay đổi cách truyền giáo để thực hiện cho đúng với phương châm "là những bông hoa đẹp tô điểm cho đời, làm đẹp nhân sinh bằng niềm an vui, hạnh phúc" mà thế hệ trẻ Việt Nam đang mong đợi để trở thành người ban song hành trong cuộc sống thịnh vượng ở tương lai!

Delhi, 02.11.2002

Lệ Thọ 
 

 
Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 03-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 305 KB) 
 
 

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412