THẾ HỆ
TRẺ VIỆT NAM TRONG TƯƠNG LAI
Lệ
Thọ
Tre
tàn măng mọc, thế hệ trẻ là một thế hệ chuyển tiếp
giữa thế hệ đi trước và thế hệ tương lai. Chúng ta thử
tạm lấy cột mốc từ thập niên 70 trở lại đây để làm
thế hệ trẻ, vì giai đoạn này có một bước chuyển tiếp
lịch sử của cả một dân tộc. Sau 30 năm nhìn lại những
bước đi thăng trầm của dân tộc trong đó có sự phát triển,
thành đạt mọi lĩnh vực của thế hệ trẻ ở trong và ngoài
nước. Tuy nhiên cũng phải ghi nhận những mặt khiếm khuyết
yếu kém mà thế hệ trẻ vô tình hoặc điều kiện khách
quan nào đó tạo nên sự mất cân đối. Ở đây, chúng tôi
không có tham vọng là nhặt hết được những điểm khiếm
khuyết, hoặc ca ngợi hết các mặt thành công, mà chỉ ghi
nhận một trong những góc độ của thế hệ trẻ Việt Nam
ngày nay, như nhìn lại một chặng đường đã qua!
Trên
chặng đường 30 năm truân chuyên đó, dĩ nhiên không phải
chỉ có hoa thơm cỏ lạ cho thế hệ trẻ nhẹ bước đăng
trình, mà còn có rất nhiều chông gai cho thế hệ trẻ bền
chí thử thách. Mỗi lần có một sự cố khó khăn ngang trái
là một bước đi non trẻ trưởng thành, những bức phá càng
dữ dội thì lớp trẻ càng rắn rỏi, như những đường nét
của người nghệ sĩ điêu khắc từ từ chạm trổ nên diện
mạo đặc thù của một Việt Nam tương lai!
Ba
mươi năm trôi qua, cộng đồng người Việt ở nước ngoài
đã đủ thời gian và vững vàng trên bước đường lập nghiệp,
đất nước mở cửa và thay đổi tuy nhiên vẫn bề bộn trăm
điều. Phải chăng đó là những điều mà dân tộc Việt Nam
đang cần bàn tay thế hệ trẻ dựng xây một Việt Nam không
còn tự ti mặc cảm-nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu...
Một
Việt Nam ngày nay, đã có thế hệ trẻ sinh ra hoặc trưởng
thành ở các xứ văn minh, và trong nước thì được cọ sát
học tập những mặt thành tựu của khoa học tiên tiến từ
nước ngoài vào đầu tư và đang có xu hướng hòa nhập toàn
cầu hóa. Đó là những chất liệu làm cho Việt Nam thay da
đổi thịt bằng thế hệ trẻ! Ở nước ngoài, thế hệ trẻ
đã đủ tự tin hòa nhập vào thế giới Văn minh mà không
còn bị rào bất đồng ngôn ngữ ngăn cản, giờ đây họ
có thể tham gia vào bất cứ mọi ngành nghề của chính phủ
hoặc tư nhân, họ có sức chịu đựng dẽo dai, nhẫn nại
học tập cộng với bẩm chất thông minh, nên họ đã khéo
léo hòa nhập giữa 2 nền Văn minh Âu-Á thành một bản sắc
văn hóa Việt Nam tại hải ngoại, gây ấn tượng thật tốt
trong lòng của dân bản địa vốn kỳ thị màu da chủng tộc.
Đó là một thành công đáng kể của thế hệ trẻ đã đóng
góp và giới thiệu nền văn hóa Việt Nam cho bạn bè năm châu
biết đến.
Trong
nước cũng đã có một lực lượng trẻ thành công trên lĩnh
vực kinh tế, đối tác lao động, đầu tư ra nước ngoài
trong những năm gần đây đã tăng lên đáng kể! Tuy nhiên,
bên cạnh của vầng hào quang thành công rực rở đó của
thế hệ trẻ đã bị hạn chế và tha hóa về nhận thức
cội nguồn và tâm linh. Nên sự hội nhập kia đã và đang
vấp phải:
Một
là: Tạo cho giới trẻ một quan niệm sống chạy theo hưởng
thụ vật chất, lao mình vào sự kiếm tiền, đánh giá giàu
nghèo bằng mức tiêu xài, phung phí mà quên đi đời sống
tinh thần, đạo đức và lý tưởng.
Hai
là: Làm lung lay hầu hết các truyền thống phong tục tập
quán lâu đời của dân tộc, vì giới trẻ ngày nau hầu như
chỉ tin vào khoa học.
Ba
là: Tạo nên một sự mất quân bình trong con người giữa
tinh thần và thể xác, nên con người thời nay thường mang
bệnh trạng về tâm lý và tâm thần mà tự mình không biết,
đến độ có những hạng người lao vào hưởng thụ, có những
người luôn bị trầm cảm "stress" vì làm việc quá độ, có
khi chán nản cả ngay cuộc sống hiện thời.
Đó
có thể được xem là một bài toán hóc búa làm đau đầu
cho những người có trách nhiệm chăm sóc xã hội, các bậc
cha mẹ và các vị lãnh đạo tôn giáo đang đối mặt, làm
sao cho việc vẫn phát triển mà không bị mất thuần phong
mỹ tục, đạo đức của dân tộc? Công nghiệp hóa hiện
đạo hóa đất nước mà vẫn giữ được tình làng nghĩa
xóm, hiếu thảo cha mẹ mà các nước Châu Âu không làm sao
có được? Nói chung là phát triển, hội nhập toàn cầu hóa
mà không bị suy thoái đạo đức và bản chất của người
Việt Nam!
Vấn
đề đặt ra ở đây là giới trẻ có chấp nhận cả 2 vật
chất và tinh thần cùng phát triển haykhông? Và tinh thần thì
là cái gì và của ai? Chúng ta thử lược lại những diễn
biến đã qua của các tôn giáo trên thế giới để chọn một
hướng đi cụ thể và thích hợp bản sắc văn hóa của người
Việt Nam!
Nhìn
vào lịch sử, trong Thế Kỷ 20, các tôn giáo lớn đều gặp
những thử thách không nhỏ bởi các chế độ chính trị,
các trào lưu tư tưởng, các chủ thuyết, ngoài ra còn sự
tranh chấp giữa đạo này với đạo khác, gây nên bạo động,
xô xát, có khi tiến đến chiến tranh. Lược qua hai thập niên
sau cùng của Thế Kỷ 20, ta thấy có khoảng 10 cuộc chiến
mang tính tôn giáo:
Thứ
nhất: Phải kể cuộc chiến ở Bắc Ái Nhĩ Lan giữa những
tín đồ Tinh Lành và Thiên Chúa Giáo thuộc La Mã đã kéo dài
hàng thế kỷ.
Thứ
hai: Cuộc chiến Bosnia và Kosovo giữa người Albania theo Hồi
Giáo và người Serbia theo Chính Thống Giáo, cuộc chiến này
còn mang thêm tính sắc tộc nữa.
Thứ
ba: Cuộc chiến Croatia giữa những người theo Thiên Chúa Giáo
La Mã và Hồi Giáo.
Thứ
tư: Cuộc chiến ở Nam Sudan giữa những tín đồ Thiên Chúa
Giáo La Mã và các tín đồ Hồi Giáo.
Thứ
năm: Cuộc chiến giữa người Thổ Nhĩ Kỳ theo Hồi Giáo và
người Hy Lạp theo Chính Thống Giáo tức Thiên Chúa Giáo, ở
đảo Cyprus.
Thứ
sáu: Cuộc chiến ở Kashmir giữa những người theo Hồi Giáo
được Pakistan hỗ trợ với những người theo Ấn Độ Giáo
được Ấn Độ hậu thuẫn.
Thứ
bẩy: Cuộc chiến ở Ambon, Indonesia giữa những người Hồi
Giáo và tín đồ Thiên Chúa Giáo. Trước đó là cuộc chiến
tại Đông Timor cũng của hai tôn giáo này.
Thứ
tám: Cuộc chiến ở Sri Lanka giữa chính quyền theo Phật Giáo
và phe Ấn Giáo đòi ly khai gọi là Hổ Tamil.
Thứ
chín: Cuộc chiến tại Afghanistan trước đây giữa hai phe Hồi
Giáo Taliban và Liên Minh Phương Bắc, nay là cuộc chiến chống
khủng bố.
Thứ
mười: Cuộc chiến tại Philippines giữa chính phủ theo Thiên
Chúa Giáo La Mã và lực lượng Hồi Giáo gọi là Moro. Hiện
nay đang có cuộc chiến tiêu diệt nhóm Abu Sayab theo Hồi Giáo,
được coi như thành phần khủng bố có liên lạc với tổ
chức khủng bố quốc tế Al Qaeda.
Sở
dĩ người ta mất niềm tin là vì tôn giáo đã không đáp ứng
được những nhu cầu tinh thần mà họ mong muốn. Nhu cầu
tinh thần của người đời rất giản dị chỉ mong muốn một
cuộc sống hạnh phúc, an vui và những an ủi khi khổ đau hoạn
nạn. Chức năng của tôn giáo là phụng sự nhân sinh đem lại
an bình, hạnh phúc, kiến tạo một xã hội tốt đẹp để
mọi người được sống trong sự thương yêu, hòa hợp, trong
một trật tự không bị áp chế bởi giáo điều, hay quyền
lực. Nhưng hầu hết các tôn giáo đương thời không làm tròn
chức năng đó. Tôn giáo không làm tròn chức năng vì hai điểm:
Một
là: Đường lối không thích ứng với thời đại.
Hai
là: Các vị lãnh đạo tinh thần đã hướng hoạt động về
củng cố giáo quyền hơn là phục vụ xã hội và nhân sinh.
Về
mặt đường lối, vài tôn giáo lớn vẫn còn duy trì tính
cách độc tôn, kèm theo việc thực thi một số giáo luật
lỗi thời đã áp dụng từ hàng ngàn năm trước khiến con
người thời đại, với kiến thức khoa học ngày nay và tinh
thần tự do tư tưởng thấy không thể chấp nhận được.
Về
mặt các vị lãnh đạo tinh thần thì phần đông muốn bảo
vệ cơ sở, bành trướng tổ chức, củng cố giáo quyền,
nên các tín đồ trở thành công cụ để thực hiện mục
đích trên, khiến mất đi ý nghĩa "Đạo lập ra để phụng
sự Đời".
Qua
những nhận xét về hiện trạng các tôn giáo vào thời điểm
này, nay ta thử tìm hiểu xem nhu cầu tâm linh của nhân loại
bước vào Thế Kỷ mới đòi hỏi những gì?
Muốn
trả lời câu hỏi này, ta phải nhìn vào thế giới, vì các
nhu cầu tinh thần đều phát xuất từ con người trong môi
trường sống phù hợp với từng giai đoạn. Thế giới vào
Thế Kỷ 21 này đang hình thành một trật tự mới, với ba
đặc trưng.
Thứ
nhất: Một cuộc cách mạng tin học đang diễn tiến.
Thứ
hai: Một sự phân tích sâu xa về con người qua các tìm tòi
về "Gene" và "DNA" cùng "Nhân bản vô tính" nhằm chuyển đổi
vào kéo dài đời sống con người.
Thứ
ba: Hướng đến toàn cầu hóa về nhiều mặt trước hết
về kinh tế.
Muốn
phát huy được những điểm trên thì cần phải có một thế
giới "an bình và hợp tác". Tất cả những điểm trên đều
nhắm xây dựng một thế giới tiến bộ nhưng thiên về vật
chất, nên cần bổ túc về mặt tinh thần, đó là vai trò
đòi hỏi ở tôn giáo. Nhân loại ngày nay cần có một nhu
cầu tâm linh hợp với thời đại
để
quân bình cuộc sống nghĩa là một nhu cầu phát triển tốt
đẹp cả về vật chất lẫn tinh thần. Đây là một nhu cầu
cấp thiết và sống còn của nhân loại hôm nay để đối
phó với bất an, để có hòa bình thực sự và để phát triển
vẹn toàn. Một vĩ nhân thế giới trong Thế Kỷ 20 mà ai cũng
biết, đó là nhà Bác Học Albert Einstein đã nhận xét về
vấn đề tôn giáo của Thế Kỷ 21 với những lời lẽ như
sau: "Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo chung cho cả vũ
trụ, tôn giáo này phải vượt lên trên một Thượng Đế
cá thể và tránh những giáo điều cùng lý thuyết. Bao gồm
cả thiên nhiên và tinh thần, nó phải được dựa trên cơ
sở một tôn giáo mang tính thực nghiệm về mọi sự vật,
cả tự nhiên và tinh thần trong sự hợp nhất viên mãn, Đạo
Phật đáp ứng được những điều mô tả trên."
Tóm
lại, trên đây là một ghi nhận những diễn biến của nhân
loại nói chung và thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng về một
số mặt thành tựu và nhược điểm đã và đang tồn động,
nên chúng tôi thử lạm bàn và đưa ra mặt nhận thức chung
mang tính gợi ý để thế hệ trẻ Việt Nam chọn cho mình
một lối đi có sự thăng bằng giữa vật chất và tinh thần,
để cuộc sống yên vui hạnh phúc và có đầy đủ ý nghĩa
hơn! Đồng thời để các vị lãnh đạo tôn giáo thấy được
sự thiếu thực tế giữa "cung và cầu" giữa tôn giáo và
con người nhằm thay đổi cách truyền giáo để thực hiện
cho đúng với phương châm "là những bông hoa đẹp tô điểm
cho đời, làm đẹp nhân sinh bằng niềm an vui, hạnh phúc"
mà thế hệ trẻ Việt Nam đang mong đợi để trở thành người
ban song hành trong cuộc sống thịnh vượng ở tương lai!
Delhi,
02.11.2002
Lệ
Thọ