Trích
PHẬT PHÁP CHO SINH VIÊN
(BUDDHA
- DHAMMA FOR STUDENTS)
Thiện
Nhựt lược dịch.
Nguyên
tác : Lak Dhamma Samrab Nak Seuksa của Buddhadàsa Bhikkhu bằng Thái
ngữ ; Bản dịch ra Anh văn của Rod Bucknell;Thiện Nhựt lược
dịch sang Việt ngữ .
(Phần
Một)
VÀI
NÉT VỀ TÁC GIẢ
Tỳ
kheo Phật Lệ, Buddhadàsa Bhikkhu (Người hầu của đức Phật)
xuất gia năm 1926, lúc Người được hai mươi tuổi .
Sau
vài năm theo học ở Bangkok, Người quay về sống với thiên
nhiên để nghiên cứu Phật pháp và thành lập thiền viện
Suan Mokkhabalàràma (khu vườn của Năng Lực Giải Thoát) vào
năm 1932, ở gần quê Người là thành phố Pum Riang thuộc quận
Chaiya .
Vào
thời đó, Suan Mokkh là Trung Tâm Phật Giáo duy nhất và là
một trong rất ít những trung tâm chuyên dạy thực tập Thiền
Minh Sát ở miền Nam nước Tháị
Tiếng
đồn về Tỳ Kheo Phật Lệ và các công trình của Người
ở Tùng Lâm Suan Mokkh chẳng bao lâu đã lan khắp nước và
được xem đó như là một trong những biến cố quan trọng
về lịch sử Phật giáo ở Thái Lan.
Xin
được kể lại sau đây một vài công đức mà Người đã
cung hiến cho Phật giáo .
Ajahn
Buddhadàsa đã dầy công chỉnh đốn lại các giải thích sai
lầm về các nguyên tắc căn bản của giáo lý Phật giáo Nguyên
Thủy . Công phu này dựa trên sự thâm cứu của Người về
các kinh văn Pali (Tam Tạng Kinh Điển và các Chú Giải), đặc
biệt là phần Kinh Tạng, cộng thêm các kinh nghiệm tu tập
và chứng nghiệm của Người về các giáo lý đó . Rồi người
truyền dạy lại những gì mà Người có thể nói là thật
sự dập tắt đau khổ, dukkha .
Chí
nguyện của Người đã tạo nên một hệ thống tham chiếu
kinh điển đầy đủ để giúp cho các công cuộc khảo cứu
hiện nay và mai sau . Phương cách tiến hành sự nghiên cứu
của Người luôn luôn có tính cách khoa học, chân trực và
thực tiễn.
Mặc
dầu quá trình học vấn phổ thông của Người chỉ đến
lớp Chín và khóa sơ đẳng về Pali, Người được các viện
Đại Học Thái Lan long trọng trao tặng đến năm văn bằng
Tiến Sĩ danh dự Tác phẩm của Người, vừa sáng tác, vừa
các bài pháp giảng được ghi lại, đã chiếm một căn phòng
lớn trong Thư Viện Quốc Gia và có ảnh hưởng rộng lớn
đến các Phật tử thuần thành của Thái Lan. Cuộc đời và
các công trình của Người vẫn còn là đề tài cho các luận
án tiến sĩ. Sách của Người bày bán nhiều nơi trong
nước Thái.
Các
phần tử tiến bộ trong xã hội Thái, nhất là giới trẻ,
rất hứng khởi trước lời giáo huấn và nhất là trước
tấm gương vị tha của Người. Từ dạo năm 1960 trở
đi, các thành phần tranh đấu và các lý thuyết gia trong các
địa hạt giáo dục, an sinh xã hội, phát triển nông thôn,
đã mang ra ứng dụng các lời giáo huấn và khuyến cáo của
Người . Người đã tạo ảnh hưởng tốt cho rất nhiều các
vị tăng sĩ tham gia vào các công tác bảo vệ thiên nhiên và
phát triển cộng đồng. Người cũng tạo một sự liên kết
giữa các quy luật giáo điều và các cách thức hành đạo
thực tiễn.
Kể
từ khi thành lập Tùng Lâm Suan Mokkh, Người đã nghiên cứu
tất cả mọi hệ phái của Phật giáo, cũng như các tôn giáo
lớn trên thế giới . Sự lưu tâm của Người có tính cách
thực tiễn hơn là nặng về từ chương, sách vở. Người
tìm cách kết thân với các bậc chân tu để cùng nhau hợp
tác trong việc giúp nhân loại thoát khổ bằng cách tận diệt
lòng vị kỷ. Tâm hồn khoáng đạt đó của Người đã đưa
đến gần bên Người nhiều bằng hữu và sinh viên, kể cả
những người thuộc các tôn giáo khác như Cơ Đốc giáo, Hồi
giáo, Ấn giáo, Sikhs, v.v..., khắp nơi trên thế giới .
Dự
án cuối cùng của Người là thành lập một Trung Tâm Quốc
Tế ẩn tu Phật pháp. Cùng với Tùng Lâm Suan Mokkh, Trung Tâm
này nhằm cung cấp phương tiện cho:
--
Các khóa nhập môn, dành cho các thân hữu Thái và ngoại quốc,
về chân lý được giảng trong giáo pháp của đức Phật và
làm quen với hệ thống luyện tập tâm linh của Phật giáo
--
Các cuộc hội thảo giữa các Phật tử trên thế giới để
luận bàn và chấp nhận về "Trái Tim của Phật giáo".
--
Các cuộc hội họp giữa các đại diện của các cộng đồng
tôn giáo khác nhau ở Thái (và sau đó, trên toàn thế giới),
để thảo luận và phát triển sự thông cảm lẫn nhau và
hợp tác vì lợi ích hòa bình cho thế giới .
Tỳ
kheo Buddhadàsa đã từ trần vào năm 1993 sau nhiều lần cố
gắng chống cự với những cơn đau tim đột biến và các
lần bị tai biến mạch máu não . Cơn tai biến mạch máu não
sau cùng xẩy ra vào lúc Người đang sửa soạn bài pháp cho
buổi pháp thoại vào ngày sinh nhật của Người tức là đúng
hai ngày sau đó .
(Phật
Pháp cho Sinh Viên, trang 9)
LỜI
TÁC GIẢ
Thưa
các Bạn Đạo,
Buổi
nói chuyện hôm nay có tựa đề là "Phật Pháp cho Sinh Viên"
Tôi
muốn nói rõ với các bạn rằng buổi nó chuyện này sẽ bàn
đến các điều cơ bản và các nguyên lý căn bản, đặc biệt
dành cho các sinh viên, tức là các người thông minh trí thức.
Tôi sẽ bàn luận đến các nguyên lý căn bản về Giáo Pháp
(sự thật hiển nhiên) dưới hình thức vấn đáp, trước
là đặt câu hỏi với các bạn, sau đó sẽ trả lời .
Được
nghe câu hỏi trước, các bạn sẽ thấy câu trả lời dễ
hiểu và dễ nhớ hơn.
Tôi
nghĩ rằng đây là cách thích hợp nhất để trình bày với
các bạn sinh viên. Vào thời Đức Phật, các bậc trí thức
chẳng hỏi gì ngoài các điểm chủ yếu và các nguyên lý
căn bản. Họ không thích nghe những lời giải thích dài dòng.
Điều này có nhiều lợi điểm, nhất là tiết kiệm được
thời giờ.
Và
đó là việc tôi sẽ làm ngày hôm nay :
--
Đặt một câu hỏi ...
--
nêu ra một đề tài ...
--
rồi trả lời câu hỏi đó với các nguyên lý căn bản.
Bằng
cách ấy các bạn sẽ biết được những điều thiết yếu
về một số lớn đề tài cùng các sự kiện, giúp các bạn
dùng làm nền tảng tổng quát và vững chắc.
Sự
hiểu biết căn bản này sẽ giúp các bạn tạo nên những
thành quả tốt đẹp trong tương lai và sẽ trợ giúp các bạn
trong việc nghiên cứu và tìm hiểu các diễn giả khác.
Một
điểm nữa, hình thức của buổi nói chuyện hôm nay còn chuẩn
bị cho các bạn để trả lời những câu hỏi của người
ngoại quốc hay những người thuộc tôn giáo khác một cách
đúng đắn và không tạo nên các hiểu lầm về Giáo Pháp.
Xin
các bạn nhớ kỹ các điều vừa được trình bày vì đó
là cốt lõi của vấn đề. Chỉ cần nhớ hiểu chừng ấy
thôi, cũng sẽ đem lại nhiều lợi ích cho các bạn.
Giờ
đây tôi xin lần lượt bàn luận về các đề tài .
. .
. " . . . .
Giả
sử chúng ta được hỏi:
--
Đức Phật đã dạy chúng ta những gì?
Cách
trả lời hay nhất là trích dẫn những lời Phật dạy:
" Này
các tỳ kheo, Như Lai chỉ dạy về Dukkha ( đau khổ, bất toại
nguyện) và cách loại trừ Dukkhạ"
Dầu
câu trả lời này có phù hợp với ý nghĩ của bạn hay không
thì cũng nên ghi nhớ lấy . Có nhiều cách trả lời câu hỏi
này, nhưng câu nói trên của Đức Phật đã tóm gọn một
cách rõ ràng những lời dạy của Đức Phật.
Đức
Phật chỉ dạy về Đau khổ và sự dập tắt Đau khổ. Do
đó những câu hỏi chẳng liên quan đến Đau khổ và sự dập
tắt Đau khổ là những câu hỏi không thích nghi . Các bạn
chẳng cần quan tâm đến những câu hỏi như: "Sau khi chết,
có tái sanh hay không?" hoặc : "Sự tái sanh diễn ra như thế
nàỏ" Các câu hỏi như thế sẽ được đề cập
sau .
Tóm
lại, khi được hỏi rằng: " Đức Phật đã dạy chúng ta
những gí?", hãy trả lời: "Đức Phật chẳng dạy gì ngoài
Đau khổ và cách loại trừ Đau khổ.
..."...
Giả
thử chúng ta được hỏi :
--
"Đức Phật đã dạy đặc biệt những điều gì?"
A--
Đây là một vấn đề lớn, có thể trả lời bằng nhiều
cách.
Nếu
được hỏi như thế, trước tiên, chúng ta có thể trả lời
rằng, Đức Phật dạy chúng ta đi trên Trung Đạo, đừng quá
khổ hạnh mà cũng đừng quá dãi đãi; đừng ngả theo cực
đoan này cũng chẳng ngả theo cực đoan kia.
Một
mặt, chúng ta tránh quá ép xác khổ hạnh vì như thế sẽ
tạo ra nhiều khó khăn và rối rắm; mặt khác, hãy tránh xa
những phương pháp thực hành khiến cho dục lạc ngũ trần
phát sinh. Cũng như bảo rằng: "Hãy ăn, hãy uống, hãy vui đùa,
vì ngày mai chúng ta sẽ chết!" Đây là một câu nói trơ
trẽn, chỉ thích hợp với hạng người đắm đuối trong dục
lạc thế gian.
Ngược
lại với hai thái cực trên, Trung Đạo bao gồm: một mặt,
không tạo nên những cực nhọc đau khổ cho ta, mặt khác,
không để tâm đắm chìm trong dục lạc giác quan.
Đi
trên Trung Đạo là tạo cơ duyên và điều kiện thuận lợi
cho sự học hỏi và thực hành, đem đến kết quả là chấm
dứt Dukkha
Chữ
Trung Đạo có thể được áp dụng trong nhiều trường hợp
khác nhaụ
Trung
Đạo chẳng thể nào đưa bạn đi lạc đường. Trung Đạo
tạo phương tiện tốt đẹp để chúng ta thấy rõ được
chân lý: biết nhân, biết quả, biết đủ, biết đúng thời,
biết mình, biết người, biết cộng đồng.
Bảy
đức tính cao thượng này tạo thành những bước đi trên
Trung Đạo .
Đó
là một cách để trả lời câu hỏi trên.
B --
Chúng ta cũng có thể trả lời câu hỏi này bằng cách nói
rằng Đức Phật dạy sự Tự Lực. Một cách ngắn gọn, tự
lực là không dựa vào thời vận hay số mạng.
Chúng
ta không dựa vào các bậc Trời, ngay cả bậc thường được
gọi là Thượng Đế . Chúng ta phải tự lực. Hãy nhớ lời
Phật dạy: "Ta là nơi nương tựa của Ta" Ngay cả trong
các tôn giáo hữu thần cũng nói rằng: "Thượng Đế chỉ
cứu giúp những ai biết tự cứu lấy mình".
Trong
các tôn giáo khác, vấn đề tự cứu hay tự lực có thể
được nói đến ít hoặc nhiều, nhưng trong Phật giáo, vấn
đề tự cứu hay tự lực rất là quan trọng.
Người
nào bị phiền muộn, đau khổ chi phối, bị gạt gẫm, đau
thân, khổ tâm, thì phải biết quay về con đường tự cứu.
Đức
Phật dạy: " Chư Phật chỉ đơn thuần chỉ cho ta con đường.
Còn việc đi trên con đường ấy, mọi người phải cố gắng
tự làm lấỵ"
Tóm
lại, Đức Phật dạy "tự lực, tự cứu". Chúng ta hãy ghi
nhớ điều này .
C --
Một cách khác để trả lời câu hỏi trên là nhắc lại lời
Phật dạy:
" Mọi
sự vật đều bị chi phối bởi Nhân và Duyên (điều kiện).
Mọi sự vật nảy sinh tùy thuộc vào nguyên nhân và điều
kiện, đúng theo quy luật."
Tôn
giả A - Xà - Chí đã lập lại lời dạy này để giải
đáp cho Tôn giả Xá- lợi- phất, lúc Ngài chưa gia nhập Tăng
Đoàn: "Đức Phật dạy rằng, mọi sự vật khởi lên đều
có nguyên nhân; phải biết nguyên nhân của chúng cùng sự
chấm dứt nguyên nhân đó."
Đây
là một nguyên lý rất phù hợp với khoa học, và chúng ta
có thể nói rằng tất cả những lời dạy của Đức Phật
đều phù hợp với nguyên lý của khoa học. Đức Phật không
dùng những dữ kiện cá nhân hay chủ quan để làm tiêu chuẩn
trong sự dạy dỗ; nói cách khác, Phật giáo là một tôn giáo
của lý trí.
D --
Một cách trả lời khác là: Đức Phật đã dạy những qui
tắc thực hành : " Tránh làm điều ác, siêng làm việc lành,
thanh lọc tâm ý."
Ba
điều dạy trên được gọi là Ovàda-pàtimokkha (Giới bổn
căn bản), có nghiã là " tóm lược những lời khuyên dạy".
Tránh
ác và làm lành, là những điều dễ hiểu, nhưng giữ tâm
trong sạch là điều cần được giải thích rõ ràng`.
Một
người cứ nắm giữ và dính mắc, ngay cả dính mắc vào điều
lành thì cũng làm cho tâm thức người ấy bất an vì lo sợ
không nhận được điều lành, lo sợ bị mất mát các điều
tốt đang có, âu sầu, phiền muộn, và cho những cảm tính
đó là "của tôi".
Tất
cả những điều đó tạo nên đau khổ.
Mặc
dầu chúng ta có thể thành công trong việc tránh ác và làm
lành, nhưng chúng ta vẫn cần phải biết cách làm thế nào
để tâm được thanh tịnh.
Đừng
nắm giữ hay dính mắc vào bất cứ điều gì, đừng xem cái
gì là "Ta", hay "của Ta", vì như thế thì sự khốn khó và
đau khổ sẽ đè nặng trên vai ta .
Vậy
thì, đừng đội trên đầu một bao ngọc ngà, châu báu, vì
cũng nặng y như đội một bịch sỏi đá vậy . Hãy đặt
chúng xuống, đừng để vật nặng nào trên đầu (đầu ở
đây là tâm).
Đó
là ý nghĩa của sự thanh lọc.
Tóm
lại, Đức Phật dạy:
--
Thứ nhất là tránh làm điều ác,
--
thứ nhì là siêng làm điều lành,
--
và thứ ba là thanh lọc tâm.
E --
Và đây là một lời dạy quan trọng khác cần được nhắc
nhở luôn. Đức Phật dạy rằng:
--
" Các pháp hữu vi, (tức là mọi sự vật và mọi chúng sanh
trên thế gian) đều vô thường vì chúng luôn luôn trôi chảy,
biến đổi, hoại diệt. Chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức!
".
Hãy
thận trọng ghi nhớ lời dạy này . Mọi sự vật trên thế
gian đều luôn luôn trôi chảy, biến đổi, hoại diệt, nghĩa
là đều vô thường. Đừng đùa với chúng! Chúng sẽ cấu
xé bạn, sẽ tát vào mặt bạn, sẽ cột trói và giữ chặt
bạn. Rồi bạn sẽ ngồi bệt xuống đất mà khóc than, và
biết đâu lại muốn ... tự tử nữa!
Bây
giờ hãy đúc kết lại những cách trả lời về câu hỏi
trên. Nếu được hỏi: "Đức Phật đã dạy những điều
gì?", thì ta nên trả lời bằng một trong các câu sau đây
:
--
Ngài dạy chúng ta đi theo Trung Đạo;
--
Ngài dạy chúng ta phải tự lực, tự cứu;
--
Ngài dạy chúng ta phải hiểu rõ luật Nhân quả, phải biết
tạo nhân như thế nào để được hưởng quả tốt đẹp
như ý muốn
--
Ngài dạy chúng ta nguyên tắc thực hành: làm việc lành, tránh
việc ác, thanh lọc tâm ý;
--
Và Ngài nhắc nhở chúng ta rằng: Tất cả mọi sự, mọi vật
đều vô thường, biến đổi, chúng ta phải luôn luôn tỉnh
thức.
..."...
Giả
thử chúng ta được hỏi :
--
Xin nói một cách vắn tắt, thông điệp căn bản của Phật
giáo là gì?
Chúng
ta có thể trả lời ngắn gọn bằng một câu mà chính Đức
Phật đã dạy:
" Không
nên bám víu và nắm giữ vào bất cứ điều gì ".
Câu
này do chính đức Phật dạy và đã được lưu truyền đến
bây giờ.
Chúng
ta chẳng cần phí thì giờ tra cứu Tam Tạng kinh điển, vì
câu ngắn gọn này đã nói lên đầy đủ toàn thể giáo pháp
của Đức Phật:
" Không
nên bám giữ hay dính mắc vào bất cứ điều gì".
Lời
dạy này cho chúng ta biết rằng bám víu, nắm giữ là đau
khổ (dukkha)
Một
khi đã hiểu rõ điều đó, thì có thể coi như là ta đã hiểu
biết tất cả những lời dạy của Đức Phật, gồm trong
tám vạn bốn ngàn Pháp môn.
Và
khi chúng ta thực hành lời dạy này tức là chúng ta đã thực
hành Phật pháp một cách đầy đủ và trọn vẹn.
Vì
sao một người thất bại trong việc giữ gìn giới cấm?
Chính
là vì y đã bám víu và nắm giữ vào sự vật.
Nếu
y biết tự kềm chế, chẳng bám víu vào bất cứ sự vật
gì, loại bỏ được tham ái và sân hận, thì y chẳng thể
nào phạm giới .
Vì
sao tâm trí một người lại luôn xao lãng và chẳng thể định
tâm?
Là
vì y đang dính mắc vào một điều gì.
Một
người không có được trí tuệ nội quán cũng là do bám víu,
dính mắc.
Một
khi đã biết tập cách buông bỏ, không nắm giữ nữa, liền
đó người ấy sẽ đạt được các quả vị và cuối cùng
thành tựu Niết Bàn (Pali = Nibbàna ; Phạn = Nirvàna)
Đức
Phật là bậc hoàn toàn không hề bám víu vào điều gì.
Ngài
dạy phương pháp thực hành và kết quả của việc thực hành
đó là sự không nắm giữ.
Tăng
già (Sangha) bao gồm những người thực hành sự không nắ'm
giữ, một số còn đang thực tập và một số đã hoàn tất.
Vậy,
khi được yêu cầu tóm tắt Giáo pháp của Đức Phật trong
một câu ngắn, Đức Phật đã đáp :
" Không
nên bám víu nắm giữ bất cứ điều gì ".
..."...
Câu
hỏi tiếp theo là:
--
"Làm thế nào để Thực hành sự Không bám víu, nắm giữ
?
Nếu
một người ngoại quốc hỏi bạn làm thế nào để thực
hành việc không bám víu nắm giữ, thì bạn nên, một lần
nữa, đem câu nói của chính Đức Phật ra mà trả lời, chứ
không nên đưa ý kiến riêng của chúng tạ Đức Phật
chỉ dẫn cách thực hành thật đầy đủ như sau :
--
Khi thấy một vật, chỉ đơn thuần là thấy vật ấỵ
--
Khi nghe một âm thanh, chỉ đơn thuần là nghe âm thanh ấỵ
--
Khi ngửi một mùi gì, chỉ đơn thuần là ngửi mùi ấỵ
--
Khi nếm một vị gì, chỉ đơn thuần là nếm vị đó.
--
Khi thân xúc chạm một vật gì, chỉ đơn thuần là sự xúc
chạm.
--
Khi một đối tượng của tâm, chẳng hạn một ý nghĩ bất
thiện khởi sinh, hãy nhận biết và ghi nhận ý nghĩ bất thiện
ấỵ
Chúng
ta hãy nhắc lại lời dạy trên, để giúp cho những bạn nào
chưa từng được nghe đến câu ấỵ
--
Khi nhìn, chỉ có sự nhìn;
--
khi nghe, chỉ đơn thuần nghe;
--
khi ngửi , chỉ đơn thuần ngửi;
--
khi nếm, chỉ đơn thuần nếm;
--
khi thân xúc chạm vật gì, chỉ đơn thuần ghi nhận sự xúc
chạm;
--
và khi một đối tượng trong tâm khởi sinh, chỉ ý thức điều
đó.
Điều
nầy có nghiã là khi sự vật tiếp xúc qua giác quan, chúng
ta chỉ đơn thuần ghi nhận mà không nên để cho ý nghĩ "tôi"
"ta" khởi lên.
Nếu
chúng ta thực hành như thế thì ý niệm về "ta, tôi" không
khởi sinh được; và một khi "cái Ta" không có mặt, đau khổ
sẽ chấm dứt.
Cần
giải thích thêm câu " Khi thấy một vật gì, chỉ đơn thuần
là thấỵ" Khi có vật tiếp xúc với mắt, hãy quan sát
và nhận diện chúng, để biết cần phải làm gì, nhưng đừng
để cho yêu hay ghét khởi sinh. Nếu để cho yêu hiện khởi
thì tham muốn sẽ phát sinh, và bạn sẽ nắm giữ nó; nếu
để cho ghét khởi lên, thì sân hận sẽ phát sinh, và bạn
sẽ muốn hủy hoại nó. Thế là người thương hay người
ghét phát sinh. Đấy là điều được gọi là cái Ta, cái Tự
ngã. Vì dính mắc vào cái Ta, cái Tự ngã, nên chúng ta đau
khổ.
Khi
một sự thấy xẩy ra, hãy ý thức sáng suốt và chánh niệm.
Đừng để phiền não lôi cuốn để phải dính mắc. Hãy trau
giồi trí tuệ để biết điều gì cần phải làm cho đúng
và thích nghi . Nếu thấy không cần phải làm gì thì hãy quên
ngay điều đó. Nếu đang chờ đợi một kết quả nào về
điều ấy thì cứ tiến hành với ý thức sáng suốt và chánh
niệm, đừng để cho ý tưởng về "cái Ta" có dịp sanh khởị
Bằng cách này, bạn sẽ đạt được kết quả mong muốn mà
không có sự đau khổ nào xảy ra . Đó là nguyên tắc chính
xác để thực hành Giáo pháp, đáng được xem là tuyệt hảọ
Đức
Phật dạy :
--
Khi thấy, chỉ thuần là thấỵ
--
Khi nghe, chỉ thuần lànghe
--
Khi ngửi, chỉ thuần là ngửi
--
Khi xúc chạm, chỉ thuần cảm giác
--
Khi tâm nhận biết một đối tượng, chỉ thuần là sự nhận
biết.
Hãy
để sự vật ngưng lại ngay tại đó và trí tuệ nội quán
sẽ vận hành một cách tự nhiên. Hãy chọn lối đi đúng
đắn và thích hợp. Đừng tạo thêm "người thương" hay "kẻ
ghét". Đừng để cho tham ái tác động theo sự yêu ghét, vì
đấy chính là nguồn gốc của phiền não . Một tâm như thế
sẽ bị náo loạn, chẳng tự dọ Tâm ấy hoạt động không
có chút trí tuệ nội quán nào .
Tại
sao ta lại không đề cập đến những công đức đầy thắng
quả như giới, định, huệ, tạo phước hay bố thí? Chúng
ta làm phước đức, bố thí, giữ giới, phát triển định
tâm, và đạt trí huệ để trở nên một người an định.
Khi thấy, chỉ thấy; khi nghe, chỉ nghe. Nếu làm được
như thế, chúng ta sẽ trở nên một người an định. Khi tâm
ta ổn cố, không lay chuyển và quân bình, dầu cho đủ loại
sự vật tiếp xúc với chúng ta bằng nhiều cách qua nhiều
ngả giác quan khác nhau nhưng Tự Ngã vẫn không phát sinh được.
Làm phước và bố thí nhằm mục đích để loại bỏ Tự
Ngã. Giữ gìn giới luật là một phương thức để chế ngự
cái Ta . Tập trung tâm ý hay phát triển trí tuệ cũng để
loại trừ chấp Ngã. Chúng ta chẳng bàn đến những vấn đề
khác, ở đây chúng ta chỉ nói đến vấn đề khẩn cấp hằng
ngàỵ Hằng ngày, mắt ta thấy vật nầy, vật nọ; tai ta nghe
tiếng này, tiếng kia; mũi ta ngửi mùi thơm, mùi hôi, cả sáu
giác quan đều có sự tiếp xúc hằng ngày . Như thế, chỉ
cần thực tập công phu: " Thấy, chỉ thấy; Nghe, chỉ nghe
..." cũng đủ bao trùm tất cả mọi công phu thực tập.
Đó
chính là cốt tủy của sự thực hành Giáo pháp.
..."...
Giả
thử chúng ta được hỏi :
--
"Nơi nào chúng ta có thể tu học được"?
Lại
một lần nữa, chúng ta trả lời bằng cách trích dẫn những
lời dạy của Đức Phật:
--
"Ngay trong chính cái thân thước tám này, với các tri giác
và những hoạt động tâm ý " .
Hãy
học trong tấm thân con người cùng với các tri giác và hoạt
động tâm ý.
Tấm
thân " thước tám " này, còn đang sống động, cùng với các
tri giác, các hoạt động tâm ý, tất cả các phần đó lập
thành con người .
Sự
hiện diện của thức (tâm vương), bao hàm các tri giác, và
sự hiện diện của các hoạt động tâm ý bao hàm các kiến
thức và hoạt động tư tưởng.
Trong
tấm thân " thước tám " đó cùng với các tri giác và các
hoạt động tâm ý, Đức Phật đã cho biết rõ ràng :
thế gian, nguồn gốc của thế gian, sự tận diệt của thế
gian, cùng đường lối thực hành để hoàn thành sự diệt
tận nó.
Khi
Ngài nói đến nguồn gốc của thế gian, sự hoại diệt của
thế gian, cùng đường lối thực hành đưa đến sự tiêu
diệt hoàn toàn thế gian đó là Ngài muốn nói rằng : toàn
thể Giáo Pháp đều phải tìm thấy ngay trong thân tâm này
. Tu học ngay nơi tấm thân này .
Không
cần phải đến trường, vào hang động, lên rừng hoang, trèo
núi cao, hay vào tu viện. Các nơi đó đều nằm bên ngoài chúng
ta .
Hãy
xây dựng một ngôi trường bên trong, thiết lập một đại
học đường ngay trong thân thể này rồi hãy nghiên cứu, học
tập, sưu tầm, thám thính tìm ra sự thật về sự tạo khởi
của thế gian. Vì đâu thế gian lại là suối nguồn của đau
khổ, thế gian có thể được huỷ diệt hoàn toàn chăng (tức
là sự huỷ diệt của đau khổ) và làm cách nào để tận
diệt được nó.
Nói
cách khác hơn để diễn đạt lại ý này, đó là hãy tự
mình khám phá trở lại Bốn Chân Lý Cao Thượng (Tứ Diệu
Đế).
Đôi
khi Đức Phật dùng danh từ "thế gian", đôi khi Ngài dùng danh
từ "đau khổ" (dukkha).
Bản
chất của thế gian hay của sự đau khổ, bản chất sanh khởi
của thế gian, của đau khổ và nguồn gốc của thế gian,
của đau khổ, bản chất của sự hoàn toàn diệt tận của
thế gian, của đau khổ, cùng với bản chất của sự tu tập
để đi đến nơi chấm dứt thế gian, chấm dứt đau khổ;
những vấn đề đó cần được tìm tòi và nhận thấy ngay
trong thân tâm này, chớ chẳng ở nơi nào khác.
Nếu
ai đã tìm thấy các vấn đề trên tại một nơi nào khác,
thì đó chỉ là những bản tường trình ghi trong sách vở,
hoặc là lời đồn đãi, hay danh từ rỗng suông mà thôi, chớ
không phải là Chân lý.
Nếu
những vấn đề trên đã được tìm thấy ngay trong tấm thân
"thước tám" này, cùng với tâm ý, thì đó mới thật là Chân
lý.
Vậy
thì, nếu được hỏi:
--
"Cần phải tu học nơi nào ?",
bạn
sẽ đáp:
--
" Chúng ta tu học ngay trong tấm thân "thước tám" này, cùng
với tri giác và các hoạt động tâm ý ."
..."...
Bây
giờ, chúng ta có thể được hỏi tiếp, để hiểu rõ thêm
về Giáo Pháp:
--
" Giáp Pháp được so sánh với điều gì ?
Đức
Phật dạy:
--
Giáo Pháp có thể được so sánh với một chiếc bè.
Đức
Phật dùng chữ chiếc bè, bởi vì ngày xưa bè thường được
sử dụng để vượt sang sông và cách giải thích Giáo Pháp
như một chiếc bè như thế rất dễ hiểụ
Ví
dụ nầy mang một ý nghiã quan trọng. Chúng ta không nên quá
dính mắc vào Giáo Pháp đến nỗi quên cả chính mình, quá
hãnh diện mình là " ông thầy ", "học giả", hay "bậc trí
thức".
Nếu
chúng ta quên rằng Giáo Pháp chỉ như chiếc bè, thì các nguy
cơ trên sẽ khởi sinh.
Giáo
Pháp chỉ là một chiếc bè, một phương tiện chuyên chở
để đưa ta sang đến bờ bên kiạ
Khi
đã đến bờ bên kia và đặt chân lên đất liền rồi, chúng
ta chẳng dại gì mà vác chiếc bè đi theo ta nữa .
Ví
dụ đó nhằm mục đích dạy cho chúng ta nhận chân và sử
dụng Giáo Pháp như một phương tiện để đạt đến mục
đích, chớ không phải để bám níu, nắm giữ, dính mắc vào
Giáo Pháp mà quên cả chính mình.
Nếu
chúng ta không nhận chân ra được chức năng thật sự của
chiếc bè này thì chúng ta sẽ giữ nó lại để phô trương
hoặc để tranh cãi với kẻ khác.
Đôi
khi lại còn dùng chiếc bè để đua thuyền, thật là hao phí
và vô dụng.
Chiếc
bè phải được sử dụng đúng với mục đích của nó, là
để đưa ta sang sông.
Cũng
vậy, kiến thức về Giáo Pháp cần phải được sử dụng
để vượt qua biển khổ.
Không
nên dùng vào các mục đích tai hại, như để tranh cãi, hay
được dùng như một vật để tôn thờ, lễ bái.
Cuối
cùng, xin đừng bám chặt vào chiếc bè đến nỗi khi đã sang
bờ bên kia, chân đã đặt lên đất liền rồi mà vẫn còn
muốn mang kè kè chiếc bè theo mình.
Giáo
Pháp được ví như chiếc bè này phải được áp dụng cho
cả người xuất gia lẫn người tại gia .
..."...
Giả
sử chúng ta được hỏi:
--
Người cư sĩ tại gia cần phải tu học những gì?
Chúng
ta đừng mất thời giờ tìm câu trả lời theo ý riêng của
mình. Nếu người nào có ý riêng thì cũng tốt thôi . Nhưng
nếu muốn có một câu giải đáp phù hợp với lời Phật
dạy, thì chúng ta phải nói:
"Người
tại gia cư sĩ phải nghiên cứu tất cả kinh điển -- nghĩa
là những bài giảng -- mà Đức Phật đã dạy về "vô ngã",
"rỗng vắng", "không có cốt lõi" (sunnatà (*)"
Trước
hết, kinh (suttanta) là những lời dạy cốt yếu của Đức
Phật, được hệ thống hóa, trình bày khéo léo và xếp đặt
có thứ tự.
Chữ
suttanta được kết hợp bởi hai chữ: sutta và antạ "Sutta"
có nghĩa là những lời giảng và "anta" có nghĩa là mục đích
hay rốt ráọ
Như
vậy suttanta có nghĩa là những bài giảng khéo nói, khéo thuyết,
khéo trình bày, khéo hệ thống hóa . Cũng như chữ vedantạ
Veda là sự hiểu biết; vedanta là hiểu biết bản chất rốt
ráo của vấn đề, khéo trình bày, khéo hệ thống hóạ
Xin
nhớ rằng : Kinh chính là những lời dạy của Đức Như Laị
Tất cả kinh của Đức Phật thuyết giảng đều liên hệ
đến vô ngã, không có cốt lõi, rỗng vắng (Sunnatà).
Danh
từ Sunnatà (vô ngã, không có cốt lõi, rỗng vắng) có thể
dường như xa lạ đối với bạn, nhưng xin đừng vội chán
nản, bởi vì đây là một chữ rất quan trọng trong Phật
giáo .
Chữ
Sunnatà có thể được dịch là sự rỗng vắng; nhưng chữ
rỗng vắng thường có nhiều nghĩa và cách dùng khác nhaụ
Chữ Sunnatà trong Phật giáo không phải là sự rỗng vắng
về phương diện vật chất. Nó chẳng phải là một "khoảng
trống không" chẳng chứa đựng một chất liệu nào.
Rỗng vắng ở đây có nghĩa là không có chút bản chất thiết
yếu nào .
Mặc
dầu có rất nhiều sự vật tràn đầy khắp thế gian, nhưng
Đức Phật dạy rằng chúng là rỗng không bởi vì không có
lấy một chút gì nơi muôn vật đó có cái đáng xem là tự
ngã, là ta, hay thuộc về tự ngã, thuộc về ta .
Lời
dạy ấy nhằm mục tiêu chỉ rõ lại một lần nữa là chẳng
có gì đáng để bám víu, nắm giữ cả.
Sunnatà
là một chữ có nhiều ý nghĩa, nhưng đối với người tại
gia cư sĩ thì chỉ cần hiểu sunnatà là sự rỗng vắng, không
có cái Ta, hay cái gì thuộc về Ta . Khi tâm nhận ra rằng không
có gì là tự ngã, cũng không có gì thuộc về tự ngã, thì
tâm sẽ trở thành rỗng vắng và tự do .
" Thế
giới này sẽ trở thành rỗng vắng và tự do"
Sunnatà
chỉ có nghĩa như thế đó .
(*)
Giáo
lý Vô Ngã của Đức Phật được tiến dẫn vào trường phái
Đại Thừa, sau này thành Giáo Lý Tánh Không (tính chất trống
rỗng). Mặc dù ý niệm Tánh Không được nhà luận giải Đại
Thừa xuất chúng là ngài Long Thọ diễn dịch với rất nhiều
diễn giải khác nhau, thật ra cũng không có quan điểm nào
quá khác biệt giữa Tánh Không và Giáo Lý Vô Ngã nguyên thủy
của Đức Phật.
..."...
Giả
thử chúng ta được hỏi :
--
Thế nào là Amatadhamma ?
" Amata
" có nghiã là " bất tử" " vô sanh ". "Amatadhamma " là pháp
Bất Tử. Nhưng pháp Bất Tử có nghĩa là gì?
Đức
Phật đã dạy:
"
Sự chấm dứt tham, sân, si chính là pháp Bất Tử".
Bao
lâu chúng ta còn tham, sân, si thì còn có sự chết, còn có
sự đau khổ. Vì còn ngã kiến, còn Tôi, Ta, nên ta phải chịu
sanh, già, bịnh, chết.
Khi
tham, sân, si chấm dứt, ý niệm sai lầm về tự ngã không
khởi sinh thì làm gì có cái Ta để chết đị
Do
đó, nếu muốn đi tìm một trạng thái bất tử, amatadhamma,
thì chúng ta phải tìm những nguyên nhân và điều kiện để
loại trừ tham, sân, si . Đó là lời dạy của Đức Phật.
Pháp
Bất Tử, mà chúng ta thường được nghe, là những lời dạy
thâm sâu trong Phật giáo, khác với pháp bất tử được các
tôn giáo khác nói đến.
Bất
tử trong Phật giáo chỉ có nghĩa là chấm dứt tham, sân, si,
trong khi "bất tử" được nói đến trong các tôn giáo khác
là có một đời sống an vui vĩnh viễn, khác hẳn cảnh trần
thế.
..."...
Dưới
nhiều tên khác nhau, người ta đã nói đến Pháp (Chân Lý)
cao thượng nhất, thâm sâu nhất. Thí dụ như có người
hỏi :
--
"Pháp nào là Pháp cao thượng và thâm sâu nhất để vượt
khỏi thế gian và sự chết dưới mọi hình thức ?"
Đức
Phật gọi Pháp đó là Sunnàtappatisamyuttà, nghiã là " Pháp
dẫn đến Sunnatà " hay chính là Sunnatà.
Pháp
đưa đến Sunnatà là Pháp cao thượng nhất và thâm sâu nhất.
(*) Pháp ấy vượt cả thế gian, vượt cả sự chết.
Pháp ấy không gì khác hơn là Amatadhamma .
Vậy,
các bản dịch Giáo Pháp mới nhất, gần đây nhất, gồm những
gì?
Đức
Phật nói :
--
" Một bản Kinh, bất cứ thuộc loại nào, thuộc cấp bậc
nào, dầu do một thi sĩ hay nhà hiền triết nào sáng tác, dầu
dưới hình thức văn vần hoa lệ, hay âm vận du dương nào,
cũng không là Chánh Pháp nếu không có sự liên hệ đến Sunnatà
".
Xin
các bạn hãy nhớ kỹ các chữ quan trọng này : "Nếu không
có sự liên hệ đến Sunnatà ".
Vì
thế, nếu một bài Kinh nào không liên hệ đến Sunnatà thì
đó chỉ là lời nói của một người đệ tử về sau, một
sự canh cải, một giáo lý mới, chớ không phải là lời nói
của Đức Như Lai, và do đó, phải được xem là yếu kém
hơn. Nếu lời nói của một vị đệ tử mà không liên hệ
đến Sunnatà thì phải xem như ở ngoài Giáo pháp.
Nếu
chúng ta muốn tìm thấy Giáo pháp trung thực với lời dạy
nguyên thủy của Đức Phật, chẳng có cách nào khác hơn là
tìm xuyên qua các bài giảng về Sunnatà.
(*)
"Công
phu quán tưởng về lý Vô Ngã, để loại trừ sự chấp thủ
một Tự Ngã, trở thành một đường lối giải thoát gọi
là Không Tánh Tùy Quán, tức quán tưởng tính cách Rỗng Không
của sự vật".
Narada
Maha Thera -- Vi Diệu Pháp Toát Yếu, Chương 9 .
..."...
Giả
thử chúng ta được hỏi :
--
"Trong Kinh tạng Pali, điều gì được Đức Phật nhấn mạnh
nhiều nhất ?"
Một
lần nữa, chúng ta trả lời bằng cách trích lời Phật dạy:
" Ngũ uẩn là vô thường và vô ngã ".
Ngũ
uẩn là năm nhóm tập hợp mà gộp chung lại thì thành một
cá nhân.
--
Phần thân thể vật chất được gọi là sắc uẩn (rùpa);
--
Nhóm cảm thọ, cả thọ lạc lẫn thọ khổ, được gọi là
thọ uẩn (vedanà);
--
Ký ức và các tri giác gọi chung là tưởng uẩn (sanna);
--
Các tác động của tâm được gọi là hành uẩn (sankhàra);
--
Và tâm nhận biết được mọi đối tượng qua các giác quan
được gọi là thức uẩn (vinnàna).
Sắc
uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, và thức uẩn được
gọi là ngũ uẩn (khandas).
Năm
uẩn là vô thường (anicca) và vô ngã (anatta).
Đó
là điểm giáo lý được Đức Phật nhấn mạnh đến nhiều
nhất.
Năm
uẩn vô thường, liên tục trôi chảy, liên tục thay đổi
. Chúng không có Tự Ngã bởi vì chúng luôn luôn trôi chảy;
không nên cho rằng chúng là Ta, hoặc là của Ta .
Tôi
xin tóm lược lại lần nữa, xin ghi nhớ kỹ: Đức Phật luôn
nhấn mạnh đến điều này:
--
" Tất cả sự vật đều vô thường, đừng nên xem chúng là
Tôi, hay của Tôi "
.
. . . .
..."...
Giả
thử chúng ta được hỏi :
--
"Tâm của người thường và của người Phật tử khác nhau
như thế nào ? "
Giờ
đây chúng ta sẽ cứu xét sự khác biệt giữa tâm trí của
người thường và của một người Phật tử đúng nghĩa.
Người
thường ở đây có nghiã là người chưa thông hiểu và
chưa hề tu tập theo đường lối đích thực của Phật giáọ
Một
người thường có thể được gọi là Phật tử vì có
cha mẹ theo đạo Phật, vì theo trong bộ sổ khai sanh hay lý
lịch. Nhưng người đó vẫn chỉ là một người thường.
Để
trở thành một người Phật tử thật sự, một vị hiền
nhân, tức là một người có trình độ tu tập thâm sâu, thì
người đó cần phải có một sự hiểu biết đúng đắn (chánh
kiến) về rất nhiều điều chung quanh mình bằng một trình
độ thâm sâu hơn người thường.
Đức
Phật có nói :
--"
Giữa cái nhìn của bậc Thánh và cái nhìn của người thường
có một sự khác biệt rất lớn ".
Như
thế, dưới mắt của bậc Thánh và trong giới luật của bậc
này, ca hát cũng giống như than khóc, khiêu vũ là động tác
múa may của người khùng, còn cười ha hả là thái độ ấu
trĩ của trẻ con.
Người
thường cũng ca hát, cũng cười ha hả, để hưởng vui mà
chẳng để ý đến cái lúc họ thấm mệt.
Trong
giới luật của bậc Thánh, ca hát bị xem như khóc lóc. Thử
nhìn một người đang hát và cố gân cổ lên để hét
to, đó chẳng giống như đang khóc sao; hơn thế, nó phát xuất
từ xúc động tình cảm, nào có khác gì khóc. Khiêu vũ cũng
thế, giống như kẻ điên quay cuồng; hãy cứ quan sát
thì thấy, khi chúng ta đứng trên sàn nhảy, chúng ta phải
điên đến mười phần trăm, bằng không thì chẳng thể nào
nhún nhảy được.
Nhưng
đa số đều nghĩ đấy là cuộc vui giải trí, nên không nhận
ra đó là bộ dạng của người mất trí.
Có
người thích cười to, cười lớn tiếng là vì có điều thích
ý. Người ta rất hay cười như thế, cười ngay cả những
lúc không đáng cười hoặc chẳng có gì để cườị Nhưng
đối với bực thánh nhân và trong giới hạnh của họ thì
cười lớn tiếng là thái độ ấu trĩ trẻ con. Vậy chúng
ta nên cười ít đi, và nếu không cười to như thế thì lại
càng tốt hơn nữạ
Đây
là những thí dụ về sự khác biệt trong cách hành sử của
một vị thánh nhân có giới hạnh và của người thường.
Theo
các truyền thống của người thế gian ngoài đời thì ca hát,
múa vũ, cười to tiếng không tai hại gì và còn là những
cuộc vui thông thường. Trong khi các bậc giới hạnh thì cho
đó là một cái gì thật đáng thương hại và đánh giá những
điều ấy theo chiều suy nghĩ đó. Đây là cái nhìn của một
người mà tâm đã được huấn luyện thành thục.
Đức
Phật không cấm đoán làm những việc trên nếu chúng ta thích
làm; nhưng Ngài muốn ta hiểu rằng có thái độ trưởng thành
và có thái độ ấu trĩ và chúng ta không nên làm những hành
động không cần thiết. Khi chúng ta còn chưa là bực Thánh,
có thể chúng ta muốn thử làm chơi vài cử chỉ tầm thường
đó. Nếu thử một đôi lần, ta sẽ thấy lúc đầu có sự
thích thú, nhưng về sau, ta sẽ chán ngấỵ Và như thế, ta
có thể vươn lên đến gần hàng thánh thiện.
Vài
người chẳng thích nghe nói đến kỷ luật hay bàn đến giới
luật. Họ ngại rằng sự kềm chế sẽ đưa đến đau khổ
(dukkha).
Tuy
nhiên, huấn luyện tâm để không buông trôi theo tính khí thay
đổi thất thường là một nguyên tắc quan trọng trong Phật
giáọ Kềm chế thân tâm để khỏi chiều theo tính khí như
thế đâu phải là đau khổ. Trái lại, đó chính là phương
pháp để chiến thắng đau khổ. Ta phải tìm cách tránh bị
thúc bách bởi các cảm xúc vị kỷ hay ô nhiễm.
Phải quyết tâm không để cho ô nhiễm cám dỗ, thúc
dục và ngự trị chúng tạ Hãy nhìn vào các cặp khiêu vũ,
và xem các ô nhiễm đang kích thích họ ra sao, áp đảo và
chế phục họ như thế nào; ta gọi đó là sự tự do sao ?
Cho
nên, chúng ta phải tìm cách cải thiện thân phận của chúng
tạ Đừng mãi mãi là " người thường "! Hãy ghi tên xin gia
nhập vào cộng đồng của Đức Phật, tức là thâu thập
kiến thức, trí huệ, tỉnh thức và chánh kiến để
đau khổ giảm dần.
Tránh
làm các điều không cần thiết, chỉ tạo thêm bất lợi và
khó nhọc cho chúng tạ Đấy chính là phần thưởng mà bạn
sẽ gặt hái được : bạn sẽ bước từ cấp thường nhân
lên hàng Phật tử chân chánh, rồi đến bực Thánh và an trú
trong giới luật của hàng Thánh nàỵ Đức Phật khi xưa vẫn
hy vọng rằng sẽ có thật nhiều bậc thánh nhân trong hàng
những người muốn thoát khỏi đời phàm tục.
..."...
Ngay
đây, tôi xin bàn đến Con đường Đạo .
Nếu
có ai hỏi bạn:
--
Tu tập như thế nào là đi đúng trên Con Đường Đạo ?
--
Trong giáo lý căn bản, Bát Chánh Đạo gồm có : Chánh kiến,
Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh mạng, Chánh nghiệp, Chánh tinh
tấn, Chánh niệm và Chánh định. Tám yếu tố này có thể
được qui về ba nhóm : Giới, Định, Tuệ, hợp thành một
hệ thống để thực hành Bát Chánh Đạo là con đường duy
nhất đưa đến giải thoát giác ngộ.
Trong
thực hành, chúng ta phải luôn luôn quán sát thân tâm một
cách chánh niệm. Khi chúng ta chỉ đơn thuần quán sát thân
tâm, biểu hiện qua sáu giác quan mà không thêm bất kỳ một
yếu tố nào vào,có nghĩa là không xem thân tâm là "tôi" ,
"ta", tức là chúng ta đang thực hành Bát Chánh Đạo .
Trước
nhất, chúng ta nên biết đến sáu giác quan: mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và tâm. Mỗi giác quan có năm yếu tố.
Chẳng
hạn về sự thấy, ta có :
1 -
Mắt : cơ quan thâu nhận hình sắc
2
- Vật thấy : đối tượng phát động
3
- Thức : sự nhận biết đối tượng
4
- Sự xúc chạm : sự xúx chạm xẩy ra giữa mắt, vật thấy
và nhãn thức
5
- Cảm thọ : khổ, lạc, hoặc không khổ không lạc
Nếu
thiếu chánh niệm, ta sẽ nắm giữ vào một hay nhiều yếu
tố trên của sự thấy và xem chúng là "tôi", "ta". Chẳng hạn
như chúng ta bám víu vào sự nhận biết vật thấy (nhãn thức)
và xem nó là tôi, ta, hay tự ngã. Bởi vì qua nhãn thức, ta
có thể nhận biết được đối tượng nên ta kết luận
ngay là phải có cái "ta" để làm công việc nhận
biết đó.
Tương
tự như thế, chúng ta bám víu vào xúc, vào thọ, và xem
chúng là của tôi, ta .
Đôi
khi một âm thanh du dương đến với ta và ta bám víu vào sự
nhận biết (nhĩ thức) và xem nó là ta, tôi, hay tự ngã.
Mỗi
giác quan có năm yếu tố, tổng cộng là ba mươi yếu tố.
Mỗi yếu tố đều có thể bị ta nắm giữ lấy làm cái "ta"
nhiều lần trong ngày một cách dễ dàng.
Vừa
mới có sự dính mắc vào sự vật thì liền sau đó đau khổ
khởi sinh. Thế là ta đã lầm lỡ và tự đẩy mình vào
mạng lưới chằng chịt khổ đau .
Đó
không phải là đang đi theo đường đạo vì Đức Phật dạy
chúng ta đừng chấp chặt vào sáu giác quan cùng các đối
tượng liên hệ đến chúng.
Nhờ
luôn luôn canh phòng bằng chánh niệm nên chúng ta không nhận
giác quan nào hay đối tượng nào làm cái "ta" cả,
và chính ngay lúc đó Bát Chánh Đạo (Chánh kiến, Chánh tư
duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh
niệm và Chánh định) khởi sinh.
Thực
tập không chấp chặt vào sáu giác quan là nguyên nhân khiến
Bát Chánh Đạo khởi sinh tức thì.
. .
. ". . .
Giờ
đây, tôi sẽ bàn về Nghiệp lực trong đạo Phật qua câu
hỏi này:
--
"Nghiệp lực có vai trò nào trong Phật học?"
--
Nhiều người Tây phương đã viết những sách về Phật giáo
và dường như họ rất lấy làm hãnh diện về các chương
nói về Nghiệp lực và Tái sanh. Nhưng họđã giải thích rất
sai lầm, hoàn toàn sai lầm. Họ muốn giải nghiã chữ Nghiệp
lực, nhưng tựu trung chỉ mang ý nghĩa " nghiệp thiện là tốt,
nghiệp ác là xấu", " làm điều tốt, hưởng quả tốt, làm
điều xấu, chịu quả xấu", chỉ chừng ấy thôị Sự giải
thích về nghiệp báo như thế này thì cũng giống như sự
giải thích về nghiệp báo trong các tôn giáo khác. Đó không
phải là Nghiệp báo được dậy trong Phật giáo .
Đối
với sự tái sanh cũng vậỵ Họ tuyên bố rất mạnh mẽ
như chính mắt họ trông thấy rõ ràng chính các cá nhân nầy
đang tái sanh lạị Họ đã giải thích sai lầm điều chánh
yếu mà đức Phật đã dạy là không có sự hiện hữu của
"cá nhân" hoặc "Tự ngã". Mặc dầu tôi đang ngồi đây, nhưng
chẳng có cá nhân nào ở đây cả. Khi đã không có cá nhân
nào thì lấy ai để mà chết, lấy ai để tái sanh? Đức
Phật đã giảng dạy sự bất hiện hữu của " cá nhân ".
Như thế, sanh và tử dưới mắt của chúng ta thật ra chỉ
là những danh từ chế định.
Chúng
ta cần phải có sự hiểu biết rõ ràng hơn về nghiệp lực.
Đối
với Phật giáo, thì vấn đề quan trọng là chấm dứt nghiệp
báo, chứ không phải chính nghiệp báo và quả của nghiệp.
Trong
Phật giáo, có danh từ sabbakammakkhayam-patto, người đã đạt
được sự chấm dứt tất cả các nghiệp. Đức Phật dạy
rằng nghiệp lực chấm dứt khi tham, sân, si chấm dứt. Nói
khác hơn, nghiệp lực chấm dứt khi phiền não chấm dứt.
Điều này thật dễ nhớ. Khi còn tham, sân, si thì còn nghiệp
lực. Một khi tham, sân, si chấm dứt thì nghiệp quá khứ chấm
dứt, không tạo nghiệp hiện tại và cũng không tạo nghiệp
tương laị Như vậy, nghiệp quá khứ chấm dứt, nghiệp
hiện tại và nghiệp tương lai không có. Đây là điểm khác
biệt giữa nghiệp lực trong Phật giáo và nghiệp lực trong
các tôn giáo khác.
Có
ba loại nghiệp nhưng phần đống chúng ta chỉ biết đến
hai loại : thiện nghiệp và ác nghiệp, mà không biết đến
nghiệp lực thứ bạ Đức Phật gọi loại thứ nhứt là bạch
nghiệp hay thiện nghiệp tức là nghiệp trắng, nghiệp tốt;
loại thứ hai là hắc nghiệp hay ác nghiệp, tức là nghiệp
đen, hay nghiệp dữ. loại thứ ba có thể gọi là nghiệp không
trắng không đen, là loại nghiệp nhằm chấm dứt cả hai loại
: nghiệp trắng và nghiệp đen.
Chính
là loại thứ ba nầy mới đúng theo nghĩa nghiệp lực của
Phật giáo vì đây là loại nghiệp chấm dứt tham, sân,
si; chấm dứt phiền não .
Loại
nghiệp lực thứ ba này chính là Bát Chánh Đạo . Nghiệp lực
này chẳng trắng chẳng đen và có khả năng đưa đến sự
chấm dứt bạch nghiệp và hắc nghiệp. Nó là con đường
siêu thoát khỏi thế gian, vượt lên cả điều thiện
lẫn điều ác.
Loại
nghiệp thứ ba nầy không hề được các người Tây phương
đề cập đến trong các chương sách của họ nói về "Nghiệp
lực và Tái sanh" . Những lời dẫn giải của họ đa số đều
phiến diện, thiếu chính xác. Để theo đúng giáo lý
Phật giáo, họ phải chú trọng luôn cả loại nghiệp lực
thứ ba, tức là loại nghiệp lực có khả năng chấm dứt
tham, sân, si, chấm dứt mọi nghiệp cũ, cả đen lẫn trắng.
Về
loại nghiệp thứ ba nầy, Đức Phật đã nói :
--
" Như Lai đã đạt được sự hiểu biết rõ ràng về loại
nghiệp lực này bằng trí tuệ cao cả của chính Như Laị
"
Những
lời dạy về nghiệp lực thứ ba này không thể tìm thấy
trong bất cứ giáo lý của một tôn giáo nào trên thế giớị
Chính Đức Phật khám phá ra loại nghiệp thứ ba này, bằng
trí tuệ của Ngài và chỉ dạy lại mọi ngườị Như vậy
chúng ta phải nhớ kỹ rằng lời dạy về loại nghiệp lực
thứ ba này chính là lời dạy đích thực của Đức Phật
về Nghiệp báọ Mọi cuốn sách nói về nghiệp báo và tái
sanh của Phật giáo, đều phải được viết theo chiều hướng
nàỵ Các bạn nên chú tâm nghiên cứu kỹ lưỡng đến sự
giải thích về nghiệp báo theo Phật giáọ
Vậy
thì về Nghiệp lực, chỉ riêng có Đức Phật mới thuyết
giảng đầy đủ công năng, vai trò của loại nghiệp thứ
ba là chấm dứt tham, sân, si . Chính nhờ loại Nghiệp lực
nầy mà bậc tu hành mới chứng đắc quả vị Niết bàn.
..."...
Bây
giờ tôi muốn lưu ý các bạn đến một vấn đề mà tôi
nghĩ các bạn sẽ quan tâm nhiềụ Câu hỏi nêu ra như sau:
--
"Có cần phải nghe chính Đức Phật giảng Pháp mới có thể
chấm dứt đau khổ chăng? "
Có
vài người quả quyết rằng ta cần phải được nghe chính
Đức Phật thuyết giảng thì mới có thể thật sự hiểu
rõ được Giáo Pháp.
Nhưng
Đức Phật cũng nói là có nhiều người, mặc dầu không được
nghe Giáo Pháp do chính Ngài thuyết giảng, vẫn có thể đi
theo con đường chánh đạọ Đã có nhiều người, dầu chẳng
được nghe Pháp từ chính Đức Phật, nhưng qua sự thực hành
Bát Chánh Đạo một cách bền bỉ và nghiêm mật, vẫn có
thể đi đúng con đường chánh đạo .
Thế
nên, chúng ta nên chắp tay ngưỡng mộ lòng từ bi của Đức
Phật đã không xem Giáo Pháp là sở hữu độc quyền của
mình và cũng chẳng hề tự xem mình là cần thiết.
..."...
Giả
thử chúng ta được hỏi :
--
"Làm cách nào để giải quyết khi có nghi vấn về một giáo
lý không biết có phải do Đức Phật dạy ?"
Đức
Phật có đặt ra một nguyên tắc để trắc nghiệm:
" Cứu
xét và đối chiếu với Kinh Tạng (Suttas) và so sánh với Luật
Tạng (Vinaya)."
Nguyên
tắc căn bản là không nên tin tưởng vào điều gì do ghi chép
lại hay được giảng lại và không nên công nhận ai là người
đủ thẩm quyền.
Nếu
có sự nghi ngờ về bất cứ lời nói nào mà họ tự nhận
là đã nghe từ Đức Phật hoặc từ một nhóm Trưởng lão
thông thái về những đề tài liên quan tới việc đưa đến
sự chấm dứt đau khổ, Đức Phật dạy rằng ta cần phải
trắc nghiệm điều ấy theo hai cách :
1.-
Xem xét và đối chiếu với Kinh Tạng. Các bộ Kinh là một
hệ thống các bài pháp lập thành một đường hướng phân
minh. Nếu lời phát biểu nào đó không theo đúng đường hướng
trong kinh thì phải gạt bỏ đị
2.-
Đối chiếu với Luật Tạng. Các Giới Luật là oai nghi khuôn
mẫu, là tiêu chuẩn phẩm hạnh, một hệ thống cố định.
Nếu lời phát biểu nào đó không phù hợp với hệ thống
đó, giới luật đó, thì phải gạt bỏ đị
Đừng
quá tin cậy vào tỳ kheo nào, hay thành phần nào của Tăng
già, nhóm Trưởng lão, hay bất kỳ một người nào tự nhận
là có kiến thức về pháp học hoặc pháp hành, hoặc cho rằng
chính họ đã nghe như vậy từ chính Đức Phật. Ngài luôn
luôn đòi hỏi chúng ta trước khi chấp nhận một điều gì,
phải đặt nghi vấn rồi điều trạ Sau đó đối chiếu lại
với Kinh Tạng, xem có thích nghi không; hay đối chiếu với
Luật Tạng, xem có phù hợp không?
Đây
là những nguyên tắc để bảo đảm rằng, dù Phật giáo trải
qua 2000 năm, 3000 năm, 5000 năm, hay chục ngàn năm, hay bao lâu
đi nữa, nếu luôn luôn áp dụng nguyên tắc này thì Giáo Pháp
và Giới Luật không thể bị bóp mép hay lầm lẫn.
Thế
nên đây là một nguyên tắc rất hữu dụng. Đức Phật dạy
hãy lấy Giáo Pháp và Giới Luật để trắc nghiệm mọi thứ.
Và
đây chính là Đại Tiêu Chuẩn.
(Còn
tiếp)