SỐ 304 THÁNG 04 NĂM 2003
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
Trích PHẬT  PHÁP CHO SINH VIÊN
(BUDDHA - DHAMMA FOR STUDENTS)
Thiện Nhựt lược dịch.

Nguyên tác : Lak Dhamma Samrab Nak Seuksa của Buddhadàsa Bhikkhu bằng Thái ngữ ; Bản dịch ra Anh văn của Rod Bucknell;Thiện Nhựt lược dịch sang Việt ngữ .
(Phần Một)

VÀI  NÉT  VỀ  TÁC  GIẢ

Tỳ kheo Phật Lệ, Buddhadàsa Bhikkhu (Người hầu của đức Phật) xuất gia năm 1926, lúc Người được hai mươi tuổi .

Sau vài năm theo học ở Bangkok, Người quay về sống với thiên nhiên để nghiên cứu Phật pháp và thành lập thiền viện Suan Mokkhabalàràma (khu vườn của Năng Lực Giải Thoát) vào năm 1932, ở gần quê Người là thành phố Pum Riang thuộc quận Chaiya . 

Vào thời đó, Suan Mokkh là Trung Tâm Phật Giáo duy nhất và là một trong rất ít những trung tâm chuyên dạy thực tập Thiền Minh Sát ở miền Nam nước Tháị 

Tiếng đồn về Tỳ Kheo Phật Lệ và các công trình của  Người ở Tùng Lâm Suan Mokkh chẳng bao lâu đã lan khắp nước và được xem đó như là một trong những biến cố quan trọng về lịch sử Phật giáo ở Thái Lan.

Xin được kể lại sau đây một vài công đức mà Người đã cung hiến cho Phật giáo .

Ajahn Buddhadàsa đã dầy công chỉnh đốn lại các giải thích sai lầm về các nguyên tắc căn bản của giáo lý Phật giáo Nguyên Thủy . Công phu này dựa trên sự thâm cứu của Người về các kinh văn Pali (Tam Tạng Kinh Điển và các Chú Giải), đặc biệt là phần Kinh Tạng, cộng thêm các kinh nghiệm tu tập và chứng nghiệm của Người về các giáo lý đó . Rồi người truyền dạy lại những gì mà Người có thể nói là thật sự dập tắt đau khổ, dukkha . 

Chí nguyện của Người đã tạo nên một hệ thống tham chiếu kinh điển đầy đủ để giúp cho các công cuộc khảo cứu hiện nay và mai sau . Phương cách tiến hành sự nghiên cứu của Người luôn luôn có tính cách khoa học, chân trực và thực tiễn.

Mặc dầu quá trình học vấn phổ thông của Người chỉ đến lớp Chín và khóa sơ đẳng về Pali, Người được các viện Đại Học Thái Lan long trọng trao tặng đến năm văn bằng Tiến Sĩ danh dự Tác phẩm của Người, vừa sáng tác, vừa các bài pháp giảng được ghi lại, đã chiếm một căn phòng lớn trong Thư Viện Quốc Gia và có ảnh hưởng rộng lớn đến các Phật tử thuần thành của Thái Lan. Cuộc đời và các công trình của Người vẫn còn là đề tài cho các luận án tiến sĩ.  Sách của Người bày bán nhiều nơi trong nước Thái.

Các phần tử tiến bộ trong xã hội Thái, nhất là giới trẻ, rất hứng khởi trước lời giáo huấn và nhất là trước tấm gương vị tha của Người.  Từ dạo năm 1960 trở đi, các thành phần tranh đấu và các lý thuyết gia trong các địa hạt giáo dục, an sinh xã hội, phát triển nông thôn, đã mang ra ứng dụng các lời giáo huấn và khuyến cáo của Người . Người đã tạo ảnh hưởng tốt cho rất nhiều các vị tăng sĩ tham gia vào các công tác bảo vệ thiên nhiên và phát triển cộng đồng. Người cũng tạo một sự liên kết giữa các quy luật giáo điều và các cách thức hành đạo thực tiễn.

Kể từ khi thành lập Tùng Lâm Suan Mokkh, Người đã nghiên cứu tất cả mọi hệ phái của Phật giáo, cũng như các tôn giáo lớn trên thế giới . Sự lưu tâm của Người có tính cách thực tiễn hơn là nặng về từ chương, sách vở. Người tìm cách kết thân với các bậc chân tu để cùng nhau hợp tác trong việc giúp nhân loại thoát khổ bằng cách tận diệt lòng vị kỷ. Tâm hồn khoáng đạt đó của Người đã đưa đến gần bên Người nhiều bằng hữu và sinh viên, kể cả những người thuộc các tôn giáo khác như Cơ Đốc giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, Sikhs, v.v..., khắp nơi trên thế giới .

Dự án cuối cùng của Người là thành lập một Trung Tâm Quốc Tế ẩn tu Phật pháp. Cùng với Tùng Lâm Suan Mokkh, Trung Tâm này nhằm cung cấp phương tiện cho:

-- Các khóa nhập môn, dành cho các thân hữu Thái và ngoại quốc, về chân lý được giảng trong giáo pháp của đức Phật và làm quen với hệ thống luyện tập tâm linh của Phật giáo

-- Các cuộc hội thảo giữa các Phật tử trên thế giới để luận bàn và chấp nhận về "Trái Tim của Phật giáo".

-- Các cuộc hội họp giữa các đại diện của các cộng đồng tôn giáo khác nhau ở Thái (và sau đó, trên toàn thế giới), để thảo luận và phát triển sự thông cảm lẫn nhau và hợp tác vì lợi ích hòa bình cho thế giới .

Tỳ kheo Buddhadàsa đã từ trần vào năm 1993 sau nhiều lần cố gắng chống cự với những cơn đau tim đột biến và các lần bị tai biến mạch máu não . Cơn tai biến mạch máu não sau cùng xẩy ra vào lúc Người đang sửa soạn bài pháp cho buổi pháp thoại vào ngày sinh nhật của Người tức là đúng hai ngày sau đó .

(Phật Pháp cho Sinh Viên, trang 9)
 

LỜI  TÁC  GIẢ

Thưa các Bạn Đạo, 

Buổi nói chuyện hôm nay có tựa đề là "Phật Pháp cho Sinh Viên"

Tôi muốn nói rõ với các bạn rằng buổi nó chuyện này sẽ bàn đến các điều cơ bản và các nguyên lý căn bản, đặc biệt dành cho các sinh viên, tức là các người thông minh trí thức. Tôi sẽ bàn luận đến các nguyên lý căn bản về Giáo Pháp (sự thật hiển nhiên) dưới hình thức vấn đáp, trước là đặt câu hỏi với các bạn, sau đó sẽ trả lời .

Được nghe câu hỏi trước, các bạn sẽ thấy câu trả lời dễ hiểu và dễ nhớ hơn.

Tôi nghĩ rằng đây là cách thích hợp nhất để trình bày với các bạn sinh viên. Vào thời Đức Phật, các bậc trí thức chẳng hỏi gì ngoài các điểm chủ yếu và các nguyên lý căn bản. Họ không thích nghe những lời giải thích dài dòng. Điều này có nhiều lợi điểm, nhất là tiết kiệm được thời giờ.

Và đó là việc tôi sẽ làm ngày hôm nay : 

-- Đặt một câu hỏi ...
-- nêu ra một đề tài ...
-- rồi trả lời câu hỏi đó với các nguyên lý căn bản.

Bằng cách ấy các bạn sẽ biết được những điều thiết yếu về một số lớn đề tài cùng các sự kiện, giúp các bạn dùng làm nền tảng tổng quát và vững chắc.

Sự hiểu biết căn bản này sẽ giúp các bạn tạo nên những thành quả tốt đẹp trong tương lai và sẽ trợ giúp các bạn trong việc nghiên cứu và tìm hiểu các diễn giả khác.

Một điểm nữa, hình thức của buổi nói chuyện hôm nay còn chuẩn bị cho các bạn để trả lời những câu hỏi của người ngoại quốc hay những người thuộc tôn giáo khác một cách đúng đắn và không tạo nên các hiểu lầm về Giáo Pháp.

Xin các bạn nhớ kỹ các điều vừa được trình bày vì đó là cốt lõi của vấn đề. Chỉ cần nhớ hiểu chừng ấy thôi, cũng sẽ đem lại nhiều lợi ích cho các bạn.

Giờ đây tôi xin lần lượt bàn luận về các đề tài .
 

. . . " . . . .  

Giả sử chúng ta được hỏi:

-- Đức Phật đã dạy chúng ta những gì?

Cách trả lời hay nhất là trích dẫn những lời Phật dạy:

" Này các tỳ kheo, Như Lai chỉ dạy về Dukkha ( đau khổ, bất toại nguyện) và cách loại trừ Dukkhạ"

Dầu câu trả lời này có phù hợp với ý nghĩ của bạn hay không thì cũng nên ghi nhớ lấy . Có nhiều cách trả lời câu hỏi này, nhưng câu nói trên của Đức Phật đã tóm gọn một cách rõ ràng những lời dạy của Đức Phật.

Đức Phật chỉ dạy về Đau khổ và sự dập tắt Đau khổ. Do đó những câu hỏi chẳng liên quan đến Đau khổ và sự dập tắt Đau khổ là những câu hỏi không thích nghi . Các bạn chẳng cần quan tâm đến những câu hỏi như: "Sau khi chết, có tái sanh hay không?" hoặc : "Sự tái sanh diễn ra như thế nàỏ"  Các câu hỏi như thế  sẽ được đề cập sau .

Tóm lại, khi được hỏi rằng: " Đức Phật đã dạy chúng ta những gí?", hãy trả lời: "Đức Phật chẳng dạy gì ngoài Đau khổ và cách loại trừ Đau khổ.

..."...

Giả thử chúng ta được hỏi :   

-- "Đức Phật đã dạy đặc biệt những điều gì?"

A-- Đây là một vấn đề lớn, có thể trả lời bằng nhiều cách. 

Nếu được hỏi như thế, trước tiên, chúng ta có thể trả lời rằng, Đức Phật dạy chúng ta đi trên Trung Đạo, đừng quá khổ hạnh mà cũng đừng quá dãi đãi; đừng ngả theo cực đoan này cũng chẳng ngả theo cực đoan kia. 

Một mặt, chúng ta tránh quá ép xác khổ hạnh vì như thế sẽ tạo ra nhiều khó khăn và rối rắm; mặt khác, hãy tránh xa những phương pháp thực hành khiến cho dục lạc ngũ trần phát sinh. Cũng như bảo rằng: "Hãy ăn, hãy uống, hãy vui đùa, vì ngày mai chúng ta sẽ chết!"  Đây là một câu nói trơ trẽn, chỉ thích hợp với hạng người đắm đuối trong dục lạc thế gian. 

Ngược lại với hai thái cực trên, Trung Đạo bao gồm: một mặt, không tạo nên những cực nhọc đau khổ cho ta, mặt khác, không để tâm đắm chìm trong dục lạc giác quan.

Đi trên Trung Đạo là tạo cơ duyên và điều kiện thuận lợi cho sự học hỏi và thực hành, đem đến kết quả là chấm dứt Dukkha

Chữ Trung Đạo có thể được áp dụng trong nhiều trường hợp khác nhaụ 

Trung Đạo chẳng thể nào đưa bạn đi lạc đường. Trung Đạo tạo phương tiện tốt đẹp để chúng ta thấy rõ được chân lý: biết nhân, biết quả, biết đủ, biết đúng thời, biết mình, biết người, biết cộng đồng.

Bảy đức tính cao thượng này tạo thành những bước đi trên Trung Đạo .

Đó là một cách để trả lời câu hỏi trên.

B -- Chúng ta cũng có thể trả lời câu hỏi này bằng cách nói rằng Đức Phật dạy sự Tự Lực. Một cách ngắn gọn, tự lực là không dựa vào thời vận hay số mạng.

Chúng ta không dựa vào các bậc Trời, ngay cả bậc thường được gọi là Thượng Đế . Chúng ta phải tự lực. Hãy nhớ lời Phật dạy: "Ta là nơi nương tựa của Ta"  Ngay cả trong các tôn giáo hữu thần cũng nói rằng: "Thượng Đế chỉ cứu giúp những ai biết tự cứu lấy mình". 

Trong các tôn giáo khác, vấn đề tự cứu hay tự lực có thể được nói đến ít hoặc nhiều, nhưng trong Phật giáo, vấn đề tự cứu hay tự lực rất là quan trọng. 

Người nào bị phiền muộn, đau khổ chi phối, bị gạt gẫm, đau thân, khổ tâm, thì phải biết quay về con đường tự cứu. 

Đức Phật dạy: " Chư Phật chỉ đơn thuần chỉ cho ta con đường. Còn việc đi trên con đường ấy, mọi người phải cố gắng tự làm lấỵ" 

Tóm lại, Đức Phật dạy "tự lực, tự cứu". Chúng ta hãy ghi nhớ điều này .

C -- Một cách khác để trả lời câu hỏi trên là nhắc lại lời Phật dạy: 

" Mọi sự vật đều bị chi phối bởi Nhân và Duyên (điều kiện). Mọi sự vật nảy sinh tùy thuộc vào nguyên nhân và điều kiện, đúng theo quy luật." 

Tôn giả A - Xà - Chí  đã lập lại lời dạy này để giải đáp cho Tôn giả Xá- lợi- phất, lúc Ngài chưa gia nhập Tăng Đoàn: "Đức Phật dạy rằng, mọi sự vật khởi lên đều có nguyên nhân; phải biết nguyên nhân của chúng cùng sự chấm dứt nguyên nhân đó." 

Đây là một nguyên lý rất phù hợp với khoa học, và chúng ta có thể nói rằng tất cả những lời dạy của Đức Phật đều phù hợp với nguyên lý của khoa học. Đức Phật không dùng những dữ kiện cá nhân hay chủ quan để làm tiêu chuẩn trong sự dạy dỗ; nói cách khác, Phật giáo là một tôn giáo của lý trí.

D -- Một cách trả lời khác là: Đức Phật đã dạy những qui tắc thực hành : " Tránh làm điều ác, siêng làm việc lành, thanh lọc tâm ý." 

Ba điều dạy trên được gọi là Ovàda-pàtimokkha (Giới bổn căn bản), có nghiã là " tóm lược những lời khuyên dạy". 

Tránh ác và làm lành, là những điều dễ hiểu, nhưng giữ tâm trong sạch là điều cần được giải thích rõ ràng`. 

Một người cứ nắm giữ và dính mắc, ngay cả dính mắc vào điều lành thì cũng làm cho tâm thức người ấy bất an vì lo sợ không nhận được điều lành, lo sợ bị mất mát các điều tốt đang có, âu sầu, phiền muộn, và cho những cảm tính đó là "của tôi". 

Tất cả những điều đó tạo nên đau khổ. 

Mặc dầu chúng ta có thể thành công trong việc tránh ác và làm lành, nhưng chúng ta vẫn cần phải biết cách làm thế nào để tâm được thanh tịnh. 

Đừng nắm giữ hay dính mắc vào bất cứ điều gì, đừng xem cái gì là "Ta", hay "của Ta", vì như thế thì sự khốn khó và đau khổ sẽ đè nặng trên vai ta .

Vậy thì, đừng đội trên đầu một bao ngọc ngà, châu báu, vì cũng nặng y như đội một bịch sỏi đá vậy . Hãy đặt chúng xuống, đừng để vật nặng nào trên đầu (đầu ở đây là tâm). 

Đó là ý nghĩa của sự thanh lọc.

Tóm lại, Đức Phật dạy:

-- Thứ nhất là tránh làm điều ác, 

-- thứ nhì là siêng làm điều lành,

-- và thứ ba là thanh lọc tâm.

E --  Và đây là một lời dạy quan trọng khác cần được nhắc nhở luôn. Đức Phật dạy rằng:

-- " Các pháp hữu vi, (tức là mọi sự vật và mọi chúng sanh trên thế gian) đều vô thường vì chúng luôn luôn trôi chảy, biến đổi, hoại diệt. Chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức! ". 

Hãy thận trọng ghi nhớ lời dạy này . Mọi sự vật trên thế gian đều luôn luôn trôi chảy, biến đổi, hoại diệt, nghĩa là đều vô thường. Đừng đùa với chúng! Chúng sẽ cấu xé bạn, sẽ tát vào mặt bạn, sẽ cột trói và giữ chặt bạn. Rồi bạn sẽ ngồi bệt xuống đất mà khóc than, và biết đâu lại muốn ... tự tử nữa!

Bây giờ hãy đúc kết lại những cách trả lời về câu hỏi trên. Nếu được hỏi: "Đức Phật đã dạy những điều gì?", thì ta nên trả lời bằng một trong các câu sau đây :

-- Ngài dạy chúng ta đi theo Trung Đạo;

-- Ngài dạy chúng ta phải tự lực, tự cứu;

-- Ngài dạy chúng ta phải hiểu rõ luật Nhân quả, phải biết tạo nhân như thế nào để được hưởng quả tốt đẹp như ý muốn 

-- Ngài dạy chúng ta nguyên tắc thực hành: làm việc lành, tránh việc ác, thanh lọc tâm ý;

-- Và Ngài nhắc nhở chúng ta rằng: Tất cả mọi sự, mọi vật đều vô thường, biến đổi, chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức.
 

..."...

Giả thử chúng ta được hỏi :   

-- Xin nói một cách vắn tắt, thông điệp căn bản của Phật giáo là gì?
  
Chúng ta có thể trả lời ngắn gọn bằng một câu mà chính Đức Phật đã dạy: 

" Không nên bám víu và nắm giữ vào bất cứ điều gì ". 

Câu này do chính đức Phật dạy và đã được lưu truyền đến bây giờ.

Chúng ta chẳng cần phí thì giờ tra cứu Tam Tạng kinh điển, vì câu ngắn gọn này đã nói lên đầy đủ toàn thể giáo pháp của Đức Phật: 

" Không nên bám giữ hay dính mắc vào bất cứ điều gì".

Lời dạy này cho chúng ta biết rằng bám víu, nắm giữ là đau khổ (dukkha) 

Một khi đã hiểu rõ điều đó, thì có thể coi như là ta đã hiểu biết tất cả những lời dạy của Đức Phật, gồm trong tám vạn bốn ngàn Pháp môn. 

Và khi chúng ta thực hành lời dạy này tức là chúng ta đã thực hành Phật pháp một cách đầy đủ và trọn vẹn.

Vì  sao một người thất bại trong việc giữ gìn giới cấm? 

Chính là vì y đã bám víu và nắm giữ vào sự vật. 

Nếu y biết tự kềm chế, chẳng bám víu vào bất cứ sự vật gì, loại bỏ được tham ái và sân hận, thì y chẳng thể nào phạm giới  .

Vì sao tâm trí một người lại luôn xao lãng và chẳng thể định tâm? 

Là vì y đang dính mắc vào một điều gì. 

Một người không có được trí tuệ nội quán cũng là do bám víu, dính mắc.

Một khi đã biết tập cách buông bỏ, không nắm giữ nữa, liền đó người ấy sẽ đạt được các quả vị và cuối cùng thành tựu Niết Bàn (Pali = Nibbàna ; Phạn = Nirvàna)

Đức Phật là bậc hoàn toàn không hề bám víu vào điều gì. 

Ngài dạy phương pháp thực hành và kết quả của việc thực hành đó là sự không nắm giữ.

Tăng già (Sangha) bao gồm những người thực hành sự không nắ'm giữ, một số còn đang thực tập và một số đã hoàn tất.

Vậy, khi được yêu cầu tóm tắt Giáo pháp của Đức Phật trong một câu ngắn, Đức Phật đã đáp : 

" Không nên bám víu nắm giữ bất cứ điều gì ".
 

..."...

Câu hỏi tiếp theo là:

-- "Làm thế nào để Thực hành sự Không bám víu, nắm giữ ?

Nếu một người ngoại quốc hỏi bạn làm thế nào để thực hành việc không bám víu nắm giữ, thì bạn nên, một lần nữa, đem câu nói của chính Đức Phật ra mà trả lời, chứ không nên đưa ý kiến riêng của chúng tạ  Đức Phật chỉ dẫn cách thực hành thật đầy đủ như sau :

-- Khi thấy một vật, chỉ đơn thuần là thấy vật ấỵ 
-- Khi nghe một âm thanh, chỉ đơn thuần là nghe âm thanh ấỵ 
-- Khi ngửi một mùi gì, chỉ đơn thuần là ngửi mùi ấỵ 
-- Khi nếm một vị gì, chỉ đơn thuần là nếm vị đó.
-- Khi thân xúc chạm một vật gì, chỉ đơn thuần là sự xúc chạm.
-- Khi một đối tượng của tâm, chẳng hạn một ý nghĩ bất thiện khởi sinh, hãy nhận biết và ghi nhận ý nghĩ bất thiện ấỵ

Chúng ta hãy nhắc lại lời dạy trên, để giúp cho những bạn nào chưa từng được nghe đến câu ấỵ 

-- Khi nhìn, chỉ có sự nhìn; 
-- khi nghe, chỉ đơn thuần nghe; 
-- khi ngửi , chỉ đơn thuần ngửi; 
-- khi nếm, chỉ đơn thuần nếm; 
-- khi thân xúc chạm vật gì, chỉ đơn thuần ghi nhận sự xúc chạm; 
-- và khi một đối tượng trong tâm khởi sinh, chỉ ý thức điều đó.

Điều nầy có nghiã là khi sự vật tiếp xúc qua giác quan, chúng ta chỉ đơn thuần ghi nhận mà không nên để cho ý nghĩ "tôi" "ta" khởi lên.

Nếu chúng ta thực hành như thế thì ý niệm về "ta, tôi" không khởi sinh được; và một khi "cái Ta" không có mặt, đau khổ sẽ chấm dứt.

Cần giải thích thêm câu " Khi thấy một vật gì, chỉ đơn thuần là thấỵ"  Khi có vật tiếp xúc với mắt, hãy quan sát và nhận diện chúng, để biết cần phải làm gì, nhưng đừng để cho yêu hay ghét khởi sinh. Nếu để cho yêu hiện khởi thì tham muốn sẽ phát sinh, và bạn sẽ nắm giữ nó; nếu để cho ghét khởi lên, thì sân hận sẽ phát sinh, và bạn sẽ muốn hủy hoại nó. Thế là người thương hay người ghét phát sinh. Đấy là điều được gọi là cái Ta, cái Tự ngã. Vì dính mắc vào cái Ta, cái Tự ngã, nên chúng ta đau khổ. 

Khi một sự thấy xẩy ra, hãy ý thức sáng suốt và chánh niệm. Đừng để phiền não lôi cuốn để phải dính mắc. Hãy trau giồi trí tuệ để biết điều gì cần phải làm cho đúng và thích nghi . Nếu thấy không cần phải làm gì thì hãy quên ngay điều đó. Nếu đang chờ đợi một kết quả nào về điều ấy thì cứ tiến hành với ý thức sáng suốt và chánh niệm, đừng để cho ý tưởng về "cái Ta" có dịp sanh khởị Bằng cách này, bạn sẽ đạt được kết quả mong muốn mà không có sự đau khổ nào xảy ra . Đó là nguyên tắc chính xác để thực hành Giáo pháp, đáng được xem là tuyệt hảọ

Đức Phật dạy : 

-- Khi thấy, chỉ thuần là thấỵ
-- Khi nghe, chỉ thuần lànghe
-- Khi ngửi, chỉ thuần là ngửi
-- Khi xúc chạm, chỉ thuần cảm giác
-- Khi tâm nhận biết một đối tượng, chỉ thuần là sự nhận biết.

Hãy để sự vật ngưng lại ngay tại đó và trí tuệ nội quán sẽ vận hành một cách tự nhiên. Hãy chọn lối đi đúng đắn và thích hợp. Đừng tạo thêm "người thương" hay "kẻ ghét". Đừng để cho tham ái tác động theo sự yêu ghét, vì đấy chính là nguồn gốc của phiền não . Một tâm như thế sẽ bị náo loạn, chẳng tự dọ Tâm ấy hoạt động không có chút trí tuệ nội quán nào .

Tại sao ta lại không đề cập đến những công đức đầy thắng quả như giới, định, huệ, tạo phước hay bố thí? Chúng ta làm phước đức, bố thí, giữ giới, phát triển định tâm, và đạt trí huệ để trở nên một người an định. Khi thấy, chỉ thấy; khi nghe, chỉ nghe.  Nếu làm được như thế, chúng ta sẽ trở nên một người an định. Khi tâm ta ổn cố, không lay chuyển và quân bình, dầu cho đủ loại sự vật tiếp xúc với chúng ta bằng nhiều cách qua nhiều ngả giác quan khác nhau nhưng Tự Ngã vẫn không phát sinh được. Làm phước và bố thí nhằm mục đích để loại bỏ Tự Ngã. Giữ gìn giới luật là một phương thức để chế ngự cái Ta . Tập trung tâm ý hay phát triển trí tuệ cũng để loại trừ chấp Ngã. Chúng ta chẳng bàn đến những vấn đề khác, ở đây chúng ta chỉ nói đến vấn đề khẩn cấp hằng ngàỵ Hằng ngày, mắt ta thấy vật nầy, vật nọ; tai ta nghe tiếng này, tiếng kia; mũi ta ngửi mùi thơm, mùi hôi, cả sáu giác quan đều có sự tiếp xúc hằng ngày . Như thế, chỉ cần thực tập công phu: " Thấy, chỉ thấy; Nghe, chỉ nghe ..." cũng đủ bao trùm tất cả mọi công phu thực tập.
Đó chính là cốt tủy của sự thực hành Giáo pháp.
 

..."...

Giả thử chúng ta được hỏi :   

--  "Nơi nào chúng ta có thể tu học được"? 

Lại một lần nữa, chúng ta trả lời bằng cách trích dẫn những lời dạy của Đức Phật: 

-- "Ngay trong chính cái thân thước tám này, với các tri giác và những hoạt động tâm ý " .

Hãy học trong tấm thân con người cùng với các tri giác và hoạt động tâm ý.  

Tấm thân " thước tám " này, còn đang sống động, cùng với các tri giác, các hoạt động tâm ý, tất cả các phần đó lập thành con người . 

Sự hiện diện của thức (tâm vương), bao hàm các tri giác, và sự hiện diện của các hoạt động tâm ý bao hàm các kiến thức và hoạt động tư tưởng. 

Trong tấm thân " thước tám " đó cùng với các tri giác và các hoạt động tâm ý,  Đức Phật đã cho biết rõ ràng : thế gian, nguồn gốc của thế gian, sự tận diệt của thế gian, cùng đường lối thực hành để hoàn thành sự diệt tận nó. 

Khi Ngài nói đến nguồn gốc của thế gian, sự hoại diệt của thế gian, cùng đường lối thực hành đưa đến sự tiêu diệt hoàn toàn thế gian đó là Ngài muốn nói rằng : toàn thể Giáo Pháp đều phải tìm thấy ngay trong thân tâm này . Tu học ngay nơi tấm thân này . 

Không cần phải đến trường, vào hang động, lên rừng hoang, trèo núi cao, hay vào tu viện. Các nơi đó đều nằm bên ngoài chúng ta .

Hãy xây dựng một ngôi trường bên trong, thiết lập một đại học đường ngay trong thân thể này rồi hãy nghiên cứu, học tập, sưu tầm, thám thính tìm ra sự thật về sự tạo khởi của thế gian. Vì đâu thế gian lại là suối nguồn của đau khổ, thế gian có thể được huỷ diệt hoàn toàn chăng (tức là sự huỷ diệt của đau khổ) và làm cách nào để tận diệt được nó. 

Nói cách khác hơn để diễn đạt lại ý này, đó là hãy tự mình khám phá trở lại Bốn Chân Lý Cao Thượng (Tứ Diệu Đế).

Đôi khi Đức Phật dùng danh từ "thế gian", đôi khi Ngài dùng danh từ "đau khổ" (dukkha). 

Bản chất của thế gian hay của sự đau khổ, bản chất sanh khởi của thế gian, của đau khổ và nguồn gốc của thế gian, của đau khổ, bản chất của sự hoàn toàn diệt tận của thế gian, của đau khổ, cùng với bản chất của sự tu tập để đi đến nơi chấm dứt thế gian, chấm dứt đau khổ; những vấn đề đó cần được tìm tòi và nhận thấy ngay trong thân tâm này, chớ chẳng ở nơi nào khác.

Nếu ai đã tìm thấy các vấn đề trên tại một nơi nào khác, thì đó chỉ là những bản tường trình ghi trong sách vở, hoặc là lời đồn đãi, hay danh từ rỗng suông mà thôi, chớ không phải là Chân lý. 

Nếu những vấn đề trên đã được tìm thấy ngay trong tấm thân "thước tám" này, cùng với tâm ý, thì đó mới thật là Chân lý.

Vậy thì, nếu được hỏi: 

-- "Cần phải tu học nơi nào ?", 

bạn sẽ đáp: 

-- " Chúng ta tu học ngay trong tấm thân "thước tám" này, cùng với  tri giác và các hoạt động tâm ý ."
 

..."...

Bây giờ, chúng ta có thể được hỏi tiếp, để hiểu rõ thêm về Giáo Pháp:

-- " Giáp Pháp được so sánh với điều gì ?

Đức Phật dạy:

-- Giáo Pháp có thể được so sánh với một chiếc bè. 

Đức Phật dùng chữ chiếc bè, bởi vì ngày xưa bè thường được sử dụng để vượt sang sông và cách giải thích Giáo Pháp như một chiếc bè như thế rất dễ hiểụ 

Ví dụ nầy mang một ý nghiã quan trọng. Chúng ta không nên quá dính mắc vào Giáo Pháp đến nỗi quên cả chính mình, quá hãnh diện mình là " ông thầy ", "học giả", hay "bậc trí thức". 

Nếu chúng ta quên rằng Giáo Pháp chỉ như chiếc bè, thì các nguy cơ trên sẽ khởi sinh. 

Giáo Pháp chỉ là một chiếc bè, một phương tiện chuyên chở để đưa ta sang đến bờ bên kiạ 

Khi đã đến bờ bên kia và đặt chân lên đất liền rồi, chúng ta chẳng dại gì mà vác chiếc bè đi theo ta nữa .

Ví dụ đó nhằm mục đích dạy cho chúng ta nhận chân và sử dụng Giáo Pháp như một phương tiện để đạt đến mục đích, chớ không phải để bám níu, nắm giữ, dính mắc vào Giáo Pháp mà quên cả chính mình.

Nếu chúng ta không nhận chân ra được chức năng thật sự của chiếc bè này thì chúng ta sẽ giữ nó lại để phô trương hoặc để tranh cãi với kẻ khác. 

Đôi khi lại còn dùng chiếc bè để đua thuyền, thật là hao phí và vô dụng. 

Chiếc bè phải được sử dụng đúng với mục đích của nó, là để đưa ta sang sông. 

Cũng vậy, kiến thức về Giáo Pháp cần phải được sử dụng để vượt qua biển khổ. 

Không nên dùng vào các mục đích tai hại, như để tranh cãi, hay được dùng như một vật để tôn thờ, lễ bái.

Cuối cùng, xin đừng bám chặt vào chiếc bè đến nỗi khi đã sang bờ bên kia, chân đã đặt lên đất liền rồi mà vẫn còn muốn mang kè kè chiếc bè theo mình.

Giáo Pháp được ví như chiếc bè này phải được áp dụng cho cả người xuất gia lẫn người tại gia .
 

..."...

Giả sử chúng ta được hỏi:

-- Người cư sĩ tại gia cần phải tu học những gì? 

Chúng ta đừng mất thời giờ tìm câu trả lời theo ý riêng của mình. Nếu người nào có ý riêng thì cũng tốt thôi . Nhưng nếu muốn có một câu giải đáp phù hợp với lời Phật dạy, thì chúng ta phải nói: 

"Người tại gia cư sĩ phải nghiên cứu tất cả kinh điển -- nghĩa là những bài giảng -- mà Đức Phật đã dạy về "vô ngã", "rỗng vắng", "không có cốt lõi" (sunnatà (*)"

Trước hết, kinh (suttanta) là những lời dạy cốt yếu của Đức Phật, được hệ thống hóa, trình bày khéo léo và xếp đặt có thứ tự.

Chữ suttanta được kết hợp bởi hai chữ: sutta và antạ "Sutta" có nghĩa là những lời giảng và "anta" có nghĩa là mục đích hay rốt ráọ 

Như vậy suttanta có nghĩa là những bài giảng khéo nói, khéo thuyết, khéo trình bày, khéo hệ thống hóa . Cũng như chữ vedantạ Veda là sự hiểu biết; vedanta là hiểu biết bản chất rốt ráo của vấn đề, khéo trình bày, khéo hệ thống hóạ 

Xin nhớ rằng : Kinh chính là những lời dạy của Đức Như Laị Tất cả kinh của Đức Phật thuyết giảng đều liên hệ đến vô ngã, không có cốt lõi, rỗng vắng (Sunnatà).

Danh từ Sunnatà (vô ngã, không có cốt lõi, rỗng vắng) có thể dường như xa lạ đối với bạn, nhưng xin đừng vội chán nản, bởi vì đây là một chữ rất quan trọng trong Phật giáo . 

Chữ Sunnatà có thể được dịch là sự rỗng vắng; nhưng chữ rỗng vắng thường có nhiều nghĩa và cách dùng khác nhaụ Chữ Sunnatà trong Phật giáo không phải là sự rỗng vắng về phương diện vật chất. Nó chẳng phải là một "khoảng trống không" chẳng chứa đựng một chất liệu nào.  Rỗng vắng ở đây có nghĩa là không có chút bản chất thiết yếu nào . 

Mặc dầu có rất nhiều sự vật tràn đầy khắp thế gian, nhưng Đức Phật dạy rằng chúng là rỗng không bởi vì không có lấy một chút gì nơi muôn vật đó có cái đáng xem là tự ngã, là ta, hay thuộc về tự ngã, thuộc về ta . 

Lời dạy ấy nhằm mục tiêu chỉ rõ lại một lần nữa là chẳng có gì đáng để bám víu, nắm giữ  cả.

Sunnatà là một chữ có nhiều ý nghĩa, nhưng đối với người tại gia cư sĩ thì chỉ cần hiểu sunnatà là sự rỗng vắng, không có cái Ta, hay cái gì thuộc về Ta . Khi tâm nhận ra rằng không có gì là tự ngã, cũng không có gì thuộc về tự ngã, thì tâm sẽ trở thành rỗng vắng và tự do .

" Thế giới này sẽ trở thành rỗng vắng và tự do"

Sunnatà chỉ có nghĩa như thế đó .

(*)
Giáo lý Vô Ngã của Đức Phật được tiến dẫn vào trường phái Đại Thừa, sau này thành Giáo Lý Tánh Không (tính chất trống rỗng). Mặc dù ý niệm Tánh Không được nhà luận giải Đại Thừa xuất chúng là ngài Long Thọ diễn dịch với rất nhiều diễn giải khác nhau, thật ra cũng không có quan điểm nào quá khác biệt giữa Tánh Không và Giáo Lý Vô Ngã nguyên thủy của Đức Phật.
 

..."...

Giả thử chúng ta được hỏi :   

-- Thế nào là Amatadhamma ? 

" Amata " có nghiã là " bất tử" " vô sanh ".  "Amatadhamma " là pháp Bất Tử. Nhưng pháp Bất Tử có nghĩa là gì? 

Đức Phật đã dạy: 
" Sự chấm dứt tham, sân, si chính là pháp Bất Tử". 

Bao lâu chúng ta còn tham, sân, si thì còn có sự chết, còn có sự đau khổ. Vì còn ngã kiến, còn Tôi, Ta, nên ta phải chịu sanh, già, bịnh, chết. 

Khi tham, sân, si chấm dứt, ý niệm sai lầm về tự ngã không khởi sinh thì làm gì có cái Ta để chết đị

Do đó, nếu muốn đi tìm một trạng thái bất tử, amatadhamma, thì chúng ta phải tìm những nguyên nhân và điều kiện để loại trừ tham, sân, si . Đó là lời dạy của Đức Phật. 

Pháp Bất Tử, mà chúng ta thường được nghe, là những lời dạy thâm sâu trong Phật giáo, khác với pháp bất tử được các tôn giáo khác nói đến. 

Bất tử trong Phật giáo chỉ có nghĩa là chấm dứt tham, sân, si, trong khi "bất tử" được nói đến trong các tôn giáo khác là có một đời sống an vui vĩnh viễn, khác hẳn cảnh trần thế.
 

..."...

Dưới nhiều tên khác nhau, người ta đã nói đến Pháp (Chân Lý) cao thượng nhất, thâm sâu nhất. Thí dụ như  có người  hỏi :   

-- "Pháp nào là Pháp cao thượng và thâm sâu nhất để vượt khỏi thế gian và sự chết dưới mọi hình thức ?"

Đức Phật gọi Pháp đó là Sunnàtappatisamyuttà, nghiã là " Pháp dẫn đến Sunnatà " hay chính là Sunnatà.

Pháp đưa đến Sunnatà là Pháp cao thượng nhất và thâm sâu nhất. (*)  Pháp ấy vượt cả thế gian, vượt cả sự chết. Pháp ấy không gì khác hơn là Amatadhamma .

Vậy, các bản dịch Giáo Pháp mới nhất, gần đây nhất, gồm những gì? 

Đức Phật nói : 

-- " Một bản Kinh, bất cứ thuộc loại nào, thuộc cấp bậc nào, dầu do một thi sĩ hay nhà hiền triết nào sáng tác, dầu dưới hình thức văn vần hoa lệ, hay âm vận du dương nào, cũng không là Chánh Pháp nếu không có sự liên hệ đến Sunnatà ".  

Xin các bạn hãy nhớ kỹ các chữ quan trọng này : "Nếu không có sự liên hệ đến Sunnatà  ". 

Vì thế, nếu một bài Kinh nào không liên hệ đến Sunnatà thì đó chỉ là lời nói của một người đệ tử về sau, một sự canh cải, một giáo lý mới, chớ không phải là lời nói của Đức Như Lai, và do đó, phải được xem là yếu kém hơn. Nếu lời nói của một vị đệ tử mà không liên hệ đến Sunnatà thì phải xem như ở ngoài Giáo pháp.

Nếu chúng ta muốn tìm thấy Giáo pháp trung thực với lời dạy nguyên thủy của Đức Phật, chẳng có cách nào khác hơn là tìm xuyên qua các bài giảng về Sunnatà.

(*)
"Công phu quán tưởng về lý Vô Ngã, để loại trừ sự chấp thủ một Tự Ngã, trở thành một đường lối giải thoát gọi là Không Tánh Tùy Quán, tức quán tưởng tính cách Rỗng Không của sự vật".
Narada Maha Thera -- Vi Diệu Pháp Toát Yếu, Chương 9 .
 

..."...

Giả thử chúng ta được hỏi :   

-- "Trong Kinh tạng Pali, điều gì được Đức Phật nhấn mạnh nhiều nhất ?"

Một lần nữa, chúng ta trả lời bằng cách trích lời Phật dạy: " Ngũ uẩn là vô thường và vô ngã ". 

Ngũ uẩn là năm nhóm tập hợp mà gộp chung lại thì thành một cá nhân. 

-- Phần thân thể vật chất được gọi là sắc uẩn (rùpa); 

-- Nhóm cảm thọ, cả thọ lạc lẫn thọ khổ, được gọi là thọ uẩn (vedanà); 

-- Ký ức và các tri giác gọi chung là tưởng uẩn (sanna); 

-- Các tác động của tâm được gọi là hành uẩn (sankhàra); 

-- Và tâm nhận biết được mọi đối tượng qua các giác quan được gọi là thức uẩn (vinnàna). 

Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, và thức uẩn được gọi là ngũ uẩn (khandas). 

Năm uẩn là vô thường (anicca) và vô ngã (anatta). 

Đó  là điểm giáo lý được Đức Phật nhấn mạnh đến nhiều nhất. 

Năm uẩn vô thường, liên tục trôi chảy, liên tục thay đổi . Chúng không có Tự Ngã bởi vì chúng luôn luôn trôi chảy; không nên cho rằng chúng là Ta, hoặc là của Ta .

Tôi xin tóm lược lại lần nữa, xin ghi nhớ kỹ: Đức Phật luôn nhấn mạnh đến điều này:

-- " Tất cả sự vật đều vô thường, đừng nên xem chúng là Tôi, hay của Tôi "
. . . . . 
 

..."...

Giả thử chúng ta được hỏi :   

--  "Tâm của người thường và của người Phật tử khác nhau như thế nào ? "

Giờ đây chúng ta sẽ cứu xét sự khác biệt giữa tâm trí của người thường và của một người Phật tử đúng nghĩa. 

Người thường  ở đây có nghiã là người chưa thông hiểu và chưa hề tu tập theo đường lối đích thực của Phật giáọ 

Một người thường có thể được gọi là Phật tử  vì có cha mẹ theo đạo Phật, vì theo trong bộ sổ khai sanh hay lý lịch. Nhưng người đó vẫn chỉ là một người thường. 

Để trở thành một người Phật tử thật sự, một vị hiền nhân, tức là một người có trình độ tu tập thâm sâu, thì người đó cần phải có một sự hiểu biết đúng đắn (chánh kiến) về rất nhiều điều chung quanh mình bằng một trình độ thâm sâu hơn  người thường.

Đức Phật có nói : 

--"  Giữa cái nhìn của bậc Thánh và cái nhìn của người thường có một sự khác biệt rất lớn ". 

Như thế, dưới mắt của bậc Thánh và trong giới luật của bậc này, ca hát cũng giống như than khóc, khiêu vũ là động tác múa may của người khùng, còn cười ha hả là thái độ ấu trĩ của trẻ con.

Người thường cũng ca hát, cũng cười ha hả, để hưởng vui mà chẳng để ý đến cái lúc họ thấm mệt. 

Trong giới luật của bậc Thánh, ca hát bị xem như khóc lóc. Thử nhìn  một người đang hát và cố gân cổ lên để hét to, đó chẳng giống như đang khóc sao; hơn thế, nó phát xuất từ xúc động tình cảm, nào có khác gì khóc. Khiêu vũ cũng thế, giống như kẻ điên quay cuồng; hãy cứ  quan sát thì thấy, khi chúng ta đứng trên sàn nhảy, chúng ta phải điên đến mười phần trăm, bằng không thì chẳng thể nào nhún nhảy được. 

Nhưng đa số đều nghĩ đấy là cuộc vui giải trí, nên không nhận ra đó là bộ dạng của người mất trí. 

Có người thích cười to, cười lớn tiếng là vì có điều thích ý. Người ta rất hay cười như thế, cười ngay cả những lúc không đáng cười hoặc chẳng có gì để cườị Nhưng đối với bực thánh nhân và trong giới hạnh của họ thì cười lớn tiếng là thái độ ấu trĩ trẻ con. Vậy chúng ta nên cười ít đi, và nếu không cười to như thế thì lại càng tốt hơn nữạ

Đây là những thí dụ về sự khác biệt trong cách hành sử của một vị thánh nhân có giới hạnh và của người thường. 

Theo các truyền thống của người thế gian ngoài đời thì ca hát, múa vũ, cười to tiếng không tai hại gì và còn là những cuộc vui thông thường. Trong khi các bậc giới hạnh thì cho đó là một cái gì thật đáng thương hại và đánh giá những điều ấy theo chiều suy nghĩ đó. Đây là cái nhìn của một người mà tâm đã được huấn luyện thành thục.

Đức Phật không cấm đoán làm những việc trên nếu chúng ta thích làm; nhưng Ngài muốn ta hiểu rằng có thái độ trưởng thành và có thái độ ấu trĩ và chúng ta không nên làm những hành động không cần thiết. Khi chúng ta còn chưa là bực Thánh, có thể chúng ta muốn thử làm chơi vài cử chỉ tầm thường đó. Nếu thử một đôi lần, ta sẽ thấy lúc đầu có sự thích thú, nhưng về sau, ta sẽ chán ngấỵ Và như thế, ta có thể vươn lên đến gần hàng thánh thiện.

Vài người chẳng thích nghe nói đến kỷ luật hay bàn đến giới luật. Họ ngại rằng sự kềm chế sẽ đưa đến đau khổ (dukkha). 

Tuy nhiên, huấn luyện tâm để không buông trôi theo tính khí thay đổi thất thường là một nguyên tắc quan trọng trong Phật giáọ Kềm chế thân tâm để khỏi chiều theo tính khí như thế đâu phải là đau khổ. Trái lại, đó chính là phương pháp để chiến thắng đau khổ. Ta phải tìm cách tránh bị thúc bách bởi các cảm xúc vị kỷ hay ô  nhiễm.  Phải  quyết tâm không để cho ô nhiễm cám dỗ, thúc dục và ngự trị chúng tạ Hãy nhìn vào các cặp khiêu vũ, và xem các ô nhiễm đang kích thích họ ra sao, áp đảo và chế phục họ như thế nào; ta gọi đó là sự tự do sao ?

Cho nên, chúng ta phải tìm cách cải thiện thân phận của chúng tạ Đừng mãi mãi là " người thường "! Hãy ghi tên xin gia nhập vào cộng đồng của Đức Phật, tức là thâu thập kiến thức, trí huệ, tỉnh thức và chánh kiến để  đau khổ  giảm dần. 

Tránh làm các điều không cần thiết, chỉ tạo thêm bất lợi và khó nhọc cho chúng tạ Đấy chính là phần thưởng mà bạn sẽ gặt hái được : bạn sẽ bước từ cấp thường nhân lên hàng Phật tử chân chánh, rồi đến bực Thánh và an trú trong giới luật của hàng Thánh nàỵ Đức Phật khi xưa vẫn hy vọng rằng sẽ có thật nhiều bậc thánh nhân trong hàng những người muốn thoát khỏi đời phàm tục.

..."...

Ngay đây, tôi xin bàn đến Con đường Đạo . 

Nếu có ai hỏi bạn:

--  Tu tập như thế nào là đi đúng trên Con Đường Đạo ?

-- Trong giáo lý căn bản, Bát Chánh Đạo gồm có : Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh mạng, Chánh nghiệp, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Tám yếu tố này có thể được qui về ba nhóm : Giới, Định, Tuệ, hợp thành một hệ thống để thực hành Bát Chánh Đạo là con đường duy nhất đưa đến giải thoát giác ngộ. 

Trong thực hành, chúng ta phải luôn luôn quán sát thân tâm một cách chánh niệm. Khi chúng ta chỉ đơn thuần quán sát thân tâm, biểu hiện qua sáu giác quan mà không thêm bất kỳ một yếu tố nào vào,có nghĩa là không xem thân tâm là "tôi" , "ta", tức là chúng ta đang thực hành Bát Chánh Đạo .

Trước nhất, chúng ta nên biết đến sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm. Mỗi giác quan có năm yếu tố. 

Chẳng hạn về sự thấy, ta có :

1 - Mắt : cơ quan thâu nhận hình sắc
2 - Vật thấy : đối tượng phát động
3 - Thức : sự nhận biết đối tượng
4 - Sự xúc chạm : sự xúx chạm xẩy ra giữa mắt, vật thấy và nhãn thức
5 - Cảm thọ : khổ, lạc, hoặc không khổ không lạc

Nếu thiếu chánh niệm, ta sẽ nắm giữ vào một hay nhiều yếu tố trên của sự thấy và xem chúng là "tôi", "ta". Chẳng hạn như chúng ta bám víu vào sự nhận biết vật thấy (nhãn thức) và xem nó là tôi, ta, hay tự ngã. Bởi vì qua nhãn thức, ta có thể nhận biết được đối tượng  nên ta kết luận ngay là phải có cái  "ta"  để làm công việc nhận biết đó. 

Tương tự như thế, chúng ta  bám víu vào xúc, vào thọ, và xem chúng là của tôi, ta .

Đôi khi một âm thanh du dương đến với ta và ta bám víu vào sự nhận biết (nhĩ thức) và xem nó là ta, tôi, hay tự ngã. 

Mỗi giác quan có năm yếu tố, tổng cộng là ba mươi yếu tố. Mỗi yếu tố đều có thể bị ta nắm giữ lấy làm cái "ta" nhiều lần trong ngày một cách dễ dàng. 

Vừa mới có sự dính mắc vào sự vật thì liền sau đó đau khổ khởi sinh. Thế là ta đã lầm lỡ và tự đẩy  mình vào mạng lưới chằng chịt khổ đau .

Đó không phải là đang đi theo đường đạo vì Đức Phật dạy chúng ta đừng chấp chặt vào sáu giác quan cùng các đối tượng liên hệ đến chúng. 

Nhờ luôn luôn canh phòng bằng chánh niệm nên chúng ta không nhận giác quan nào hay đối tượng nào làm cái  "ta" cả,  và chính ngay lúc đó Bát Chánh Đạo (Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định)  khởi sinh. 

Thực tập không chấp chặt vào sáu giác quan là nguyên nhân khiến Bát Chánh Đạo khởi sinh tức thì.
 

. . . ". . .

 Giờ đây, tôi sẽ bàn về Nghiệp lực trong đạo Phật qua câu hỏi này:

-- "Nghiệp lực có vai trò nào trong Phật học?"

-- Nhiều người Tây phương đã viết những sách về Phật giáo và dường như họ rất lấy làm hãnh diện về các chương nói về Nghiệp lực và Tái sanh. Nhưng họđã giải thích rất sai lầm, hoàn toàn sai lầm. Họ muốn giải nghiã chữ Nghiệp lực, nhưng tựu trung chỉ mang ý nghĩa " nghiệp thiện là tốt, nghiệp ác là xấu", " làm điều tốt, hưởng quả tốt, làm điều xấu, chịu quả xấu", chỉ chừng ấy thôị Sự giải thích về nghiệp báo như thế này thì cũng giống như sự giải thích về nghiệp báo trong các tôn giáo khác. Đó không phải là Nghiệp báo được dậy trong Phật giáo .

Đối với sự tái sanh cũng vậỵ Họ tuyên bố rất mạnh mẽ  như chính mắt họ trông thấy rõ ràng chính các cá nhân nầy đang tái sanh lạị Họ đã giải thích sai lầm điều chánh yếu mà đức Phật đã dạy là không có sự hiện hữu của "cá nhân" hoặc "Tự ngã". Mặc dầu tôi đang ngồi đây, nhưng chẳng có cá nhân nào ở đây cả. Khi đã không có cá nhân nào thì lấy ai để mà chết,  lấy ai để tái sanh? Đức Phật đã giảng dạy sự bất hiện hữu của " cá nhân ". Như thế, sanh và tử dưới mắt của chúng ta thật ra chỉ là những danh từ chế định.

Chúng ta cần phải có sự hiểu biết rõ ràng hơn về nghiệp lực.

Đối với Phật giáo, thì vấn đề quan trọng là chấm dứt nghiệp báo, chứ không phải chính nghiệp báo và quả của nghiệp.

Trong Phật giáo, có danh từ sabbakammakkhayam-patto, người đã đạt được sự chấm dứt tất cả các nghiệp. Đức Phật dạy rằng nghiệp lực chấm dứt khi tham, sân, si chấm dứt. Nói khác hơn, nghiệp lực chấm dứt khi phiền não chấm dứt. Điều này thật dễ nhớ. Khi còn tham, sân, si thì còn nghiệp lực. Một khi tham, sân, si chấm dứt thì nghiệp quá khứ chấm dứt, không tạo nghiệp hiện tại và cũng không tạo nghiệp tương laị Như vậy, nghiệp quá khứ  chấm dứt, nghiệp hiện tại và nghiệp tương lai không có. Đây là điểm khác biệt giữa nghiệp lực trong Phật giáo và nghiệp lực trong các tôn giáo khác.

Có ba loại nghiệp nhưng phần đống chúng ta chỉ biết đến hai loại : thiện nghiệp và ác nghiệp, mà không biết đến nghiệp lực thứ bạ Đức Phật gọi loại thứ nhứt là bạch nghiệp hay thiện nghiệp tức là nghiệp trắng, nghiệp tốt; loại thứ hai là hắc nghiệp hay ác nghiệp, tức là nghiệp đen, hay nghiệp dữ. loại thứ ba có thể gọi là nghiệp không trắng không đen, là loại nghiệp nhằm chấm dứt cả hai loại : nghiệp trắng và nghiệp đen. 

Chính là loại thứ ba nầy mới đúng theo nghĩa nghiệp lực của Phật giáo vì đây là loại nghiệp chấm dứt  tham, sân, si; chấm dứt phiền não . 

Loại nghiệp lực thứ ba này chính là Bát Chánh Đạo . Nghiệp lực này chẳng trắng chẳng đen và có khả năng đưa đến sự chấm dứt bạch nghiệp và hắc nghiệp. Nó  là con đường siêu thoát khỏi thế gian,  vượt lên cả điều thiện lẫn điều ác.

Loại nghiệp thứ ba nầy không hề được các người Tây phương đề cập đến trong các chương sách của họ nói về "Nghiệp lực và Tái sanh" . Những lời dẫn giải của họ đa số đều phiến diện, thiếu chính xác.  Để theo đúng giáo lý Phật giáo, họ phải chú trọng luôn cả loại nghiệp lực thứ ba, tức là loại nghiệp lực có khả năng chấm dứt tham, sân, si, chấm dứt mọi nghiệp cũ, cả đen lẫn trắng. 

Về loại nghiệp thứ ba nầy, Đức Phật đã nói : 

-- " Như Lai đã đạt được sự hiểu biết rõ ràng về loại nghiệp lực này bằng trí tuệ cao cả của chính Như Laị " 

Những lời dạy về nghiệp lực thứ ba này không thể tìm thấy trong bất cứ giáo lý của một tôn giáo nào trên thế giớị Chính Đức Phật khám phá ra loại nghiệp thứ ba này, bằng trí tuệ của Ngài và chỉ dạy lại mọi ngườị Như vậy chúng ta phải nhớ kỹ rằng lời dạy về loại nghiệp lực thứ ba này chính là lời dạy đích thực của Đức Phật về Nghiệp báọ Mọi cuốn sách nói về nghiệp báo và tái sanh của Phật giáo, đều phải được viết theo chiều hướng nàỵ Các bạn nên chú tâm nghiên cứu kỹ lưỡng đến sự giải thích về nghiệp báo theo Phật giáọ 

Vậy thì về Nghiệp lực, chỉ riêng có  Đức Phật mới thuyết giảng đầy đủ công năng, vai trò của loại nghiệp thứ ba là chấm dứt tham, sân, si . Chính nhờ loại Nghiệp lực nầy mà bậc tu hành mới chứng đắc quả vị Niết bàn.
 

..."...

Bây giờ tôi muốn lưu ý các bạn đến một vấn đề mà tôi nghĩ các bạn sẽ quan tâm nhiềụ Câu hỏi nêu ra như sau:

-- "Có cần phải nghe chính Đức Phật giảng Pháp mới có thể chấm dứt đau khổ chăng? "

Có vài người quả quyết rằng ta cần phải được nghe chính Đức Phật thuyết giảng thì mới có thể thật sự hiểu rõ được Giáo Pháp. 

Nhưng Đức Phật cũng nói là có nhiều người, mặc dầu không được nghe Giáo Pháp do chính Ngài thuyết giảng, vẫn có thể đi theo con đường chánh đạọ Đã có nhiều người, dầu chẳng được nghe Pháp từ chính Đức Phật, nhưng qua sự thực hành Bát Chánh Đạo một cách bền bỉ và nghiêm mật, vẫn có thể  đi đúng con đường chánh đạo .

Thế nên, chúng ta nên chắp tay ngưỡng mộ lòng từ bi của Đức Phật đã không xem Giáo Pháp là sở hữu độc quyền của mình và cũng chẳng hề tự xem mình là cần thiết.
 

..."...

Giả thử chúng ta được hỏi :   

-- "Làm cách nào để giải quyết khi có nghi vấn về một giáo lý không biết có phải do Đức Phật dạy ?"

Đức Phật có đặt ra một nguyên tắc để trắc nghiệm: 

" Cứu xét và đối chiếu với Kinh Tạng (Suttas) và so sánh với Luật Tạng (Vinaya)." 

Nguyên tắc căn bản là không nên tin tưởng vào điều gì do ghi chép lại hay được giảng lại và không nên công nhận ai là người đủ thẩm quyền.

Nếu có sự nghi ngờ về bất cứ lời nói nào mà họ tự nhận là đã nghe từ Đức Phật hoặc từ một nhóm Trưởng lão thông thái về những đề tài liên quan tới việc đưa đến sự chấm dứt đau khổ, Đức Phật dạy rằng ta cần phải trắc nghiệm điều ấy theo hai cách :

1.- Xem xét và đối chiếu với Kinh Tạng. Các bộ Kinh là một hệ thống các bài pháp lập thành một đường hướng phân minh. Nếu lời phát biểu nào đó không theo đúng đường hướng trong kinh thì phải  gạt bỏ đị

2.- Đối chiếu với Luật Tạng. Các Giới Luật là oai nghi khuôn mẫu, là tiêu chuẩn phẩm hạnh, một hệ thống cố định. Nếu lời phát biểu nào đó không phù hợp với hệ thống đó, giới luật đó, thì phải gạt bỏ đị

Đừng quá tin cậy vào tỳ kheo nào, hay thành phần nào của Tăng già, nhóm Trưởng lão, hay bất kỳ một người nào tự nhận là có kiến thức về pháp học hoặc pháp hành, hoặc cho rằng chính họ đã nghe như vậy từ chính Đức Phật. Ngài luôn luôn đòi hỏi chúng ta trước khi chấp nhận một điều gì, phải đặt nghi vấn rồi điều trạ Sau đó đối chiếu lại với Kinh Tạng, xem có thích nghi không; hay đối chiếu với Luật Tạng, xem có phù hợp không?

Đây là những nguyên tắc để bảo đảm rằng, dù Phật giáo trải qua 2000 năm, 3000 năm, 5000 năm, hay chục ngàn năm, hay bao lâu đi nữa, nếu luôn luôn áp dụng nguyên tắc này thì Giáo Pháp và Giới Luật không thể bị bóp mép hay lầm lẫn. 

Thế nên đây là một nguyên tắc rất hữu dụng. Đức Phật dạy hãy lấy Giáo Pháp và Giới Luật để trắc nghiệm mọi thứ. 

Và đây chính là Đại Tiêu Chuẩn.

(Còn tiếp)
 

 
Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 03-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 305 KB) 
 
 

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412