DƯỚI MÁI
CHÙA HOANG
HT.
Thích Quảng Độ Dịch
Cạnh
con đường mòn, ven sườn núi tại Ngọc Nam, có một ngôi
chùa nhỏ hoang vắng, nằm im lìm giữa một nơi hẻo lánh và
quạnh quẽ. Mùa xuân năm ấy, giặc dã và trộm cướp nổi
lên, dân chúng miền phụ cận đã chạy tản mác đi nơi khác,
vị trụ trì trong chùa cũng bỏ trốn, chỉ để một mình
ông già “ tứ cố vô thân” ở lại đèn hương sớm tối.
Hết
xuân sang hạ, khí trời trở nên mát mẻ, tối hôm ấy, như
thường lệ, ông già dọn dẹp các nơi xong, đang định vào
căn phòng nhỏ phía sau Phật điện nghỉ ngơi, bỗng nghe có
tiếng gõ cửa nhè nhẹ vang lên ở phía ngoài, ông đi ra mở
cửa thì thấy một vị sư áo quần lam lũ, râu ria xồm xoàm,
tay cầm chiếc thuyền trượng (cái gậy), trên lưng đeo một
cái đãy nhỏ đang đứng dưới thềm cửa trước chùa.
- Ngài
cần việc gì ? Ông già hỏi.
- Tôi
đi vân du đến đây thì trời tối, không có chỗ trọ, định
vào quý tự xin tá túc một đêm.
- Chùa
đây không phải chốn tùng lâm, không tiện tá túc. Vả lại,
sư cụ trụ trì đi vắng, tôi chỉ là người trông nom đèn
hương trong chùa, xin sư cụ từ mẫn cho. Ông già uyển chuyển
đáp khéo.
- Tôi
cũng biết chùa đây không phải chốn tùng lâm. Vị khách tăng
nói. Song đến đây không còn thấy nơi nào có thể ngủ trọ
được. Giờ trời đã tối, xin lão vui lòng cho tôi nghỉ tạm
một đêm.
Sau
một lát ngần ngừ, ông già nói :
- Trong
chùa vẫn còn một căn phòng nhỏ bỏ không, sư cụ có thể
nghỉ tạm. Song chỉ hiềm là không có chiếu chăn gì cả,
mà lương thực cũng eo hẹp lắm !
- Điều
đó không ngại, tôi ngồi được rồi, không cần chiếu chăn.
Còn thức ăn thì tôi đã có mang theo lương khô đây, không
dám phiền bàn đến lão.
- Vậy
thỉnh cụ vào, nhưng xin cụ cho biết pháp danh và cụ ở đâu
tới ?
- Tôi
là Vân Không, từ Triết Giang đến.
Ông
già đưa sư cụ Vân Không vào. Khi đi qua Phật điện, ông
thắp ngọn đèn dầu trên bàn thờ lên, rồi dẫn sư cụ vào
căn phòng phía sau đối diện với phòng của ông. Căn phòng
bỏ không, nhưng ở góc phòng có một đống cỏ khô chất
gần đến mái nhà, mùi cỏ khô tỏa ra khắp căn phòng.
Ông
già vừa nhìn sư cụ vừa nói :
- Xin
cụ lượng thứ, thỉnh cụ hãy tạm nghỉ ở đây !
- Ồ,
không sao ! Tôi đã sống qua nhiều ngày thế này rồi, ở đây
tương đối còn khá lắm !
Sư
cụ để chiếc gậy và cái đãy vào góc phòng, rồi nói với
ông già :
- Thôi,
mời lão đi nghỉ. Để mặc tôi, tôi còn lên lễ Phật.
Ông
già đi về phòng riêng. Vừa mới ngồi xuống giường, đột
nhiên lại thấy tiếng gõ cửa từ đằng trước vọng vào.
Lần này, tiếng gõ cửa rất gấp và cứ thình thình. Ông
thấy trong lòng run sợ, còn đang phân vân không biết có nên
ra mở cửa hay không thì chợt thấy sư cụ Vân Không tiến
đến cửa phòng.
- Có
người gọi cửa phía ngoài.
- Tôi
nghĩ không nên mở. Ông già nói. Họ gõ chán, không thấy mình
ra, tất họ phải đi.
- Tại
sao không mở ? Sư cụ ngạc nhiên hỏi.
- Bạch
cụ, cụ không biết, chứ ở vùng này lộn xộn lắm, trộm
cướp vô khối. Tiếng gõ cửa liên hồi như thế, tôi chắc
bên ngoài phải có nhiều người. Chả biết họ đến làm
gì, tôi không dám cho họ vào đâu !
- Ông
với tôi thì có gì đâu mà sợ họ cướp? Và chắc đâu đã
phải là cướp ? Cứ ra xem nào!
- Thảng
hoặc họ là cướp thật và cái gì cũng muốn vơ vét. Tôi
còn mấy chiếc quần áo và chút ít tiền, nếu họ lấy mất
thì sao ?
- Ông
đem giấu tiền đi, còn quần áo thì họ sẽ không thấy đâu
! Nếu thật là cướp thì còn có tôi đây, lão đừng sợ.
Ví phỏng họ muốn ăn thì cho họ ăn, tôi còn lương khô đây,
ăn hết sẽ hay !
Ông
già do dự nói :
- Họ
gõ cửa đã lâu mà mãi bây giờ mới ra mở. Giả sử họ
là cướp, chắc chắn khi vào họ sẽ cho tôi một trận nên
thân chứ chẳng chơi !
- Tôi
đi với lão và để tôi mở cửa cho !
- Bạch
cụ. Ông già nhíu mày nói. Nếu chỉ là một người khỏe
mạnh, mình đối phó được còn khó thay ! Huống hồ lại
nhiều người, họ sẽ nuốt sống mình mất.
- Một
người khỏe mạnh cũng không sợ, mà có bao nhiêu người cũng
không sao, đã có tôi ở đây !
Sư
cụ Vân Không đến bên ông già và cầm tay kéo ông đi :
- Đây
là một nơi hoang vắng, chắc có người lỡ đường muốn
vào chùa xin nghỉ trọ, nên cho họ vào, nếu họ đói thì
cho họ ăn. Ở đời, việc nên làm thì làm, chứ đừng so
đo cân nhắc nhiều quá !
Ông
già bị sư cụ kéo đi, đành cũng phải theo người. Khi họ
ra tới cửa thì tiếng gõ cũng vừa tắt. Sư cụ mở cửa
ra, trời đã tối hẳn. Dưới ánh sáng lờ mờ của mấy vì
sao lấp lánh rọi xuống, sư cụ thấy một người đang nằm
gục trên bậc cửa.
Ông
già vội đến trước hỏi :
- Giờ
này, ông còn đến chùa làm gì ?
- Tôi
đi qua đây, không biết bị con gì cắn, xin cho tôi vào nghỉ
nhờ một lát !
Nói
xong, không đợi ông già đáp, người ấy tiến vào cửa, nhưng
vừa khỏi cửa thì lại ngồi quỵ xuống. Ông già vội đỡ
dậy, hỏi :
- Tại
sao lại ngồi đây, mời ông vào chùa nghỉ.
- Bắp
chân tôi đau quá, không đi được nữa !
- Tôi
đỡ ông vào vậy ! Ông già nói.
- Để
tôi bế ông ấy vào !
Vừa
nói, sư cụ Vân Không vừa gạt ông già ra, rồi đỡ người
ấy dậy và cõng vào chùa.
Sư
cụ nhìn chỗ người ấy bị cắn một lát, rồi nói vội
:
- Chết
chửa ! Bị rắn độc cắn, vết thương tuy nhỏ song nọc rắn
độc lắm. Ở đây, giờ không tìm được thuốc, làm thế
nào ?
Dứt
lời, sư cụ cúi ngay xuống, rồi để mồm vào chỗ bị rắn
cắn và dùng hết sức để nún; cứ nún đến đâu lại nhổ
ra đến đấy; một lúc lâu mới đứng dậy đi vào phòng lấy
ra một gói thuốc bột rắc vào chỗ vết thương.
- Xin
đừng động đậy ! Ông bị cắn lâu chưa ?
- Cách
đây độ một tiếng đồng hồ.
- Lâu
quá như thế thì phương thuốc này vẫn chưa đủ. Không những
chỉ rắc thuốc ở ngoài mà còn phải uống thuốc nữa mới
được, nhưng trong đãy của tôi lại không có thứ thuốc
ấy !
Nói
xong, sư cụ Vân Không quay sang hỏi ông già :
- Có
tiệm thuốc nào gần đây không ?
- Mãi
trên khu chợ mới có, cách đây ba cây số. Ông già đáp.
- Tiệm
thuốc e rằng cũng không có thứ thuốc ấy. Sư cụ nói. Vả
lại, đường xa thế, đi về sợ lâu quá ! Phàm chỗ nào có
rắn thì đều có thứ lá trị rắn độc, nhưng cần phải
đi tìm mới được !
- Nhưng
ai biết thứ lá đó ? Ông già hỏi.
- Tôi
biết. Sư cụ đáp.
Người
bị rắn cắn đang nằm phục trên chiếc chiếu, cố ngẩng
lên quay sang nói với sư cụ :
- Xin
sư cụ cứu tôi ! Ơn ấy, tôi xin ghi lòng tạc dạ.
- Ông
cứ yên tâm, tôi sẽ đi tìm thuốc cho ông !
- Xin
sư cụ cho biết quý danh.
- Tôi
là Vân Không.
- Tôi
muốn biết tên tục của sư cụ.
Sư
cụ cười và đi ra cửa :
- Tôi
họ Trần, ở cùng xóm với ông.
Rồi
sư cụ ngoảnh lại nói với ông già :
- Bên
ngoài tối quá, xin lão cho tôi một bó đuốc !
Ông
già đi xuống bếp, một lát sau đưa lên một bó thanh nứa
đã đốt sẵn, trao cho sư cụ rồi đưa sư cụ ra ngoài cửa,
đoạn trở vào Phật điện nói chuyện với ông khách lạ.
-
Xin ông cho biết quý danh.
- Tôi
là Đoàn Quốc Hùng.
- Hiện
giờ, ông thấy trong người thế nào, có bớt đau không ?
- Đau
thì không đau lắm, chỉ buôn buốt, nhưng giờ đã đỡ nhiều
rồi.
- Nếu
không đau mà thấy buốt thì đúng là rắn độc cắn. Sư cụ
Vân Không coi bộ thạo về môn này lắm ! Thế là ông đã
gặp được vị cứu tinh, nhưng mong sao Ngài tìm ra thuốc mới
được.
Đoàn
Quốc Hùng nói :
- Thưa
lão, tôi đang băn khoăn suy nghĩ để biết xem sư cụ Vân Không
đây trước khi xuất gia là người thế nào.
- Tôi
cũng như ông, chẳng hiểu gì cả ! Nhưng điều đó có gì
quan hệ ? Ông già lấy làm lạ, hỏi. Công việc trọng yếu
của ông hiện giờ là phải điều trị nọc độc. Ông với
sư cụ tình cờ gặp nhau như cánh bèo trên mặt nước. Sư
cụ chữa khỏi vết thương cho ông rồi ngày mai lại trôi
giạt mỗi người mỗi phương. Nếu ông muốn đền đáp ơn
người thì cứ ghi nhớ tên người là Vân Không để sau này
tìm cách báo đền. Còn như trước khi xuất gia, người làm
gì hoặc tên tuổi của người là gì thì thiết tưởng điều
đó ông không nên băn khoăn. Hay ông hoài nghi trước kia người
không là thầy thuốc nên sẽ không dám uống thuốc của người
?
- Đây
không phải là vấn đề thuốc thang, tôi còn mang nặng một
tâm tư khác. Tôi và vị sư ấy không phải tình cờ gặp nhau.
Tuy đã nhiều năm không thấy nhau, hai chúng tôi đều đã già.
Vả lại, người mặc tấm áo nâu và râu ria bờm sờm che
kín mặt, song tôi vẫn hơi nhận ra người, nhất là khi sư
cụ cho tôi biết sư cụ họ Trần và theo lối nói thì hình
như sư cụ cũng đã nhận ra tôi. Đúng sư cụ là Trần Phán
! Giữa tôi và sư cụ có một mối oan cừu mà mười năm qua
không lúc nào tôi ăn ngon ngủ yên.
- Thế
việc đó ra sao ? Ông già hỏi.
- Sư
cụ và tôi là người cùng xóm. Trần Quốc Hùng hạ giọng
nói. Lúc còn trẻ, ông ở sát cạnh nhà tôi. Ông làm nghề
đi bán các trò chơi. Ông nuôi nào khỉ, nào chuột, nào rắn
và luyện tập chúng biểu diễn các trò. Nhất là rắn, lớn
bé hơn mươi con, cứ thay đổi luôn luôn. Do đó, người trong
làng mới đặt cho ông tên là Trần Xà Nhân. Trần Xà Nhân
chỉ có một người con gái còn nhỏ tuổi, thường theo cha
đi biểu diễn các trò. Bấy giờ, tôi rất ghét ông ta ở
cạnh nhà tôi, vì những con vật ông ta nuôi, sau khi luyện
tập thành thục, ông ta cứ thả ra. Có lúc những con khỉ
chạy sang vườn phá phách hoa quả của tôi, còn rắn thì lúc
nào cũng nằm cuộn tròn trên cành cây trước nhà ông ta, những
cành cây vươn ra sát đầu tường hoa nhà tôi. Tuy rắn không
bò qua tường bao giờ, nhưng ở bên nhà tôi trông rất rõ
và rất đáng sợ. Tôi đã từng cảnh cáo ông ta và cũng có
khi ông ta bồi thường thiệt hại về hoa quả cho tôi, nhưng
nghề nghiệp của ông ta bắt buộc phải làm bạn với khỉ
và rắn, rốt cuộc là tôi không thể chịu đựng được nữa.
Cuối cùng, tôi bảo ông ta phải dọn nhà đi nơi khác. Nhưng
ông ta nói là nhà của ông bà để lại nên không dám bán,
mà đi nơi khác mua cũng không dễ dàng gì ! Bảo ông ta dọn
nhà không có kết quả, tôi bèn thuê người đến sinh sự
phá phách. Nhưng ông ta rất giỏi võ, những người tôi thuê
đều bị ông ta đánh bại và bị thương. Tôi liền đi thưa
quan huyện để vu khống ông ta là cố ý đả thương. Tôi
là người giàu có và thuộc giòng dõi quý tộc rất có thế
lực, nên quan huyện cũng nể và sai người về bắt Trần
Xà Nhân giải lên huyện và bị tống giam. Còn mỗi đứa con
gái ở nhà không đi biểu diễn được và cũng không đủ
sức trông nom những con vật, nên sau khi ông ta bị bắt mấy
hôm thì khỉ, rắn và chuột đều bỏ đi. Đứa con gái vào
nhà giam báo cho ông ta biết. Ông ta đành phải chịu dọn đi
nơi khác. Khi về tới nhà, thấy súc vật đã đi hết và đứa
con gái tiều tụy sau hai tháng trời sống lây lất, Trần Xà
Nhân liền bỏ nhà dẫn con ra đi. Sau khi ông ta đi khỏi, tôi
liền sang chiếm cứ nhà ông ta. Phía sau, tôi cho người làm
ở; còn phía trước thì làm chuồng trâu và chuồng ngựa.
Như thế, qua nửa năm, bỗng một hôm, Trần Xà Nhân đưa con
về. Ông ta thấy nhà mình hoàn toàn đổi khác, trong nhà đầy
người ở. Sau khi biết tôi đã chiếm cứ, ông ta liền sang
kêu van tôi trả lại nhà cho ông ta. Tôi không trả lời và
bảo ông ta cứ đi thưa quan huyện. Ông ta đứng ngoài kêu
nài mãi, nhưng tôi vẫn tảng lờ như không nghe thấy. Đột
nhiên, ông ta trợn mắt nhìn tôi một cách dữ tợn và lẩm
bẩm nói : “ Món nợ này sau sẽ thanh toán !”. Dứt lời,
ông ta nhảy một cái qua tường hoa để về nhà bên kia. Tôi
kinh ngạc, chạy vội ra cổng xem thì thấy Trần Xà Nhân đang
ung dung dắt con đi. Từ đó, ông ta không trở về nữa. Cũng
từ đấy, lòng tôi bắt đầu thấy sợ hãi không yên, nhất
là ánh mắt dữ tợn của ông ta nhìn tôi trước khi ra đi
đã để lại một ấn tượng sâu đậm trong lòng tôi. Bất
cứ lúc nào tôi cũng thấy ánh mắt trừng trừng nhìn tôi
và câu nói của ông ta trước khi ra đi lúc nào cũng văng vẳng
bên tai tôi, nhất là trong đêm tối hoặc trong mộng mị, tôi
vẫn cứ nghe câu nói ấy, giọng nặng nề và rùng rợn. Có
khi tôi thấy trong góc nhà và bốn chung quanh tường, những
ánh mắt đang nhìn tôi. Đó là ánh mắt của Trần Xà Nhân
nhìn tôi lúc ra đi, nhưng lúc này còn dữ tợn hơn nữa.
Tôi
sợ hãi như thế nên không lúc nào dám ngồi một mình trong
nhà, cũng không dám lên giường ngủ. Tôi cần nhiều người
đứng xung quanh và bắt họ la thét vang lên để trấn áp những
lời chú thuật và che ánh mắt dữ tợn của Trần Xà Nhân.
Tôi lại sợ Trần Xà Nhân nhảy qua tường hoa như hôm nào,
nên sai người xây cao thêm lên. Song vô ích, vì từ khi Trần
Phán đi rồi thì không ai còn thấy tung tích hay hình bóng ông
ta đâu nữa ! Ông ta không trở về để nhảy qua tường hoặc
dùng bất cứ một phương pháp nào khác để vào nhà tôi.
Chỉ có ánh mắt và lời nguyền rủa của ông ta luôn luôn
theo sát tôi khiến tôi không có chỗ trốn tránh. Bản tính
tôi vốn sợ rắn. Khi Trần Xà Nhân đi rồi, tôi cứ nghĩ
đến rắn là lòng lại run lên. Nếu thấy con rắn nào thì
tôi lại tưởng đó là rắn của Trần Xà Nhân nuôi và sai
về để cắn tôi. Bởi thế, ngoài sự tưởng tượng đến
ánh mắt và lời nguyền rủa của Trần Xà Nhân, tôi còn tưởng
tượng cả rắn; đến nỗi thấy một vật gì dài, nhỏ và
uốn khúc hoặc một cái bóng ngoằn ngoèo, tôi đều sợ hãi.
Vì khổ sở như thế, nên tôi chỉ thích đến những nơi huyên
náo đông người, thậm chí cả nơi cờ bạc để mong những
tiếng ồn ào ấy sẽ đàn áp sự sợ sệt của tôi. Nhưng
khi tan canh ra về thì lại ghê rợn vô cùng, tôi sợ gặp Trần
Xà Nhân giữa đường hoặc gặp rắn của ông ta sai phục
sẵn bên đường để chờ tôi. Bởi thế, bao nhiêu người
đi theo hộ vệ tôi và la thét ầm ỉ. Vì thế, tôi đã đam
mê cờ bạc, gia cảnh cũng dần dần suy sụp, thanh danh giảm
bớt. Người ta không còn kêu tôi là “ thân sĩ ” hoặc “
trí thức ” mà họ gọi tôi là “ đồ cờ bạc ”. Sức
khỏe mỗi ngày một kém, kết quả là mọi người đều cho
tôi đã mắc chứng “ bệnh tinh thần ”.
Để
giải trừ nỗi oan cừu ấy, tôi đã đăng lời rao trên các
báo chí tìm Trần Phán, nói rõ là xin bồi thường tất cả
những sự tổn thất. Nhưng từ bấy đến nay, vẫn không một
hồi âm. Vô pháp khả thi, tôi chỉ còn cách ra đi tìm kiếm,
mong được gặp ông ta để tạ tội và xin bồi thường thiệt
hại. Tôi tưởng rằng ông ta vẫn làm nghề cũ, nên không
một đám biểu diễn trò chơi nào mà tôi không vào xem, nhưng
tuyệt không thấy Trần Xà Nhân hay con gái ông ta trong đó.
Trên đường tìm kiếm, hôm nay đến nơi hoang vắng quạnh
quẽ này, không ngờ tôi lại bị rắn cắn !
Vị
sư cụ vừa chữa vết thương cho tôi lúc nãy, thoạt nhìn
đôi mắt, tôi đã nhận ra đó là cặp mắt của Trần Xà
Nhân. Bởi thế, tôi mới hỏi tên tục của người, nhưng
người chỉ cho tôi biết người họ Trần mà không nói tên.
Song nghe đến họ Trần, tôi đã tin chắc đó là Trần Xà
Nhân, nhất là người lại bảo ở cùng xóm với tôi. Vậy
không phải “ ông ta ” thì còn là ai ? Tôi cứ suy nghĩ mãi
tự nãy đến giờ là nếu
“ ông ta ” nhận ra tôi thì tại sao “ ông ta ” lại chữa
cho tôi ? Tôi đang băn khoăn tự hỏi khi
“ ông ta ” đưa thuốc về thì tôi có nên uống hay không
?
Nghe
xong, ông già nói :
- Sư
cụ này cũng mới vào đây xin tá túc trước khi ông đến
chừng mấy phút thôi. Bởi thế, tôi cũng không hiểu biết
gì về sư cụ hơn ông mấy ! Nhưng nếu người tìm được
thuốc thang về, làm sao ông có thể từ chối không uống ?
Không uống, tất không có hy vọng trừ hết nọc rắn độc.
Theo tôi, khi sư cụ để mồm vào vết thương hút nọc độc
ra chắc không phải có ý giả dối đâu ! Trên đời này, không
có ai đối với kẻ thù của mình bằng cử chỉ ấy. Còn
họ Trần thì rất phổ thông, chắc trong số bạn bè của
ông cũng có nhiều người mang họ Trần. Ông hãy cứ tưởng
tượng sư cụ là một người họ Trần khác đi, chứ nhất
định không phải Trần Xà Nhân. Ông cũng coi như là người
không nhận ra ông. Nếu thật người đã nhận ra ông là kẻ
oan gia đối đầu với người, chắc người đã khoanh tay đứng
nhìn, chứ đâu lại khổ công lo chữa cho ông ? Người đã
chịu cực hút nọc rắn độc để cứu ông thì người đâu
còn dùng thuốc độc để hại ông nữa !
Đoàn
Quốc Hùng nghe ông già nói xong, gật gật đầu, nhưng vẫn
cứ phân vân. Đúng lúc ấy, có tiếng gõ cửa bên ngoài, ông
già liền đi ra mở cửa. Sư cụ Vân Không, một tay xách bó
cỏ, tay kia cầm cây đuốc đã cháy gần hết, đang đứng
trên bậc cửa. Ông già vội đỡ lấy bó cỏ từ tay sư cụ,
rồi hai người cùng tiến vào Phật điện. Đoàn Quốc Hùng
thấy sư cụ đã vào, cố gượng ngồi dậy, nhưng sư cụ
cản lại :
- Ông
đừng cử động ! Người bị rắn cắn càng nằm yên càng
tốt. Ông bị cắn lâu mới chữa, tuy tôi đã hút máu ra, song
sợ chưa hút hết được nọc độc. Bởi thế, ông cần phải
uống thuốc trong và rịt thuốc ngoài. Thuốc ngoài tôi đã
rịt rồi, bây giờ tôi sắc cho ông uống !
Đoàn
Quốc Hùng lại nằm xuống và duỗi thẳng hai chân ra. Sư cụ
Vân Không đi vào phòng, cầm chiếc thuyền trượng ra, rồi
để bên người; sau đó lấy một phần bó cỏ thuốc và rải
ra mặt đất trên nền chùa.
Ông
già đến trước hỏi :
-
Bạch cụ, cụ định giã lá thuốc ?
-
Vâng, phải giã thật nát mới rịt được !
-
Cụ để tôi giã đỡ !
Ông
già đến cầm lấy chiếc thuyền trượng đặt trên chốc
chiếu, lúc đó mới biết chiếc thuyền trượng làm bằng
sắt. Ông già nhấc một tay không nổi, liền dùng cả hai tay
cũng vẫn không nhấc bổng lên được. Ông đành lắc đầu,
lè lưỡi.
- Ông
đi sắc thuốc đi ! Sư cụ Vân Không nói. Còn việc giã thuốc
để đấy tôi làm cho !
Ông
già vâng theo, đứng dậy cầm lấy nửa bó cỏ rồi đi xuống
bếp. Sư cụ Vân Không nhấc chiếc thuyền trượng lên và
nện xuống sàn chùa. Tiếng kêu côm côm vang lên trong Phật
điện, long cả tai. Đoàn Quốc Hùng nhắm nghiền mắt lại,
vùi đầu xuống chiếu. Sau khi giã nát thuốc, sư cụ lấy
tay cầm đắp vào vết thương trên ống chân Đoàn Quốc Hùng,
rồi xé một miếng áo của mình để buộc vết thương lại.
Đang buộc, bỗng nhiên sư cụ hỏi :
- Ông
thấy đau nhức hay sao mà run thế ?
Đoàn
Quốc Hùng ngóc đầu dậy, nhìn sư cụ Vân Không như muốn
nói, nhưng hễ mở miệng ra lại thôi, lâu lắm mới hơi thốt
lên những lời líu nhíu :
- Bạch
cụ, tôi cảm ơn cụ lắm ! Song thật cụ có nhận ra tôi là
ai không ?
- Tôi
nhận ra. Sư cụ vừa nói vừa cười. Ông là Đoàn Quốc Hùng.
Đoàn
Quốc Hùng ngồi nhỏm dậy, tỏ vẻ kinh hoảng và bi thương
nhìn Vân Không :
- Thế
ra sư cụ là Xà nhân Trần Phán ?
- Đó
là tên họ ngày xưa. Sư cụ mỉm cười.
- Bạch
cụ. Đoàn Quốc Hùng lại nằm xuống và nước mắt trào ra.
Trước đây mười năm, sư cụ muốn thanh toán tôi. Tôi còn
nhớ mãi câu nói ấy ! Bất cứ ở đâu và giờ phút nào,
tôi cũng phảng phất như thấy ánh mắt sư cụ nhìn tôi trước
khi bỏ đi. Đã mười năm qua, ánh mắt ấy cứ theo tôi như
bóng với hình. Không một thời khắc nào mà tôi thấy lòng
được bình yên và thanh thản ! Lúc nào tôi cũng sống trong
hồi hộp và lo sợ. Tôi muốn sám hối tội ác tôi đã gây
nên nhưng chưa gặp cơ hội, ngày đêm tôi mong sư cụ về
để trả thù tôi nhưng vẫn bặt tin. Tôi. Tôi đã đăng tin
trên các báo chí để tìm sư cụ, nói rõ là tôi đã ăn năn
và đau đớn. Song không được hồi âm của sư cụ, cuối
cùng tôi đành bỏ nhà ra đi tìm sư cụ. Dù có bị sư cụ
thanh toán, tôi cũng đỡ khổ. Hôm nay, ta gặp nhau ở đây,
chính là dịp để sư cụ trả cho xong mối oan cừu năm xưa.
Nhưng trái lại, sư cụ vẫn cứu tôi. Tôi cứ tưởng sư cụ
đã quên tất ! Đã biết tôi là Đoàn Quốc Hùng, tại sao
sư cụ lại nhọc công cứu tôi ? Thật tôi không hiểu dụng
ý của sư cụ, hay chữa khỏi rồi mới trả thù ?
- Món
nợ ấy, tôi không còn tính nữa ! Vân Không bình tĩnh nói.
Lúc ông vừa vào cửa chùa, tôi đã nhận ra ông. Nếu tôi
còn nghĩ đến thù oán, tôi cứ đứng khoanh tay nhìn ông đau
đớn đến chết, chứ vạ gì tôi phải chịu bẩn thỉu để
cứu ông ? Giờ đây, tôi là Vân Không hòa thượng, chứ không
phải Trần Xà Nhân. Xin ông cứ tin như thế !
Đúng
lúc ấy, ông già từ dưới bếp đang bưng lên một tô thuốc
vừa sắc xong. Ông từ từ tiến vào Phật điện, trao bát
thuốc cho Đoàn Quốc Hùng. Hùng đỡ lấy để xuống chiếu,
chờ cho thuốc nguội bớt. Một lúc sau, Hùng bưng bát thuốc
lên uống một hơi, đoạn lại nằm xuống.
Sư
cụ Vân Không nói :
- Lát
nữa, nọc độc trong người ông sẽ tiêu hết ! Ông đi tìm
tôi và đã gặp tôi ở đây, song người hiện đang ngồi trước
mặt ông là Vân Không hòa thượng chứ không phải Trần Xà
Nhân. Ngày mai, ông cứ yên tâm trở về, đừng đi lang thang
nữa !
- Bạch
cụ, như vậy là cụ đã tha thứ cho tôi?
- Còn
hơn cả tha thứ nữa ! Sư cụ Vân Không nói. Lòng tôi đối
với tội ác không còn sầu hận, chỉ có thương xót mà thôi
!
- Việc
này phải nhìn theo hai khía cạnh để giải quyết. Giọng Trần
Quốc Hùng bi thảm. Tâm sư cụ tuy không còn cừu hận, song
lòng tôi vẫn ăn năn sợ hãi. Mười năm qua, tôi đã luôn
luôn sống trong tâm trạng ấy. Nhiều khi tôi có một hy vọng
kỳ quặc là hy vọng sư cụ về để thanh toán tôi cho hết
mối cừu hận, cho lòng tôi được yên ổn. Nhưng tôi vẫn
không thấy hình bóng của sư cụ xuất hiện. Bởi thế, tôi
mới quyết định đi tìm sư cụ và sẵn sàng bồi thường
thiệt hại cho sư cụ cả về vật chất lẫn tinh thần. Xin
sư cụ về Thượng Hải với tôi có được không ?
- Về
Thượng Hải làm gì ? Vân Không ngạc nhiên hỏi.
- Trước
khi ra đi, tôi đã sắp sẵn một số tiền để bồi thường
cho sư cụ. Nhưng vì đường xa, đi một mình nên tôi không
dám mang theo, tôi phải gửi số tiền ấy ở ngân hàng tại
Thượng Hải. Sư cụ đòi bao nhiêu, tôi xin trả bấy nhiêu!
Nhưng sư cụ không ở đâu nhất định, ngày mai chia tay rồi
sẽ khó gặp lại sư cụ. Bởi thế, tôi muốn mời sư cụ
về Thượng Hải để tôi trả cho xong món nợ đó !
- Ý
ông muốn trả tiền tôi ? Tôi lấy tiền làm gì ? Tôi không
cần tiền.
- Tôi
cũng biết món nợ đó không phải hoàn toàn trả bằng tiền
mà xong, nhưng vẫn còn nợ tinh thần nữa. Chẳng hạn tôi
đã vu khống sư cụ đến nỗi sư cụ phải bị tù đày một
cách oan uổng trong hai tháng trời.
- Ô,
điều đó đối với tôi có một tác dụng luyện tập ! Tôi
không cho đó là “tai vạ tù đày”.
- Không
những thế, sau khi sư cụ bị giam cầm, những rắn, khỉ và
chuột của sư cụ đã bỏ đi hết !
- Khỉ,
rắn và chuột đều bị tôi bắt buộc đi theo biểu diễn,
chứ tự chúng không muốn. Khỉ luôn luôn nhớ rừng, rắn
muốn trở về bụi rậm và chuột mong được về hang tổ
của chúng. Sau khi tôi bị giam, chúng đều được tự do và
giải thoát. Như thế càng tốt chứ sao ?
- Còn
con gái của sư cụ ?
- Nó
đã lập gia đình cách đây năm năm, nghe nói đời sống cũng
dễ chịu.
- Vì
tôi ức hiếp mà sư cụ đi tu ?
- Điều
đó chính tôi phải cảm ơn ông ! Sư cụ vừa cười vừa nói.
Tôi bây giờ cũng tự do và giải thoát như những khỉ, rắn
và chuột của tôi vậy !
- Còn
nhà của sư cụ mà tôi đã chiếm đoạt để làm chuồng trâu,
chuồng ngựa ?
- Nhà
cửa đều là không. Giả sử ông trả nhà lại hay bồi thường
cho tôi thì đó chỉ là lụy cho tôi.
- Vậy
thì biết làm thế nào ? Giọng Đoàn Quốc Hùng khổ sở. Một
người mang nợ muốn trả cho hết nợ mà chủ nợ lại không
nhận mình là chủ nợ, lại còn phủ nhận cả nửa cuộc
đời trước của mình. Tâm sư cụ lâng lâng và thanh thoát,
nhưng lòng tôi thì một cái “ nút ” trói buộc suốt đời
tôi.
- Nút
gì ? Trói buộc ở chỗ nào ? Sư cụ hỏi
- Tội
nghiệt là “ nút ” trói buộc tâm tôi !
- Ông
đưa cái “ nút ” và cái “ tâm ” bị trói buộc ra đây
cho tôi xem để tôi cởi trói cho ông.
- Tội
nghiệt và tâm đều không phải thực chất, làm thế nào tôi
có thể nắm lấy mà đưa ra được ?
- Như
thế là hết trói buộc rồi ! Sư cụ Vân Không phá lên cười.
- Bạch
cụ, cụ cho là hết trói buộc, chứ tôi vẫn thấy còn bị
buộc.
- Tôi
cũng biết thế ! Sư cụ nói. Xin hỏi ông ngoài việc đó ra,
ông còn thắc mắc điều gì không ?
- Dĩ
nhiên là còn và còn nhiều hơn nữa !
-
Nếu bình sinh ông gây tội nghiệt cho tôi và coi đó là một
món “ nợ tinh thần ”, một cái “ nút ”, ông tìm đến
chủ nợ để thanh toán. Như thế là hết nợ rồi ! Giả sử
ông mắc nhiều nợ tinh thần mà chủ nợ không phải chỉ
có một người, trường hợp đó thì ông tính sao ?
- Tôi
sẽ lần lượt trả hết, nhưng phải tìm đến người chủ
nợ thứ nhất cho xong đã.
- Ông
tìm được tôi rồi, nhưng con người tôi đã đổi khác !
Từ Trần Phán đổi thành Vân Không, cho đến cái tâm cũng
đổi khác. Nhưng hãy cứ tưởng tượng rằng ông đi tìm mà
không gặp chủ nợ thì ông làm thế nào ? Sư cụ hỏi. Nói
thí dụ : Chủ nợ đã chết ?
- Tôi
tìm con cái của người ấy.
- Nếu
họ không có con thì ông tìm ai ? Thí dụ ông mang nợ một
con rắn mà con rắn đó đã chết, ông biết con rắn nào là
con cái của nó để mà trả ?
Đoàn
Quốc Hùng khổ sở không biết nói sao !
- Ông
nên biết ! Sư cụ nói tiếp. Ông mang nợ oan nghiệt nhiều
hay ít, xét đến ngọn nguồn thì đó đều là việc của ông.
Chủ nợ không nhất định sẽ đến đòi ông, mà cũng không
cần chủ nợ phải đến đòi, chỉ cái “ nợ ” ấy trói
buộc ông thôi ! Song cái nợ đó vốn không có thực chất,
đúng như lúc nãy ông nói “ tội nghiệt ” trói buộc cái
tâm của ông không phải là một vật có thực chất, mà cái
“ tâm ” bị trói buộc cũng không phải cái cục thịt trong
người ông. Ông không thể nắm bắt được ! Trong khi ông
thấy rõ như thế thì cũng như ông vừa tỉnh mộng, nợ cũng
không còn là nợ nữa !
- Những
lời đó cao siêu mầu nhiệm quá, tôi không hiểu nổi ! Xin
sư cụ giảng giải tường tận một chút nữa.
Sư
cụ Vân Không cầm một sợi dây buộc bó cỏ thuốc lúc nãy,
thắt lại thành cái nút, rồi giơ ra trước, hỏi Quốc Hùng
:
-
Đây là cái gì ?
- Cái
nút
- Nút
là cái gì ?
- Nút
là nút chứ còn là cái gì bây giờ ? Quốc Hùng cười.
- Ngoài
sợi dây ra, còn có cái “ nút ” tồn tại không ?
- Ngoài
dây thì dĩ nhiên không có “ nút ” tồn tại riêng biệt.
-
Như vậy nút là cái gì ? Vân Không hỏi dồn.
Đoàn
Quốc Hùng chịu không đáp được. Sau đó, Vân Không chỉ
vào cái nút, nói :
- Nút
là do nhiều vòng dây thắt lại mà thành, nhưng những vòng
dây không có thực thể, chỉ là giả tướng mà thôi ! Nhiều
vòng dây tập hợp lại mà thành nút, lúc chưa thành thì không
có nút và khi cởi ra rồi thì nút cũng không còn. Sư cụ vừa
nói vừa cởi cái nút ra.
- Hiện
giờ còn nút không ?
Đoàn
Quốc Hùng lắc đầu nói :
- Sư
cụ nhìn sự vật như mộng ảo. Nếu tất cả đều là giả
tướng thì còn có gì gọi là nhân quả ? Sư cụ định tạm
dùng những lời huyền diệu ấy để mở rộng lòng cho kẻ
tội ác này chăng ?
- Trong
cái rỗng không, có gì ngăn lại nhân quả ? Vân Không đáp.
Chẳng hạn cái nút này do nhiều vòng dây thắt lại mà thành,
nhưng vòng dây không có tự tính, cho nên nút cũng không có
tự tính. Bây giờ, cởi nút ra làm cho vòng dây thẳng lại
thì cái thẳng đó cũng không có tự tính. Nói đến rốt ráo
thì chính sợi dây này cũng không thật có, dây là do các thứ
cỏ bện thành. Khi cỏ chưa sinh thì không có cỏ và dĩ nhiên
cũng không có dây, lúc cỏ chưa được bện lại thì cũng
không thành dây, nếu đem đốt dây đi thì cuối cùng còn gì
? Song ông tưởng trong cái rỗng không ấy không có nhân quả
? Nếu tôi đem sợi dây không có thực thể thắt chặt vào
cổ hư giả của ông, ông sẽ thấy đau đớn khó chịu. Nhưng
sự đau đớn ấy cũng chỉ là ảo giác, cũng như dây và cổ
đều không có tự tính. Vậy cứ gì trong cái chân thật mới
có nhân quả ?
- Tuy
sư cụ chỉ dạy cho như thế, nhưng tôi vẫn không thể lĩnh
hội được, biết làm thế nào ? Giọng Quốc Hùng bi ai.
- Tôi
không trông mong ông lĩnh hội một cách triệt để. Đối với
người còn trong mộng, không có cách nào làm cho họ hiểu
được cảnh giới lúc thức; trong cảnh mộng tuy giả dối
không thực nhưng không có gì ngăn trở người ta làm ác, chịu
báo, sám hối hoặc làm thiện; nhưng khi người ta tỉnh dậy
thì mới biết tất cả việc làm lúc trước đều là chiêm
bao; đã thoát ly được cảnh mộng, trở về cảnh giác thì
hết thảy đều rỗng rang và thanh tịnh; lúc đó thì thiện
còn chẳng làm, huống chi là ác !
Nghe
đến đây, Đoàn Quốc Hùng phủ phục xuống lạy sư cụ.
Ông già đứng bên cạnh, coi bộ cũng hiểu được phần nào.
Đoàn Quốc Hùng nói với sư cụ Vân Không :
- Tôi
không muốn trở về nữa, xin cho tôi theo sư cụ xuất gia.
- Nếu
trong lòng ông thật đã giác ngộ thì hà tất cứ phải xuất
gia như tôi ! Bỏ mộng, trở về giác đều có nhân duyên.
Không nên câu chấp hình thức !
Dứt
lời, sư cụ Vân Không trở vào phòng riêng. Đoàn Quốc Hùng
không dám theo vào, nằm trên chiếc chiếu và trằn trọc mãi
quá nửa đêm cũng không thể ngủ được. Đến khi nghe tiếng
gà gáy, trời đã sắp sáng, Hùng mới đứng dậy đi vào phòng
định bày tỏ thêm nỗi lòng mình với sư cụ, nhưng khi tới
nơi thì thấy căn phòng vắng lạnh. Vân Không hòa thượng
đã bỏ đi tự lúc nào mà không ai biết !