DIỄN VĂN
KHAI MẠC
LỄ KHÁNH THÀNH
CHÙA LÂN -
THIỀN VIỆN TRÚC LÂM YÊN TỬ
(Ngày
11 tháng 11 năm Nhâm Ngọ – 14 . 12 . 2002)
Kính
thưa quý vị,\
Hôm
nay là ngày vui nhất của Tăng, Ni, Phật tử chúng tôi, được
quý Hòa thượng, quý Thượng tọa lãnh đạo Giáo hội, cùng
quý quan khách trong các Bộ, các Sở, các ngành và Phật tử
xa gần đồng đến dự lễ Khánh thành chùa Lân – Thiền
viện Trúc Lâm Yên Tử do chúng tôi được phép xây dựng.
Thật là một vinh dự lớn lao của chúng tôi.
Chùa
Lân – Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử xây dựng trong ba tháng
là xong, là nhờ sự giúp đỡ của Chánh quyền tỉnh Quảng
Ninh, Chánh quyền thị xã Uông Bí và Chánh quyền sở tại;
đồng thời được nhiệt tình ủng hộ của Cục Bảo tàng
Bảo tồn, Ban Di tích Yên Tử thường xuyên hướng dẫn chỉ
bảo cho chúng tôi. Lại được sự góp công, góp của, toàn
thể Phật tử gần xa, cùng các chú thợ, các anh em nhân công
đều cật lực, một lòng một dạ gắng sức làm ngày làm
đêm mới được kết quả như thế này.
Thưa
quý vị,
( Chúng
tôi chủ trương khôi phục Thiền tông đời Trần với mục
đích gì?
- Bởi
Phật giáo Thiền tông Việt Nam có vị trí rất vững mạnh
so với Phật giáo Thiền tông của các nước Phật giáo bạn,
như Thiền tông Ấn Độ, Thiền tông Trung Hoa, Thiền tông Nhật
Bản, … Cụ thể là:
Thiền
tông Ấn Độ: Trực chỉ, siêu lý giải. Thiền tông Trung Hoa:
Trực chỉ, táo bạo. Thiền tông Nhật Bản: Trực chỉ, nghệ
thuật và thông tục. Thiền tông Việt Nam: Trực chỉ, thi vị
và tùy cơ.
* Thiền
tông Ấn Độ: Trực chỉ, siêu lý giải là sao?
- Ngài
A-Nan hỏi Tổ Ca Diếp: Thế Tôn ngoài truyền y bát, còn truyền
cái gì cho Sư huynh không? Tổ Ca Diếp liền gọi: A-Nan! A-Nan:
Dạ! Bảo: Cây phướn trước chùa ngã. Ngài A-Nan liền ngộ.
Đây là trực chỉ.
Lại
Tổ Bồ Đề Đạt Ma, sau khi nhận Ngài Huệ Khả làm đệ
tử, Huệ Khả hỏi: Bạch Hòa thượng, tâm con không an, xin
Hòa thượng dạy con pháp an tâm. Tổ nhìn thẳng mặt Ngài
bảo: Đem tâm ra ta an cho! Huệ Khả xoay lại tìm tâm không
thấy, thưa: Con tìm tâm không được. Tổ bảo: Ta đã an tâm
cho ngươi rồi. Ngài Huệ Khả liền biết lối vào. Đây là
siêu lý giải.
* Thiền
tông Trung Hoa: Trực chỉ, táo bạo.
Thiền
sư Đức Sơn mỗi khi có người hỏi bất cứ câu nào đều
đập một gậy, nói: Tông ta không ngữ cú, không một pháp
cho người.
Thiền
sư Lâm Tế Nghĩa Huyền có người hỏi liền hét một tiếng!…
Đây là Trực chỉ, song rất táo bạo.
* Thiền
tông Nhật Bản: Trực chỉ, nghệ thuật và thông tục.
Thiền
sư Nhật Bản thích tạo Vườn thiền, Trà thiền hay Trà đạo…
Vườn thiền là thu gọn thiên nhiên vào một khung cảnh nhất
định, như những khối đá, gò núi, cội tùng, khóm hoa, lùm
trúc, cây cầu bắt ngang dòng suối, con đường trải sỏi…,
để nói lên thiên nhiên thầm lặng tịch tĩnh không lời,
người đi vào vườn tâm tư yên tĩnh hòa nhịp với thiên
nhiên, chính đây là Thiền.
Trà
đạo là những người bạn đồng tu cùng đến uống trà trong
không khí yên tĩnh thầm lặng, súc bình, chế trà, dọn chun
dĩa, bỏ trà vào bình, rót trà vào chun, bưng chun trà lên uống,
mọi hành động đều trong thầm lặng, nhẹ nhàng, thanh thoát
mà vô ngôn. Chính đây là đồng nghĩa với Thiền sư Tùng
Thẩm ở Triệu Châu, Trung Hoa, mời khách “Uống trà đi.”
Vườn thiền, uống trà đều là nghệ thuật.
Người
Nhật lại phổ thiền vào các ngành nghề, như Nhu đạo là
đánh võ, Kiếm đạo là đánh kiếm, … Đây là Thiền thông
tục.
* Thiền
tông Việt Nam: Trực chỉ, thi vị, tùy cơ.
Vua
Lý Thái Tông hỏi Thiền sư Thiền Lão: Hòa thượng trụ núi
này được bao lâu? Sư đáp:
Chỉ
biết ngày tháng này
Ai
rành xuân thu trước.
(Đản
tri kim nhật nguyệt
Thùy
thức cựu xuân thu.)
Vua
hỏi: - Hằng ngày Hòa thượng làm gì?
Sư
đáp:
Trúc
biếc hoa vàng đâu cảnh khác
Trăng
trong mây bạc hiện toàn chân.
(Thúy
trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch
vân minh nguyệt lộ toàn chân.)
Đây
là dùng thi văn để chỉ thẳng (trực chỉ) chỗ tột cùng
của người tu thiền. Thiền sư không vướng mắc thời gian,
không giới hạn không gian. Ngoài tâm không cảnh, ngoài cảnh
không tâm, tâm cảnh hòa nhịp, trong không gian bao la không giới
hạn.
Có
người hỏi Sơ Tổ Trúc Lâm: Thế nào là gia phong của Hòa
thượng?
Tổ
đáp:
Áo
rách che mây, sáng ăn cháo,
Bình
xưa tưới nguyệt, tối uống trà.
Gia
phong của Ngài là thân mặc áo rách, sáng ăn cháo, trưa ăn
cơm. Công tác là xách bình đi tưới cây, tối ngồi uống
trà. Quả là “Bình thường tâm thị đạo.” Nếp sống của
Ngài đúng với ý nghĩa đơn sơ đạm bạc, nên tự xưng Hương
Vân Đại Đầu Đà, hay Trúc Lâm Đại Đầu Đà. Chữ Đầu
Đà là tiếng Phạn, dịch nghĩa là khổ hạnh. Những đối
đáp như trên là trực chỉ, thi vị.
Các
Tổ Thiền tông đời Trần vì thấy căn cơ người dân đa
số quê dốt, không thể dùng Thiền tông chỉ thẳng được,
nên mượn pháp môn Tịnh Độ dạy họ tu. Song Tịnh Độ ở
đây là lý Tịnh Độ. Trong bài Phú Cư Trần Lạc Đạo của
Thượng hoàng Trần Nhân Tông có đoạn nói:
…
Tịnh Độ là lòng trong sạch,
Chớ
còn ngờ hỏi đến Tây Phương.
Di
Đà là tánh sáng soi,
Mựa
phải nhọc tìm về Cực Lạc.
Nương
câu Hồng danh đức Phật A-Di-Đà chuyên tâm trì niệm, tâm
được yên lặng là Tịnh Độ. Tâm lặng thì Phật tánh hiển
lộ, là thấy Phật A-Di-Đà. Nên nói “Tự tánh Di Đà, duy
tâm Tịnh Độ.”
Người
dân quê còn tin sự linh ứng mầu nhiệm của quỷ thần, thiền
sư đời Trần dạy họ trì chú để trừ tà ếm quỷ và nhờ
thần lực của chú để cúng đàn giải oan... Đây là tùy
cơ. Tuy có Tịnh, Mật đồng tu, song Thiền tông đóng vai chủ
đạo. Thế là Thiền tông lãnh đạo Phật giáo Việt Nam từ
thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ 18, mới bị lãng quên.
( Tại
sao Thiền tông bị chôn sâu vào quên lãng?
Từ
khi vua Gia Long thống nhất đất nước, lập ra triều đình
nhà Nguyễn (1802), triều đình này học theo tổ chức triều
đình nhà Thanh, từ hành chánh, quân sự, ngoại giao, … đều
rập khuôn theo nhà Thanh. Có lẽ Phật giáo Việt Nam cũng chịu
ảnh hưởng rập khuôn này.
Quyển
Nhị Thời Khóa Tụng do các nhà sư Trung Hoa soạn thảo, dưới
sự hướng dẫn của vua Khang Hy nhà Thanh được truyền vào
Việt Nam một cách ào ạt. Các tự viện từ Bắc chí Nam đều
lấy Nhị thời khóa tụng làm công khóa tu hành. Nhị thời
khóa tụng là sáng sớm trì chú Lăng Nghiêm hoặc Đại Bi Thập
Chú, chiều tụng kinh Di Đà và niệm Phật. Đây là tu Tịnh,
Mật song hành. Tịnh Độ tông lấy Tín Hạnh Nguyện làm căn
bản, Mật tông lấy thần lực linh thiêng làm tiêu chuẩn.
Ngang đây Thiền tông Việt Nam bị loại khỏi các tự viện
Phật giáo Việt Nam. Phật giáo Việt Nam từ đây trở thành
tôn giáo thuần túy tín ngưỡng. Đã thuần túy tín ngưỡng
thì dễ rơi vào mê tín dị đoan. Đây là điều không thể
tránh khỏi. Phật sự của Tu sĩ chỉ là cúng kính cầu nguyện.
Vì thế, hiện nay người đời thường gán cho Tu sĩ những
từ: Thầy chùa, Thầy cúng, Thầy đám, còn tệ hại hơn là
Nghề thầy chùa.
Đạo
Phật là đạo giác ngộ, Phật giáo là giáo lý giác ngộ.
Nếu Tu sĩ đạo Phật mà không biết giác ngộ là gì, Phật
giáo là gì, mà chỉ dạy tụng cúng, ấn chú để xua tà đuổi
quỷ thì còn gì là đạo Phật? Chính đây là nỗi đau xót
của chúng tôi. Khát vọng đem Thiền tông vào tự viện của
Phật giáo Việt Nam, để mở toang cánh cửa giác ngộ mà hơn
trăm năm nay bị đóng kín. Đây là mục đích duy nhất của
chúng tôi.
Thiền
tông đã bị băng giá ngót hai thế kỷ, nay chúng tôi cố gắng
nhen nhóm lại ngọn lửa giác ngộ của Thiền tông vừa mới
cháy le lói yếu ớt, chỉ cần một làn gió nhẹ thổi qua
cũng đủ tắt ngụm. Chúng tôi hy vọng những vị có mặt
hôm nay và những người vắng mặt, sẽ là người tri kỹ
của chúng tôi, hoặc là những người có nhận định chín
chắn phân biệt rõ chánh tà, để cùng góp lời góp sức làm
việc hộ pháp “Tồi tà phụ chánh.” Quý vị sẽ là những
tấm mành chắn gió, che chở bao bọc cho ngọn lửa Thiền tông
giác ngộ yếu ớt này dần dần được sáng tỏ.
Chúng
tôi chân thành biết ơn quý vị.
Chúc
quý vị thân thể an khang, trí tuệ sáng suốt.
Kính
chào quý vị!