BỐN DẤU
ẤN CỦA PHẬT PHÁP
Trích
trong quyển sách: CHUYỂN HÓA TÂM (Phát khởi Tâm Từ Bi)
Ðạt
Lai Lạt Ma thứ 14
Nguyên
tác:TRANSFORMING THE MIND (Teachings on Generating Compassion)
Anh
ngữ: Geshe Thupten Jinpa - Dịch sang Việt ngữ: Chân Huyền
...Trong
đời sống chúng ta ai cũng có bản năng tự nhiên mong được
hạnh phúc và thoát được đau khổ. Mong cầu được sung sướng
là điều chính yếu của tất cả mọi người. Muốn trả
lời câu hỏi vì sao thế? Có lẽ ta chỉ cần nói "Nó vậy
đó!"
Dù
chúng ta ai nấy đều có ước nguyện tự nhiên đó, dù chúng
ta đều tìm cầu hạnh phúc, nhưng cũng thật sự tự nhiên,
chúng ta ai cũng phải gặp đi gặp lại những cảnh đau khổ
đủ mọi loại. Vì sao như thế? Vì sao khi thật lòng mong được
sung sướng, chúng ta lại cứ bị phiền não.
Theo
quan điểm của Phật giáo, nguyên nhân chỉ vì chúng ta có
một số quan niệm căn bản sai lầm về cách nhận thức sự
việc liên quan tới chúng ta và thế giới bên ngoài. Nhìn tận
gốc, đạo Phật cho là ta có bốn loại nhận thức sai lạc
hay là bốn tà kiến.
Trước
hết, chúng ta nhìn mọi sự vật là vĩnh cửu, thường hằng
bất biến, trong khi thực sự chúng thay đổi liên tục và
chỉ tồn tại một thời gian. Tà kiến thứ hai: chúng ta coi
mọi sự kiện - sự thật là nguồn gốc của khổ não - như
những nguyên nhân mang lại hoan lạc, hạnh phúc.
Thứ
ba: chúng ta coi những thứ bất tịnh như các thứ thanh sạch,
đáng ao ước. Thứ tư: chúng ta có khuynh hướng coi mọi thứ
đều hiện hữu trong khi thật sự không có sự vật nào có
tánh cách riêng của nó.
Những
tà kiến căn bản trên khiến ta nhìn mình và thế giới liên
hệ tới mình một cách sai lạc, đưa ta tới những rối ren
đau khổ. Trên động cơ căn bản này, đạo Phật đưa ra bốn
thứ dấu ấn (Tứ pháp ấn) như những tiền đề, nguyên tắc
chính trong tất cả các tông phái Phật giáo. Ðó là:
- Mọi
sự vật (pháp) do nhân duyên tạo thành đều thay đổi luôn
luôn (Vô thường).
-
Những gì bất tịnh đều "bất thỏa đắc" (Khổ).
-
Không có sự việc nào có tánh cách riêng biệt (Không).
-
Niết bàn là nơi thật sự có an lạc (Niết bàn tịch tĩnh).
1.-
Vạn pháp đều vô thường: Ðây là pháp ấn thứ nhất, căn
bản của đạo Phật: mọi sự đều vô thường thay đổi
hoài hoài. Mọi sự hay vạn pháp đây là tất cả những gì
do nhân duyên mà được tạo nên, chúng luôn luôn thay đổi
như chất lỏng tuôn chảy thành dòng liên tục.
Trong
cái nhìn phiến diện sơ qua về vô thường, chúng ta đều
nhận thấy được mọi sự vật thay đổi và chấm dứt ra
sao? Nhưng Phật pháp đi xa hơn, cho rằng dưới tầng lớp của
những thay đổi ta nhìn thấy, còn có một tầng lớp thay đổi
thâm sâu vi tế hơn không lộ ra ngoài.
Nếu
chúng ta nhận diện được những thay đổi trong một quảng
thời gian dài, thì ta cũng có thể tìm hiểu tới những thay
đổi trong một đơn vị thời gian nhỏ nhất mà ta có thể
tưởng tượng ra. Dù chỉ trong một phút giây, diễn biến
đổi thay vẫn luôn luôn hiện diện.
Mọi
sự vật đều có chút gì thay đổi dù chỉ nhìn từ trong
một đơn vị thời gian cực ngắn (sát na). Do đó chúng ta
có thể lý luận rằng vạn pháp do nhân duyên tạo thành đều
có bản chất vô thường. Nghĩa là mọi sự vật đều phù
du chóng tàn.
Khi
bạn hiểu được quan điểm căn bản này thì bạn sẽ nhìn
thấy hạnh phúc mà ta ao ước cũng như đau khổ ta muốn tránh,
đều cũng là những chuyện do nhân duyên đưa đẩy. Chúng
không từ đâu tới, chỉ do các nhân duyên khởi lên.
Dù
cho bạn phải kinh qua một chuyện đau khổ, lớn lao tới đâu
chăng nữa, nó cũng là do các nhân duyên - và như vậy, nó
sẽ qua đi. Hạnh phúc hay đau khổ đều có tính chất đổi
thay luôn luôn. Hạnh phúc và đau khổ bình đẳng với nhau
vì có cùng bản chất vô thường.
2.-
Mọi sự bất tịnh đều bất thỏa: Pháp ấn thứ hai đề
cập tới sự khác biệt giữa hạnh phúc và khổ đau, cho rằng
bản chất của những hiện tượng bất tịnh là gây ra sự
không hài lòng (bất thỏa hay bất thỏa đắc). Ðiều này
có thể hiểu ngầm là những gì không do các nhân duyên bất
tịnh thì có thể mang lại sự hài lòng, thỏa mãn.
Khi
nói về những gì bất tịnh ở đây, ta muốn nêu lên những
sự cố khởi lên do những nhân duyên bất thiện, những cảm
nghĩ tiêu cực, phiền não. Nó bị gọi là bất tịnh vì bị
nhuốm những chất ô nhiễm của tâm. Do đó, căn bản của
chúng là không đem lại sự thỏa lòng, bản chất của chúng
là khổ đau (Duhkha).
Dấu
ấn thứ hai không chỉ nói tới những cảm giác mà ai cũng
công nhận là đau đớn hay phiền não. Dĩ nhiên, chúng ta đều
ao ước muốn thoát khổ, nhưng tùy vào sự tỉnh thức của
mỗi người, chúng ta hiểu về cái khổ một cách khác nhau.
Ðạo
Phật nói tới loại khổ trong pháp ấn thứ hai này, là có
ý đề cập tới những loại khổ ở tầng lớp rất vi tế.
Những ai đã hiểu Phật pháp đều biết trong đạo Phật có
ba loại khổ: Khổ khổ, Hoại khổ và Hành khổ. Chúng ta đề
cập tới loại khổ cuối này ở trong pháp ấn thứ hai.
Như
tôi đã trình bày, pháp ấn thứ hai có ngụ ý, nếu chúng
ta không bị ô nhiễm trong tâm thì chúng ta sẽ có hạnh phúc
lâu dài và nguyên sơ mà ta hằng ao ước. Câu hỏi là vì sao
các vọng tâm ô nhiễm đưa chúng ta vào những kinh nghiệm
khổ đau? Và chúng ta có thể nào vượt thắng được các
loại cảm nghĩ tiêu cực bất thiện đó chăng?
Những
thứ tâm ô nhiễm hay các cảm nghĩ tiêu cực bao gồm tất
cả các loại suy tư, cảm xúc có bản chất phiền não. Từ
ngữ Tây Tạng Nyon-mong có nghĩa là những gì làm cho ta đau
khổ từ bên trong chúng ta, chúng gây ra phiền não và đau khổ.
Tôi
muốn nói tới gốc rễ của tất cả nỗi khổ đau nơi chúng
ta, ở tầng lớp vi tế, đó chính là các năng lượng bất
thiện của những cảm nghĩ tiêu cực nằm sâu trong tâm ta.
Ðiều
này có nghĩa là những gốc rễ của khổ đau có sẵn ở bên
trong chúng ta, các gốc rễ hạnh phúc cũng vậy. Do đó, ta
biết rằng tùy theo tâm mình có kỷ luật nhiều hay ít, ta
sẽ có được hạnh phúc hay đau khổ. Tâm có kỷ luật, tâm
được chuyển hóa thì đưa tới an vui - trong khi tâm vô kỷ
luật, bị các phiền não dẫn dắt, đưa ta tới khổ não.
Bây
giờ chúng ta có thể phối hợp những quán tưởng của ta
về hai dấu ấn đầu tiên. Thứ nhất, mọi sự đều vô thường:
ta hiểu mọi sự vật đều do nhân duyên hiện khởi, không
chỉ tùy thuộc vào các thứ khác để sinh tồn, mà chính tự
nó cũng luôn luôn chịu theo quy luật biến chuyển, không thể
tự đứng vững. Hơn nữa, sự biến chuyển không đòi hỏi
một phân tố thứ ba nào làm động cơ. Chính những nhân duyên
tạo ra sự vật đó cũng là những nhân duyên làm cho nó ngừng
lại.
Nếu
chúng ta phối hợp "cái thấy" này với cái thấy trong pháp
ấn thứ hai, ta sẽ hiểu rằng tất cả những gì hiện khởi
do kết quả của các nhân duyên bất tịnh - là những vọng
tâm ô nhiễm - thì chúng đều có căn bản không mang tới hạnh
phúc, vì chúng bị các tâm không trong sạch chỉ đạo.
Suy
nghĩ như thế, ta sẽ nhận biết được rằng, chúng ta đã
để cho mình bị các cảm nghĩ bất thiện kiểm soát, và hơn
nữa, ta đã để cho các cảm nghĩ đó bị những năng lực
tiêu cực trong tâm kềm chế. Ta cũng sẽ bắt đầu hiểu được
rằng, nếu ta cứ tiếp tục để tình trạng như thế, nó
sẽ dẫn ta tới khổ đau. Theo đó, các cảm nghĩ bất thiện
trong ta thật sự là những năng lượng có tính cách phá hoại.
Những
gì làm hại ta hay mang lại tai ương đều được gọi là kẻ
thù. Kẻ thù đích thực của ta thật ra nằm trong chính ta!
Vậy mới là khó khăn. Nếu kẻ thù ở bên ngoài, ta có thể
chạy trốn hay ẩn náo. Ðôi khi ta có thể đánh lừa hắn
nữa. Nhưng kẻ thù ngay trong ta, thật khó mà biết phải làm
sao.
Câu
hỏi nồng cốt cho người tu tập theo con đường tâm linh là
ta có thể thắng được kẻ nội thù đó chăng? Ðây là sự
thử thách quan trọng nhất của chúng ta.
Có
vài triết gia thời cổ cho rằng, tánh ô nhiễm là một bản
thể của Thức, không thể tách rời nó ra được, nếu thức
còn thì những bất tịnh còn hiện diện. Nói như thế ngụ
ý là ta không thể thắng được nó.
Nếu
thật sự như vậy, tôi thà làm một người theo chủ nghĩa
hưởng lạc. Tôi chẳng cần cố gắng tu tập làm gì, sẽ
đi tìm khuây khỏa trong rượu hay trong các thứ khác, bỏ qua
luôn các ý tưởng về tu luyện tâm linh. Và tôi cũng chẳng
cần để ý tới những thắc mắc triết học đó. Có lẽ,
đó là cách tốt nhất để có hạnh phúc chăng?
Nếu
các bạn so sánh con người với con vật, bạn sẽ thấy đôi
khi loài người chúng ta bị kẹt vào những tưởng tượng,
suy tư nên chúng ta tự tạo ra những rối ren phiền phức,
trong khi lũ vật không có những sinh hoạt tinh thần thì chúng
lại hài lòng, bình thản và thoải mái. Chúng ăn khi được
nuôi và ngủ khi nghỉ ngơi. Trong một khía cạnh nào đó, loài
vật tỏ ra hài lòng hơn chúng ta nhiều. Vấn đề này đưa
ta tới pháp ấn thứ ba.
3.-
Mọi sự vật đều không có tự tánh: Pháp ấn thứ ba: mọi
pháp đều trống rỗng không có tự tánh. Ta không nên hiểu
dấu ấn này là chủ thuyết hư vô. Bạn không nên nghĩ rằng
đạo Phật dạy những điều nếu đem phân tích tới cùng
thì mọi sự đều không hiện hữu. Không phải vậy.
Khi
nói về an lạc, phiền não, về các phương pháp tốt nhất
để thêm vui bớt khổ, chắc chắn chúng tôi không bao giờ
cho là mọi sự đều không hiện hữu. Pháp ấn thứ ba có
nghĩa là có một sự khác biệt căn bản giữa nhận thức
của ta về mọi sự vật so với bản chất thực của chúng.
Mọi chuyện không hiện hữu như chúng ta tưởng về nó - không
hiện hữu độc lập và rõ ràng như ta nghĩ.
Ðể
có thể xét coi những cảm nghĩ tiêu cực như giận, ghét v.v...
có thật sự nằm trong bản chất của tâm ta không, chúng ta
phải quán sát chính mình và những kinh nghiệm mình đã trải
qua.
Sự
giận ghét có hiện diện thường xuyên trong tâm ta không? Ðôi
khi ta giận, có lúc ta ghét, rồi các cảm nghĩ này cũng biến
đi. Không phải có tâm thức là có các cảm xúc bất thiện
này. Có khi giận ghét khởi lên, nhưng cũng có lúc các đối
lực của nó: lòng từ bi, thương yêu cũng khởi lên.
Ðạo
Phật cho rằng tâm thức căn bản của chúng ta như bị các
đám mây bao phủ, khi các cảm nghỉ khởi lên. Chúng tôi cũng
cho rằng hai cảm xúc trái ngược như yêu và ghét không thể
cùng một lúc hiện diện trong tâm của một con người. Những
cảm nghĩ khác nhau hiện ra trong tâm ta tùy lúc, do đó không
thể có chuyện các cảm xúc tiêu cực lúc nào cũng hiện diện,
bám chặt vào bản tâm chân thật của mình.
Vì
vậy, ta ví các cảm nghĩ thiện hay bất thiện chỉ như những
đám mây che khuất tâm chân thật: bản tâm chúng ta thanh tịnh,
trung tính; có thể bị các vọng tâm thiện hay bất thiện
ảnh hưởng. Vậy thời chúng ta có hy vọng.
Trong
căn bản lý luận này, vấn đề quan trọng là ta có thể nào
loại bỏ được những cảm nghĩ bất thiện đó hay không?
Trên
kia, chúng ta đã thấy rằng mọi sự vật đều thay đổi trong
vô thường - có nghĩa là chúng ta có thể vượt thắng được
những cảm xúc và ý nghĩ bất thiện. Trong bình diện phổ
quát và căn bản hơn, chúng ta muốn biết những ô nhiễm trong
tâm thức có thể hoàn toàn bị loại trừ hay chăng? Tất cả
các trường phái Phật giáo đều cho là có thể. Trong nhiều
kinh luận của đạo Phật, chúng ta thấy có rất nhiều bài
giảng cặn kẽ về bản chất của các loại tâm bất thiện,
về tiềm năng phá hoại và các nhân duyên tạo ra chúng v.v...
Căn bản của những bài giảng này là tìm cách diệt tận
gốc rễ các năng lực tiêu cực đó.
Dĩ
nhiên chúng ta có thể nói chuyện Phật pháp trong bối cảnh
giới luật như: không được giết hại, nói dối v.v... hoặc
phải làm những điều lành. Nhưng các giới luật này chỉ
có ý nghĩa đại cương vì các hướng dẫn đạo lý như vậy
không phải là những gì đặc biệt chỉ đạo Phật mới có.
"Khả
năng có thể làm bặt hết các năng lực bất thiện trong ta
mới là sự hành trì đặc sắc của đạo Phật. Ðó là Niết
bàn tịch tĩnh, là sự giải thoát toàn diện, sự ngừng bặt
của tất cả những phiền não trong tâm. Ta có thể nói Niết
bàn là ý niệm căn bản của Phật pháp".
Ðối
với một Phật tử, tất cả những phép tu tập phải được
hiểu là để đạt tới tinh thần tự do tuyệt đối, không
còn bị tâm ô nhiễm làm vướng bận. Ðiều này cũng áp dụng
vào Giới, vì giữ giới nghiêm mật cũng là để tiến tới
mục tiêu giải thoát.
Mục
tiêu tối hậu của người Phật tử là nhổ tận gốc những
cảm nghĩ bất thiện trong tâm, nguồn gốc của những hành
động xấu ác. Sự cố gắng của người Phật tử thể hiện
qua tác phong đạo đức trong lối sống của họ, chứng tỏ
họ có thật sự muốn chuyển đổi những gốc rễ tiêu cực
đó hay không? Những nỗ lực đầu tiên của các nỗ lực
đó là các hành động (thân nghiệp) và lời nói (khẩu nghiệp)
của họ.
Khi
phân tích tánh chất của các cảm xúc và ý nghĩ tiêu cực,
ta nhận ra nền tảng phía dưới của chúng luôn luôn là những
vọng tâm - những tưởng tượng do tâm phóng chiếu ra dù có
đối tượng hay không.
Chẳng
hạn khi có một vật ta cho là hấp dẫn, ta sẽ cảm nhận
những điểm đáng yêu của nó, và qua trí tưởng tượng,
làm cho vật đó trở nên hấp dẫn nhiều hơn. Ta sẽ có khuynh
hướng dễ dãi với nó, muốn gần cận rồi trở nên ngày
càng vướng mắc vào đối tượng ấy.
Tương
tự như vậy, khi ta gặp phải những việc ta không ưa, ta thường
phủ lên nó các tính cách không giống với bản chất của
nó. Ðây là các phản ứng ta thường có đối với mọi sự
vật: hoặc ta bị lôi cuốn, hoặc muốn lánh xa.
Hai
khuynh hướng này khiến chúng ta có những phản ứng tâm lý
đối với mọi sự vật. Ðộng cơ nằm dưới những phản
ứng này của ta là sự dính mắc quá nhiều vào đối tượng.
Dính mắc có thể là sự ham muốn hoặc chối bỏ. Do đó ta
bị khổ đau.
Trong
các tông phái Phật giáo, người ta có những hiểu biết khác
nhau về bản chất của khổ, nguyên nhân tạo ra khổ, tùy
vào quan niệm của tông phái đó đối với bản chất thực
tại. Có lẽ Pháp Tướng tông (Duy Thức hay Duy Biểu), có cái
hiểu sâu xa hơn về khổ.
Ðại
sư Long Thọ (Nagarjuna) nói rằng Niết bàn phải được hiểu
là sự tự do thoát khỏi các khổ thọ trong tâm và các hành
nghiệp do khổ tạo ra. Ta đau khổ vì những hành động gây
nghiệp chướng, và những nghiệp dĩ này là do các cảm nghĩ
bất thiện trong ta thúc đẩy.
Những
cảm xúc và tư tưởng bất thiện tự chúng đều là sản
phẩm của các phóng chiếu và tưởng tượng, có gốc rễ
từ các nhận thức sai lầm về thực tại. Nhận thức sai
lầm đây chính là quan niệm cho rằng mọi sự vật đều có
thật, hiện hữu độc lập và có tự tánh riêng.
Theo
ngài Long Thọ, hiểu biết về Không (Emptiness) thật sự giúp
ta loại bỏ được vô minh căn bản, quan niệm sai lầm của
ta về thế giới. Ðiều này liên quan trực tiếp tới pháp
ấn thứ ba: mọi vật đều trống rỗng và không tự mình
tồn tại được.
Pháp
ấn này cho ta biết, dù bình thường ta tin rằng mọi sự vật
đều có thật và thường hằng, có thể hiện hữu độc lập,
nhưng thực sự chúng không có các đặc tính như vậy. Quan
niệm cho rằng mọi sự vật đều hiện hữu và tồn tại
một cách độc lập là một nhận thức sai lạc.
Chỉ
có sự giác ngộ về tánh Không mới giúp ta loại bỏ được
sự sai lầm này. Tuệ giác về Không giúp ta có thể loại
bỏ được những cảm nghĩ tiêu cực, vốn có gốc rễ từ
những nhận thức sai lạc đó.
Hơn
nữa, ta cũng sẽ hiểu ra là giữa các cảm nghĩ bất thiện
và tuệ giác về Không, có sự đối nghịch trực tiếp với
nhau. Tuệ giác bắt nguồn và được hỗ trợ từ những kinh
nghiệm và lý giải vững chắc có giá trị, trong khi cảm nghĩ
tiêu cực thì không. Nhìn vào toàn thể các chuyện đã nêu
trên, ta sẽ thấy rằng nếu ta có tuệ giác về tánh Không,
ta sẽ loại trừ được các đau khổ trong tâm thần.
4.-
Niết Bàn là an bình thật sự: Pháp ấn thứ tư xác định
rằng bản chất của tâm là thanh tịnh, sáng láng. Những ý
niệm sai lầm, những cảm nghĩ tiêu cực không có sẵn trong
bản chất của tâm. Biết rằng các phiền não khổ đau có
gốc rễ từ những nhận thức sai lầm, ta biết có một thứ
đối trị được chúng: đó là tuệ giác về tính rỗng không
của mọi sự vật, hay nhận thức đúng về thực tại.
Do
đó, tánh trống rỗng nghĩa là không có sự hiện hữu tự
tại, đôi khi được gọi là "Niết Bàn tự nhiên". Vì bản
chất của các hiện tượng là trống rỗng nên Niết Bàn -
tức là thực sự thoát khỏi đau khổ - là điều ta có thể
đạt tới.
Ðiều
này giải thích vì sao kinh điển Phật giáo nói tới bốn loại
Niết Bàn: Tự tánh Niết bàn, nói về tánh trống rỗng; Hữu
dư Niết bàn, kể tới sự tiếp tục hiện hữu vật chất
của cá nhân; Vô dư Niết bàn và sau cùng là Vô trụ xứ Niết
bàn. Vì có Tự tánh Niết bàn nên mới có ba loại sau.
Ý
nghĩa chính xác của Vô dư Niết bàn và Hữu dư Niết bàn
được giải thích khác nhau trong các tông phái Phật giáo.
Một số trường phái định nghĩa Hữu dư gồm các uẩn tạo
thành cá nhân, một số khác lại hiểu Hữu dư chỉ là những
nhận thức nhị nguyên còn sót lại. Cái Dư của ngũ uẩn
chỉ các thành phần vật chất ta có, do kết quả của các
nghiệp trong quá khứ. Tuy nhiên chúng ta không cần đi sâu vào
chuyện này.
Ðiều
căn bản là từ pháp ấn thứ ba, chúng ta hiểu được rằng
bản chất của mọi sự vật chúng không thể hiện hữu độc
lập. Trong khi đó ta thường có quan niệm sai lầm là chúng
có tự tánh riêng biệt.
Nhận
thức vô minh này là gốc rễ của bao nhiêu rối ren và phiền
não trong ta. Tuệ giác về tánh Không của vạn pháp cho ta lực
đối trị với các nhận thức sai lầm, do đó thoát được
khổ đau. Niết bàn là hoàn toàn rũ bỏ được các cảm nghĩ
tiêu cực và các nhận thức sai lạc ấy.
Niết
bàn là sự tự do, không còn khổ, cũng không còn các nguyên
nhân gây khổ. Hiểu Niết bàn như vậy, ta bắt đầu hiểu
được hạnh phúc chân thật nghĩa là gì. Ta có thể nhìn ra
được khả năng được tự do hoàn toàn, không còn khổ đau.
Vậy
chúng ta có thể kết luận như sau: Tuệ giác về tánh trống
rỗng (tánh Không) có khả năng giúp ta loại trừ hết những
cảm xúc và tư tưởng bất thiện, cũng như các nhận thức
sai lầm, nền tảng của chúng. Trong tuệ giác về Không, mọi
chất ô nhiễm đó bị quét sạch và được tịnh hóa. Vậy
thì, điểm chính yếu là người Phật tử phải hiểu về
Niết bàn, căn cứ trên tuệ giác về Tánh Không.