HAI ĐẶC
TÍNH VÔ NGÃ
(Buddhism-
Buddhist Monks and Nuns in Society and Culture)
Nguyên
tác: Etienne Lamotte
Phỏng
dịch: Trí Nguyệt
Căn
cứ vào giáo pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật giáo Theravada
chỉ xây dựng được học thuyết Nhân vô ngã (Pudgala-nairàtmya),
tức chúng sanh vô ngã; mãi cho tới ba thế kỷ sau Phật niết
bàn, các học giả Phật giáo Mahayana không dừng ở đó mà
lại đi xa hơn một bước nữa là xây dựng thêm học thuyết
Pháp vô ngã (dharma-nairàtmya), tức vạn vật vô ngã. Bám chắc
vào cái ngã là một ảo tưởng lớn nhất kể từ khi nó phát
sanh trong tâm thức dưới mọi hình thức của tham ái. Sự
diệt tận tham ái là một điều kiện rất cần thiết cho
tiến trình giải thoát. Các học giả Mahayana và Theravada đều
nhất trí loại bỏ niềm tin vào Ngã (cái Ta) và những gì
thuộc về Ngã (cái của Ta). Bất cứ thứ gì mà được mệnh
danh là Linh hồn, chúng sanh, con người hay nguyên nhân đầu
tiên đều không tồn tại; thậm chí chúng sanh, thánh nhân,
bồ tát hay phật chỉ là những cái tên suông, không có thật
thể.
Mặc
dù các học giả Theravada phủ nhận cái Ta, họ vẫn còn tin
chắc vào một thực thể của vạn pháp. Trường phái Nhất
thiết hữu bộ và Chúng lượng bộ đã đưa ra một loạt
những hiện tượng tương đối: thực thể của vật chất,
tư tưởng, các chức năng tư tưởng, những nhân tố kết
hợp. Những thứ này chỉ tồn tại trong chốc lát ngắn ngủi,
nhưng lại mang trong nó một bản chất tự nhiên lâu dài. Đối
với các học giả Mahayana, hiện tượng là duyên sinh, chúng
nó không thể tự tồn tại. Các hiện tượng là trống rổng,
không có thực chất và đặc tính gì cả. Từ cái tính trống
rổng này có ba kết quả tất yếu theo sau là
KHÔNG,
VÔ TƯỚNG, VÔ TÁC:
Vạn
pháp không sanh cũng không diệt, vì những vật giả dối có
từ những thứ không thực, thật ra, chưa bao giờ có, đã
không có sanh thì tất nhiên không có diệt (Không).
Vạn
pháp, vốn không sanh không diệt, là hoàn toàn thanh tịnh, vắng
lặng, đây là thực chất của muôn pháp (Vô tướng).
Vạn
pháp, đã thanh tịnh và vắng lặng, đều bình đẳng và không
có hai hiện tượng. Đó là lý do vì sao các học giả Mahayana
không quán sát hiện tượng mà chỉ quán sát bản chất thanh
tịnh tuyệt đối của muôn pháp. Những gì là thanh tịnh tuyệt
đối? Đó là những gì không sanh, không diệt, không tạo tác,
không hiện hữu (Vô tác).
Trước
khi có hai học thuyết trên, bốn chân lý giảng tại Lộc Uyển,
đức Phật đã đưa ra một hình thức giải thích rất căn
bản. Ngài nói: "Tất cả hiện tượng đều khổ", chúng luôn
thay đổi. Ngài tiếp: "Nguồn gốc của khổ là tham ái", nhưng
khi không có gì sanh ra, thì không có thể nói đến nguồn gốc.
Phật dạy tiếp: "Có một phương pháp diệt khổ, đó là Niết
bàn", nhưng khi khổ không bao giờ hiện hữu thì niết bàn
không còn tác dụng nữa, cũng vậy, luân hồi sanh tử chưa
bao giờ có nên cũng không cần phải cầu thoát ly. Cuối cùng,
đức Phật nói: "Có phương pháp đưa đến sự diệt khổ",
nhưng phương pháp ấy luôn hữu dụng khi không có gì phải
diệt. Đối diện với tính chất ‘Không’ của muôn sự
muôn vật, thái độ của người trí là không làm bất cứ
gì, không nói bất cứ gì, không nghĩ bất cứ gì. Đây là
tính chất Không, Vô tướng và Vô tác.
TÍNH
KHÔNG
Một
số học giả phương tây đã cố gắng tìm một thứ phủ
định tuyệt đối để giải thích tính Không, nhưng khi các
học giả Mahayana nói rằng tất cả chúng sanh và vạn pháp
đều trống không, họ không tạo ra bất kỳ một đặc tính
gì cho chúng cả. Họ từ chối việc nói rằng tính không là
không có gì hết thảy. Đó không phải do tính không mà chúng
sanh và vạn pháp trống không: chúng trống không là vì chúng
luôn thay đổi không ngừng, nên gọi là không tồn tại. Điểm
đáng chú ý của tính không là tất cả sự vật chỉ có giá
trị tạm thời: nó chỉ là chiếc bè cần phải bỏ sau khi
đã sang bên kia bờ sông; như toa thuốc không cần thiết nữa
sau khi bệnh đã lành. Đó là lý do vì sao các học giả Mahayana
không phải là những người theo thuyết hư vô: những người
theo hư vô chủ nghĩa phủ định những gì họ thấy, nhưng
các học giả Mahayana không nhìn thấy sự vật nên không khẳng
định cũng không phủ định vạn vật.
CHÂN
LÝ TƯƠNG ĐỐI & CHÂN LÝ TUYỆT ĐỐI
Từ
đó có một ý tưởng tương phản nảy sanh: một mặt Phật
giáo Mahayana nuôi một hoài bão lớn về lòng từ bi, lợi tha,
và đưa ra vô số các hạnh nguyện, phương pháp tu tập của
chư Phật, Bồ tát; mặt khác lại chủ trương rằng tất cả
chúng sanh không tồn tại, muôn pháp trống không. Như vậy
người ta phải chọn: thứ nhất là chư Phật, Bồ tát giáo
hóa chúng sanh, thứ hai là không ai hóa độ ai cả. Các học
giả Mahayana tự đưa ra luận cứ như vậy và tự tìm ra câu
trả lời cho học thuyết ấy rằng có hai giá trị chân lý:
một là chân lý tương đối (samvrti-satya), hai là chân lý tuyệt
đối (paramàrtha-satya). Chưa từng trải qua cuộc sống thực
tế hàng ngày của pháp tương đối thì không thể nào nhận
thức được sự thực vi diệu; đó chỉ là vấn đề nhận
thức để tìm đến niết bàn tịch tĩnh. Vì vậy, sống theo
chân lý tương đối như điểm khởi đầu là cần thiết,
vì đó là phương tiện để đạt đến niết bàn, giống như
muốn kéo nước thì phải dùng đến thùng.
Từ
khi mới phát tâm bồ đề chứ chưa hoàn toàn giác ngộ, vị
Bồ tát phải tu tập sáu pháp Ba la mật: Bố thí, Trì giới,
Nhẫn nhục, Tinh tiến, Thiền định và Trí tuệ. Đây là phương
pháp thế tục và tạm thời để thực hành các pháp Ba la
mật. Tuy nhiên, khi tâm vị ấy mở rộng hướng tới chân
lý tuyệt đối và hiểu được hai tánh chất không của con
người và vạn vật, vị ấy thực hành các pháp Ba la mật
đó với một tư duy cao tột vượt lên phàm tình, ứng hợp
với chân lý thâm diệu: bố thí mà không còn thấy người
cho, người nhận và vật phẩm bị cho nữa; trì giới trọn
vẹn là khi đã đoạn trừ tâm phân biệt tội và phước,
đúng và sai; nhẫn nhục cao tột là khi tâm không còn khái
niệm đau khổ hay uất ức; tinh tấn hoàn toàn là khi không
cần thể hiện cố gắng nào của thân và tâm; thiền định
siêu việt là khi quan sát định tâm với tán loạn là một
và trí tuệ tuyệt đối là đoạn trừ tâm si mê ảo tưởng.
Điểm cao tột của Bồ tát đạo là dứt tuyệt ngôn ngữ
và suy nghĩ. Khi thái độ đó phù hợp với chân lý thì đạt
nhiều kết quả hơn là hành động với tâm phân biệt và
định kiến. Bằng cách chấp nhận quan điểm chân lý tương
đối, phủ định những gì từ quan điểm chân lý tuyệt đối,
học giả Mahayana đứng ở lập trường trung đạo giữa khẳng
định và phủ định, giữa hiện hữu và không hiện hữu.
Đây là giáo lý Trung đạo đế trong đó tránh được mọi
chống đối.
Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 02-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 233 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân