From:
Huong Tra <lethihuongtra@y...>
Date:
Wed Nov 27, 2002 1:15 am
Subject:
Bu’t Ma’u
Chào
các đạo hữu,
Do
một bài ba’o loan tải nơi nhật ba’o Thisday tại Nigeria đã
làm 215 người chê’t và hơn 1000 người bị thương.
Ban biên tập tờ ba’o đã xin lỗi và sau đó bị đo’ng cửạ
Ky’ giả viết bài báo này đang phải lẩn trốn vì bị lên
án tử hình.
Nhân
sự cô’ này Hương Trà mượn diễn đàn post lại câu chuyện
<<Bu’t Ma’u>> để chu’ng ta cùng đọc lại và nghiền
ngẫm thật kỹ trước khi chu’ng ta viết hay nói một
điều gì.
Lương
Sinh trong câu chuyện lỡ dùng ngòi bu’t của mình ca ngợi
một viên quan tổng trâ’n độc a’c nhiễu hại dân lành
đã gây ra ca’i chê’t của nhiều ngườị...Lương sinh đã
tạo nghiệp vì ngòi bút, ky’ giả ba’o Thisday cũng tương
tự và chu’ng ta, nê’u không cẩn trọng biết đâu cũng vậỵ...
Các đạo hữu có thể đọc được Unicode xin vào trang nhà
của http://www.thuvienhoasen.org/u-butmau.htm
và Trang Nhà Tu Viện Quảng Đư’c tại http://www.quangduc.com
Bút Máu
Luong
Sinh người Mãn Châu, con nhà thế phiệt, nổi tiếng thông
minh đỉnh ngộ từ khi tóc để trái đàọ Lên tám đã giỏi
thơ ca, từ phú, ai cũng ngợi khen là bậc thần đồng.
Năm
lên mười hai, gặp thời loạn ly, cha mẹ đều bị giặc giết.
Sinh sầu thảm mấy tháng liền, mất ăn, mất ngủ, lại thêm
căn tạng yếu đuối nên lâm bệnh nặng, thần kinh hốt hoảng,
luôn luôn giật mình, nằm mơ thấy toàn là máu lửa, sọ xương.
May có người cậu đem về săn sóc đêm ngàỵ Sau nhờ đạo
sĩ họ Trình ở núi Hoa Dương dùng biệt dược trị liệu
nên được lành bệnh, tâm thái trở lại an tĩnh điều hòạ
Khi lên mười lăm, Sinh được người cậu gởi đến Lã Công,
một quan thủ hiệu bãi chức từ lâu ở nhà mở trường dạy
võ. Sinh học rất chóng, nửa năm đã làu thông cả mười
hai môn võ bí truyền của nhà họ Lã. Lã Công quý mến, một
hôm lấy thanh bảo kiếm của mấy mươi đời họ Lã lập
công trao cho Sinh luyện tập. Giữa buổi Sinh đang múa kiếm,
bỗng dừng phắt lại, đưa kiếm lên ngửi rồi cau mày, kêu
lên:
- Máu
người tanh quá!
Đoạn
đem thanh kiếm nộp trả, cáo từ mà về.
Đến
nhà, lạy cậu thưa lên:
-
Võ nghệ không phải là con đường cháu nên theọ Máu người
chảy trong cơ thể quý vô cùng nhưng dính ra ngoài lại quá
hôi tanh. Kẻ cầm lưỡi dao trọn đời sao cho khỏi đổ máu
người! Điều tàn nhẫn ấy cháu không làm được.
Người
cậu giận lắm, bảo rằng:
-
Mày thực cạn nghĩ, phụ cả lòng ta trông đợi lâu naỵ Đành
rằng máu người là quý, nhưng để máu ấy chảy trong đầu
bọn ác nhân thì càng có hại cho người, lại càng có tội!
Lương
Sinh cúi thưa:
-
Ai cũng cho mình là phải, lấy đâu để nói tốt xấu rõ ràng?
Làm thiện một cách hăm hở mà không ngờ rằng đấy là điều
ác, lại càng có tội vì đã lừa mình, lừa ngườị
Trộm
nghĩ binh đao là điều dứt khoát, cháu chưa dứt khoát trong
người, tự thấy không dám theo đuổị
Cậu
nói:
-
Hoài nghi như thế, e rồi không khéo mày tự mâu thuẫn với
màỵ Không phân biệt được giả, chân, thiện, ác, làm sao
có thể tự tin mà sống trên đời! Xã hội chưa đâu có thể
gọi là chốn thiên đường, bên cạnh nhà trường còn có
nhà ngục, bên cạnh ngòi bút còn có lưỡi dao, không thể
chỉ lấy một chiều, chỉ yêu một cạnh. Vị tất nhà trường
đã không tội lỗi, ngòi bút đã không oan khiên! Ta không có
con, từ lâu kỳ vọng nơi mày, nhân thời tao loạn, những
mong cho mày múa gươm trận địa hơn là múa bút rừng văn.
Bây giờ, thế thôi là hết. Từ nay tùy mày định lấy đời
mày, ta không nói nữạ
Từ
đấy, Lương Sinh sẵn có nếp nhà giàu đủ, chuyên nghề thơ
văn, tiêu dao ngâm vịnh tháng ngàỵ Lời thơ càng gấm, ý
thơ càng hoa, tiếng đồn lan xa, lan rộng như sóng trên biển
chiều nổi gió. Quan lệnh trấn mới đổi đến địa phương
vốn người hâm mộ văn chương, cho vời Sinh đến. Thấy Sinh
tướng mạo khôi ngô, lòng cảm mến, tiếp đãi hết sức
trọng hậụ Sau đó, quan lệnh mượn những thi tuyển của
Sinh trong một tháng trường. Khi quan giao trả, Sinh thấy có
những bài thơ hay họa lại những bài đắc ý nhất của mình
dưới ký tên Tuyết Hồng, con gái của viên quan. Sinh vui mừng
nghĩ rằng gặp được người hợp ý. Sau quan lệnh ngõ lời
kén Sinh làm giai tế. Sinh sung sướng nhận lờị
Sau
lễ hôn phối, Sinh mới ngỡ ngàng biết rằng Tuyết Hồng
không đẹp, cũng không biết làm thợ Càng ngày Sinh càng chán
nản khôn khuây, ảo tưởng vỡ tan, tưởng như tuyệt vọng
tình đờị Thiếu thốn hình ảnh giai nhân, cuộc sống tự
nhiên cằn cổị Nhân tết nguyên đán, Tuyết Hồng về thăm
song thân, Sinh bèn thừa dịp, noi gương Tử Trường ngày xưa
phiếm du xuân thủỵ
Sinh
chọn đường ven theo suối đẹp, đi mãi đã mười ngày, tiền
lưng muốn cạn, ý thơ chừng đầy, chợt đến một miền
tiêu điều, dân cư thưa thớt, Sinh chán nản định quay về,
nhưng ruột đói lưỡi khô, bèn đi tìm một tửu quán nghỉ
chân. Qua ba dặm đồng trơ trọi vẫn chưa thấy bóng một
người để hỏi thăm nơị Bỗng nghe phảng phất tiếng trống,
tiếng chuông lẫn tiếng reo cườị Dò theo âm thanh vọng lại,
lần bước đến nơi, thấy đám hội trước chùa, bèn vào
quán nhỏ gần đấy ăn uống. Chủ quán cho biết, đã mấy
năm rồi ở đây mới có một ngày hội lớn, vì quan khâm
sai triều đình sắp về địa phương nên quan tổng trấn họ
Lý bày ra trò vui để cho dân chúng thỏa thuê ít bữạ Chợt
có tiếng hò hét và mọi người sợ hãi dạt ra, từ xa là
chiếc kiệu hoa của tiểu thư Lý Duyên Hương, con quan Tổng
Đốc. Người đẹp vừa kiêu hãnh vừa sắc sảo khiến Sinh
ngây ngất, nhìn đến quên ly rượu trong tay rơi xuống vỡ
toang. Người đẹp quay nhìn thấy, nhoẽn miệng cườị Nụ
cười lộng lẫy như hé sáng một trời tình. Sinh lảo đảo
đứng lên trả tiền rồi theo chiếc kiệu chen vào chùạ Vào
trong thấy Lý tiểu thư thành kính đàm đạo với mấy vị
Tăng già rồi lên chánh điện lễ Phật. Sinh đến phòng kế
lấy bút và giấy hoa tiên theo phỏng mấy câu:
Tiên
hoa gài mộng, vấn vương đền Phật bâng khuâng
Đông
biếc, thoáng cười tiên nữ
Mặt
nước hồ in, xao động bốn mùa sóng gió
Bóng
đêm hang thẳm, long lanh một vẻ giai nhân.
Rồi
bẻ cành hoa kẹp vàọ Khi Lý tiểu thư lễ xong, khoan thai xuống
thềm, mọi người sợ hãi bật ra hai bên thì Sinh vội vã
đi theọ Đến lúc nàng vừa lên kiệu, Sinh ném cành hoa lên
chỗ nàng ngồị Lính hầu thoáng thấy kêu lên:
-
Có người ám hại tiểu thự
Lập
tức mười lưỡi gươm dài vung lên, lính hầu vây lấy Lương
Sinh. Những người xem hội thất sắc lùi lại, dồn dập đẩy
vào nhau kêu la náo động. Tiểu thư ngồi trên, vén rèm nhìn
xuống không nói một lờị Vẻ mặt hết sức kiêu kỳ. Lương
Sinh đã toan mở lời khống chế, nhưng lính xông vào trói
chàng.
Đám
đông có tiếng thì thàọ
-
Anh ta chỉ ném một cành hoa thôi đấỵ
-
Bấy nhiêu cũng đủ héo cuộc đời rồị
-
Qua dinh Tổng trấn không lấy nón xuống đã là bay đầu, nói
chi xúc phạm đến tiểu thơ vàng ngọc!
Về
đến nha môn, lính dẫn Lương Sinh nhốt vào trại giam, rồi
tâu trình lên Tổng trấn. Lương Sinh nằm rầu rĩ trong bốn
bức vách đá, e phải mang nhục phen nàỵ
Đang
mơ màng về thế giới bên kia, chợt nghe tiếng người gọi
dậy, lập tức được lính dẫn đến công đường. Tổng
trấn ngồi giữa, vóc dạng phương phi, hàm én râu hàm, trên
tay còn cầm tang vật là mảnh hoa tiên.
Sinh
cúi đầu thi lễ, toan tìm lời kêu oan gỡ tội thì quan ra
lệnh mở tróị Trước sự kinh ngạc của Sinh, quan bước
xuống thềm, dắt Sinh vào trong, kéo ghế bảo ngồi, Sinh từ
chối hai ba lần không được. Quan nói:
-
Ta thường ước ao gặp được một người tài đức, nay biết
người là danh sĩ nên thực hết lòng hâm mộ. Lính hầu sơ
xuất phạm điều vô lễ vừa rồi, ta sẽ nghiêm trị. Gác
đằng thuận nẽo gió đưa, người hãy cùng ta ở đây hưởng
mấy ngày xuân vui câu xướng họa, cho thỏa tình ta khao khát
lâu naỵ
Đoạn
truyền đem rượu ngon thịt béo ra thết đãi nồng hậụ Lương
Sinh thích thú uống rượu ngâm thơ suốt ngày Tổng trấn có
vẻ đặc biệt kính trọng tài năng của Sinh. Độ chỉ hôm
sau, quan tổ chức cuộc du xuân, đưa Sinh đi xem cảnh trí trong
miền. Nơi nào quan cũng cho thấy kỳ công đại lực của quan
tạo lập cho dân: Kia là dòng suối quanh co quan đã khai thông
để để dân lấy nước cày cấy, nọ là đồng ruộng bao
la trước kia toàn là rừng rậm hoang vu quan đã tốn công khai
phá cho dân trồng trọt.
Ngồi
trên kiệu cao, Sinh nhìn theo ngón tay quan trỏ phía xa xa, mơ
hồ thấy suối thấy đồng nhiều vẽ khác màu miệng không
ngừng tán tụng. Hơi men nồng nàn, lòng Sinh chứa chan nhiệt
tình đối với những bậc "Dân chi phụ mẫu" mà xưa nay Sinh
thường tỏ ý rẻ khinh.
Đến
đâu quan cũng xin Sinh lưu bút để cho khắc vào bia đá, cột
đồng. Sinh phóng bút thao thao bất tuyệt. Mực thơm bút quý,
lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêụ Trước khi giã từ,
Sinh còn lưu lại bài tán tổng kết công đức của quan để
khắc vào chốn công đường và bài minh, ký để ghi tạc vào
mấy cổ hồng chung tại các tháp đền quy mô trong hạt. Quan
ân cần tiễn Sinh ra khỏi nha môn, đưa tặng một cỗ ngựa
bạch, mấy nén vàng, nhưng Sinh một mực từ chối từ không
nhận để giữ vẹn lòng thanh khiết.
Giữa
mùa xuân ấy Sinh lâm bệnh nặng, nằm liệt suốt một tháng
liền, Tuyết Hồng hết sức săn sóc thuốc thang, nhiều đêm
không ngủ. Bệnh cũ như muốn tái phát, thần kinh rạo rực
không yên, giấc ngủ chập chờn ác mộng.
Mấy
lần chống tay ngồi dậy, nhưng lại bủn rủn nằm xuống,
hơi thở nóng ran như lửạ Một sớm đang nằm, nghe tiếng
chim hoàng anh hót ngoài vườn vụt tắt, thấy một tia nắng
lọt qua khe cửa chợt tàn. Sinh hốt hoảng tưởng chừng mùa
xuân bỏ mình mà đi, bèn gượng ngồi lên xô mạnh cửa sổ.
Mấy nụ hoa thắm cười duyên trước thềm, lá xanh tươi màu
nhựa mớị Sinh gọi đem nghiên bút và tập hoa tiên. Vừa
cầm bút lên, Sinh bỗng kinh ngạc. Nghiên mực đỏ tươi sắc
máụ Thử chấm bút vào, lăn tròn ngọn bút đưa lên, bỗng
thấy nhỏ xuống từng giọt, từng giọt thắm hồng như rỉ
chảy từ tim. Khiếp đảm, Sinh ngồi sửng sờ, tâm thần thác
loạn. Cố viết đôi chữ lên giấy, nét chữ quánh lại, lợn
cợn như vệt huyết khô trên cát. Sinh vội buông bút, tưởng
chừng bàn tay cũng thấm máu đầỵ Đưa lên ngang mũi, mùi
tanh khủng khiếp. Quệt tay vào áo, đau nhói trong ngườị
Sinh nằm vật xuống mê man bất tỉnh. Sau mấy ngày, Sinh tỉnh
dậy, lòng lại khao khát cầm bút. Nhưng nhớ hình ảnh vừa
qua, tự nhiên đâm ra e ngại . Sinh cố tập trung thần lực,
men đến án thư vừa cầm bút lại thấy lãng vãng sắc máu,
không sao có đủ can đảm vạch được nét nàọ Sinh ném bút,
hất giấy, vô cùng khiếp sợ, tưởng như xôn xao chung quanh
vô số hồn oan đòi mạng. Từ đó Sinh gầy rạc hẳn, liệu
không sống thoát.
Người
cậu của Sinh từ lâu đã vào trong núi Hoa Dương ở với đạo
sĩ họ Trình, một hôm tạt về thăm nhà thấy cháu suy nhược,
rất là lo lắng. Sau khi nghe Sinh thuật hết những điều quái
dị vừa qua, ông suy nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Ta
từng bảo cháu ngòi bút không phải không có oan khiên. Lưỡi
gươm tuy ác mà trách nhiệm rõ ràng, lỗi lầm tác hại cũng
trong giới hạn. Mượn sự huyển hoặc của văn chương mà
gây điều thiệt hại cho con người, tội ác của kẻ cầm
bút xưa nay kể biết là bao, nhưng chẳng qua vì mờ mịt hư
ảo nên không thấy rõ hay không muốn rõ mà thôị Làm cho
thiếu nữ băn khoăn sầu muộn, làm cho thanh niên khinh bạc
hoài nghi, gợi cho người ta nghĩ vật dục mà quên nhân ái,
kêu cho người ta tiếc tài lợi mà xa đạo nghĩa, hoặc cười
trên đạo nghĩa của tha nhân, hát trên bi cảnh của đồng
loại, đem sự phù phiếm thay cho thực dụng, lấy việc thiển
cận quên điều sâu xa, xuyên tạc chân lý, che lấp bần hàn,
ca ngợi quyền lực, bỏ quên con người, văn chương há chẳng
đã làm những điều vô đạỏ Tội ác văn chương xưa nay
nếu đem phân tích biết đâu chẳng dồn thành ngàn dãy Thiên
Sơn! Thần tạng của cháu kinh động thất thường, nhưng mà
bản chất huyền diệu có thể cảm ứng với cõi vô hình,
chắc cháu làm điều tổn đức khá nặng nên máu oan mới
đuổi theo như vậỵ Hãy xem có lỡ hứng bút đi lệch đường
chăng? Soát lại cho mau, soát lại cho mau, chớ để chậm thêm
ngày nào!
Lương
Sinh nghe xong bồi hồi tấc dạ, trí tuệ xem như minh mẫn hơn
nhiều, cơn bệnh do đó lui được khá xạ Sinh đem mấy tập
thi tuyển của mình đọc lại từng câu, dò lại từng chữ,
thấy toàn là ý bướm tình hoa, phát triển cảm xúc mà xao
lãng trí tuệ, tán tụng thiên nhiên mà bỏ mất cảnh đời,
trốn tránh thực tại, từ chối tương lai, nhưng nghĩ kỹ
vẫn chưa dò được lối máu từ đâụ Bỗng sực nhớ đến
những lời phóng bút viết cho quan Tổng trấn, không ghi lại
trong thi tuyển, tâm não trở nên bàng hoàng. Đồng thời bao
nhiêu gương mặt hốc hác trong ngày hội chùa lại hiện rõ,mấy
cánh đồng trơ trọi, những tiếng thì thầm hai bên kiệu
hoa, vẻ người nhớn nhác sợ hãi, những đòn dây trói, mấy
dãy nhà giam, lần lượt như sống lại trước mắt. Những
cảnh ấy thật trái ngược với những bài tán bài minh đã
viết. Mồ hôi toát ra như tắm, Sinh đứng lên được, quyết
định trở lại chốn cũ để tìm hiểu sự thật.
Sinh
đến chốn cũ vào một buổi chiều nắng vàng thê lương phủ
trên cảnh vật tiêu điều xơ xác. Qua khỏi dòng suối cạn,
Sinh bước vào một thôn trang vắng vẻ, thưa thớt những mái
tranh nghèo, không một bóng người thấp thoáng. Đến một
gò cỏ úa héo chợt thấy một người nông phu ủ rủ trước
nấm mộ mới hiu hiu mấy nén hương tàn, Sinh dừng bước,
lại gần ngồi một bên, khẽ hỏi:
-
Bác khóc thương thân quyến nào vậỷ
Người
kia ngước lên không nói, ngắm nhìn lại bụi đường trường
bạc thếch trên quần áo của Sinh, dịu đôi mắt xuống:
-
Người nằm dưới mồ không phải là bà con quen thuộc của
tôị Sinh nghĩ: "Chẳng lẽ người này cũng là một kẻ thi
nhân khóc thương cho kiếp hồng nhan bạc mệnh nào chăng?"
Chưa
kịp dò ý, người kia chợt hỏi, ra vẻ hoài nghi:
-
Ông từ đâu mà đến đâỷ
-
Tôi ở chốn xa, nhân bước đường phiêu lưu ghé tạt qua
thôị Buồn thấy miền này có vẻ tiêu điều hơn các nơi
khác.
Người
nông phu bỗng long lanh đôi mắt như không dằn được tấm
lòng dồn nén bật lên những tiếng căn hờn:
-
Nói cho muôn ngàn khách qua đường cũng chưa hả được dạ
nàỵ Ví dù phải chết ngày nay thân này chẳng tiếc, miễn
sao bộc bạch cho được sự thật uất hận từ lâụ Đã
bao năm rồi, sống dưới nanh vuốt của tên Tổng trấn họ
Lý độc dữ hơn hùm beo, đồng ruộng gầy khô, dân làng đói
rách. Đầu xuân này có khâm sai đi về, cụ thôn trưởng của
chúng tôi, mặc dù già yếu cũng quyết vì dân làm bản trần
tình, cản đầu ngựa, níu bánh xe mà tỏ bày sự thật. Thế
nhưng khâm sai đi khắp mọi nơi, chỗ nào cũng thấy bia đá
cột đồng đầy lơi hoa mỹ tán dương công đức Tổng trấn
của thằng danh sĩ đốn mạt nào đó nên ném bản trần tình,
không xét, bảo rằng: "Muôn ngàn lời nói của lũ dân đen
vô học đâu bằng mấy vần từ điệu cao xa của kẻ danh
nhọ Danh sĩ bao giờ cũng biết tự trọng. Tổng trấn đã
được hạng ấy tôn xưng, hẳn không phải bất tài". Thế
đã thôi đâu, khâm sai đi rồị Tổng trấn phái sai nha về
tróc nã những người đã đầu đơn tố cáo nó. Bao người
phải chết vì nỗi cực hình thảm khốc, vợ góa con côi,
một trời nước mắt, ruộng đồng từ đây dành để nuôi
loài cỏ dại mà thôi!
Sinh
chết điếng cả người, giây lát mới gượng gạo hỏị
-
Chẳng hay bác có biết ... danh sĩ ấy tên gì không?
Người
nông phu trợn trừng cặp mắt, gào lên:
-
Làm gì mà biết! mà biết làm gì? Những hạng hiếu lợi hiếu
danh, trốn trong từ chương để tiếp sức cho kẻ ác mà cứ
tưởng mình thanh cao, hạng ấy thì đâu chẳng có! Dân làng
đây ai cũng nguyền rủa hắn mà hắn nào có biết đâu! Nghĩ
thương cho cụ trưởng tôi mấy lần đứng ra chịu nhận tội
để cứu bao người mà bọn chúng chẳng chịu tha, cứ việc
tàn sát thẳng tay, lôi đi lớp người này rồi đến lớp
người khác, nên khi bị dẫn qua đây cụ tự móc họng cho
trào máu ra mà chết để khỏi bị đày đọạ Trước khi
nhắm mắt cụ còn gượng nói: "Được chết trên cánh đồng
đã đẫm mồ hôi ta, thế là quý rồị Chôn ta ở đây cho
ta gần gũi với các người". Hơi thở gần tàn cụ
nói
tiếp: "Tội ác là ở lũ vua quan. Tên danh sĩ kia chỉ là cái
cớ để chúng vịn vào mà che lấp sự thật. Đừng oán hờn
tên danh sĩ. Đáng thương cho nó!".
Người
nông phu dừng lại nghẹn ngào nói tiếp:
-Nhưng
bao nhiêu người khổ ở đây, bao kẻ chết nơi kia, nghĩ còn
đáng thương xót gấp trăm ngàn lần!
Đoạn
gục đầu trước mồ khóc thảm thiết.Sinh cũng sụp xuống
hòa tiếng khóa theọ
Bóng
đêm xóa nhòa, gió lạnh như từ cõi âm thổi về rung động
bờ lau bụi cỏ. Sinh có cảm giác như theo cơn gió, oan hồn
của người đã khuất hiện về chứng kiến cho những giọt
lệ chảy ra từ một tấm lòng hối hận chân thành.
Nhà
văn Vũ Hạnh
(Trích
trong truyện ngắn Việt nam (1945 - 1985)
Chào
cháu Hoà,
Câu
hỏi của cháu đặt ra rất hay và cho đến nay chưa có cô
bác nào trên diễn đàn trả lời cháu, nên cô trả lời cháu
vì duyên khởi cũng do cô đưa câu chuyện này ra.
Có
lẽ trước khi trả lời câu hỏi cháu đặt ra, thiết tưởng
cô cần tóm lược nội dung câu chuyện.
Nhân
vật chính của câu chuyện là Lương Sinh, một nhà văn và
nhà thơ nổi tiếng, bị viên quan Tổng Đốc một vùng khéo
léo mua chuộc bằng giai nhân, tiệc rượu, thi ca, xướng hoạ
và những lời khen ngợi; nên đã dùng ngòi bút của mình làm
thơ ca ngợi công đức của ông ấy. Nhờ những bài thơ
của Sinh mà quan Tổng Đốc đã thoát khỏi được cuộc thanh
tra của viên Khâm Sai triều đình vì họ tin vào văn thơ của
Sinh hơn là những tờ thư tố cáo của người dân lành.
Sau khi viên thanh tra trở về kinh đô, quan Tổng Đốc ra lệnh
bắt giết tất cả những người đã tố cáo ông tham nhũng,
hà hiếp dân lành.
Trong
lúc đó, ở tỉnh lân cận, Sinh bị lâm bệnh nặng, đêm ngày
thường nằm mơ thấy vô số oan hồn về báo oán. Sinh
cầm đến bút mực để viết thì mực trở thành mầu máu
đỏ tươi bốc lên mùi tanh khủng khiếp. Sinh không biết
nỗi oan trái này từ đâu đến? Sau nhờ sự phân tách
và giảng giải sự việc của người Cậu ruột, Sinh lên đường
trở lại vùng viên quan Tổng Đốc cai trị để thăm hỏi
sự tình, mới hiểu ra rằng những bài thơ của mình tán thán
ca ngợi viên Tổng Đốc đã che chở cho ông ta thoát khỏi
cuộc thanh tra và là nguyên nhân gây nên sự giết hại nhiều
dân lành. Sinh hối hận không cùng.
From:
"Nguyen Van Hoa" <nguyenvanhoa@a...>
Date:
Thu Nov 28, 2002 12
Thưa
cá bác,
Cháu
đọc câu chuyện <<Bút Máu>> nhưng không được hiểu
rõ lắm, có lẽ vì thể văn xưa, như cháu không hiểu chữ
quan lệnh trấn hay quan Tổng Đốc là aỉ...có phải là chức
Governor bây giờ không? và một điều khác nữa, cháu không
hiểu tại sao ông Lương Sinh một nhà thơ làm thơ ca ngợi
ông Governor mà lại tạo nghiệp liên quan đến giết hại nhiều
ngườị Cháu nghĩ ông Governor ra lệnh chém giết thì
ông ấy đã gieo nghiệp ác thì chính ông ấy sẽ phải lãnh
quả chứ, sao lại bắt ông Lương Sinh, một nhà văn thơ chuyên
làm thơ Không lẽ ca ngợi cũng tạo nghiệp hở các bác.
Các bác vui lòng chỉ gìum cháụ Cháu cảm ơn các bác nhiều
lắm.
Kính,
Cháu
Hòa
Cháu
Hoà ơi!
Không
biết câu chuyện này là thật hay hư cấu, nhưng dù hư hay
thật, nó cũng có thể xảy trong bất cứ xã hội nào, thời
đại nào.
Lương
Sinh, trong câu chuyện, được mô tả là người thông minh,
văn thơ, thi phú giỏi, đã từ bỏ nghiệp võ để chọn nghiệp
văn vì anh không muốn dính vào nghiệp sát do gươm dao có thể
đem đến. Anh muốn dùng văn chương chữ nghĩa để ca
ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, của tâm hồn con người;
nhưng anh đâu biết rằng ngòi bút chứ không phải lưỡi kiếm
của anh đã góp phần tạo nghiệp sát hại nhiều người,
gây đau khổ tang tóc cho nhiều gia đình. Quả thật anh
không ngờ những bài thơ ca ngợi quan Tổng Đốc của mình
đã tác hại nghiêm trọng, không những anh bị bạo bệnh
mà cón là gây chết cho bao người, gây đau thương cho nhiều
gia đình. Thật khó hiểu tại sao?
Lương
Sinh, dù vô tình, nhưng có thể do sự thiếu hiểu biết, do
tâm trí mê mờ bởi những tiếng khen của quan Tổng Đốc
và do ảnh hưởng môi trường chung quanh thu hút bởi ngũ dục....
Tại
sao thiếu hiểu biết lại gây nên nghiệp? Do vì tâm trí
của Sinh bị lấp khuất bởi những lời tán tụng của quan
Tổng Đốc, nên anh không còn biết đâu là lẽ phải, không
nhận biết sự lợi dụng khéo léo của ông ta, không biết
tình tình của ông ta và không rõ hoàn cảnh nghèo khổ cơ
cực của dân trong vùng; thế mà cứ làm thơ tán thán công
đức của quan.
Thiếu
trí tuệ, thiếu sự hiểu biết mà hành động dù chỉ bằng
ý qua lời thơ cũng tạo thành nghiệp và mỗi nghiệp với
duyên phụ trợ, đều có quả báo tương xứng. Sinh bị
mê mờ vì những lời khen của quan Tổng Đốc, cứ tưởng
quan Tổng Đốc là tài giỏi anh minh, xứng đáng được chàng
ca ngợi đáp lễ mà không biết rằng những lời khen tán dương
của mình có thể tạo thành nghiệp.
Ngày
xưa, vì được quan khen, quan chiêu đãi, nên Lương Sinh
khoái chí làm thơ khen lại. Nhưng khen ngợi, tán thán
không chân thật nên đã tự mang nghiệp vào mình. Ngày
nay cũng vậy, nhiều người cũng vì danh lợi, cũng vì muốn
được người ta khen nên thường ca ngợi lẫn nhau, đâu có
biết rằng nếu không có trí tuệ sáng suốt thì ngòi bút
của mình sẽ gieo rắc sai lầm cho nhiều người và có thể
cho cả những thế hệ mai sau, tuỳ theo sự ảnh hưởng của
mình nhiều hay ít đối với cộng đồng xã hội.
Đối
với tôn giáo, ảnh hưởng có thể còn nhiều hơn nữa.
Thí dụ một người tự cho mình là Thánh rồi được những
người khác thiếu hiểu biết tâng bốc, xưng tán, khen ngợi,
và cứ như thế lộng giả thành chân và người đó thấy
mình là Thánh thiệt và do đó nói ra những lời sai với chân
lý, dẫn dắt những người khác vào con đường tà....Thế
là cả người khen và người được khen đều cùng nhau tác
nghiệp và chắc chắn không nhân nào mà không sanh quả.
Chỉ còn chờ duyên với thời gian thôi. Trường hợp
của Sinh chỉ tác hại đến việc giết hại một số người,
đem tang tóc đến cho một số gia đình, nhưng ở những trường
hợp khác, ngòi bút, nếu không dùng những lời chân thật,
có thể dẫn dắt con người đi ngược lại chân lý của từ
bi trí tuệ, gieo rắc ác tâm cho bao nhiêu người qua nhiều
thế hệ mới là những nguy hiểm gấp trăm ngàn lần.
Viết
đến đây, cô hy vọng cháu hiểu được nội dung câu chuyện
và lý do vì sao mà tiếng khen của Lương Sinh có thể tạo
thành nghiệp dẫn đến cái chết của nhiều người và làm
đau thương cho nhiều gia đình. Đó mới chỉ là mối
giây liên hệ nhân duyên quả báo của Lương Sinh với quan
Tổng Đốc. Biết đâu có thể còn có thêm những mối
nhân duyên quả báo từ kiếp xa xôi nào của vị quan Tổng
Đốc đối với những người liên hệ kia. Thật ra, vấn
đề Nhân Quả rất ư là phức tạp. Nó rất trùng trùng
điệp điệp, chỉ có các bậc giác ngộ mới thấu triệt
được mà thôi. Cô chỉ tạm dùng lời thô thiển nói
sơ để cháu tạm hiểu mà thôi. Còn chức Tổng Đốc trong
chuyện, có thể bên Trung Hoa dùng để chỉ người đứng đầu
một tỉnh hay nhiều tỉnh, tương đương với danh xưng Governor
ở Hoa Kỳ cháu ạ.
Chúc
cháu nhiều an lạc, học hành tiến bộ để giúp đời giúp
đạo.
Thân
mến,
Cô
Hương Trà
Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 02-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 233 KB)
Các
Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân