SỐ 303 THÁNG 03 NĂM 2003
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen Thực Hiện
2003
301
302
303
304
305
306
307
308
309
310
311
312
From:  Huong Tra <lethihuongtra@y...> 
Date:  Wed Nov 27, 2002  1:15 am
Subject:  Bu’t Ma’u

Chào các đạo hữu,

Do một bài ba’o loan tải nơi nhật ba’o Thisday tại Nigeria đã làm 215 người chê’t và hơn 1000 người bị thương.  Ban biên tập tờ ba’o đã xin lỗi và sau đó bị đo’ng cửạ  Ky’ giả viết bài báo này đang phải lẩn trốn vì bị lên án tử hình. 

Nhân sự cô’ này Hương Trà mượn diễn đàn post lại câu chuyện <<Bu’t Ma’u>> để chu’ng ta cùng đọc lại và nghiền ngẫm thật kỹ trước  khi chu’ng ta viết hay nói một điều gì.  

Lương Sinh trong câu chuyện lỡ dùng ngòi bu’t của mình ca ngợi một viên quan tổng trâ’n độc a’c nhiễu hại dân lành đã gây ra ca’i chê’t của nhiều ngườị...Lương sinh đã tạo nghiệp vì ngòi bút, ky’ giả ba’o Thisday cũng tương tự và chu’ng ta, nê’u không cẩn trọng biết đâu cũng vậỵ... Các đạo hữu có thể đọc được Unicode xin vào trang nhà của http://www.thuvienhoasen.org/u-butmau.htm và Trang Nhà Tu Viện Quảng Đư’c tại http://www.quangduc.com 

Bút Máu

 Luong Sinh người Mãn Châu, con nhà thế phiệt, nổi tiếng thông minh đỉnh ngộ từ khi tóc để trái đàọ Lên tám đã giỏi thơ ca, từ phú, ai cũng ngợi khen là bậc thần đồng.  
Năm lên mười hai, gặp thời loạn ly, cha mẹ đều bị giặc giết. Sinh sầu thảm mấy tháng liền, mất ăn, mất ngủ, lại thêm căn tạng yếu đuối nên lâm bệnh nặng, thần kinh hốt hoảng, luôn luôn giật mình, nằm mơ thấy toàn là máu lửa, sọ xương. May có người cậu đem về săn sóc đêm ngàỵ Sau nhờ đạo sĩ họ Trình ở núi Hoa Dương dùng biệt dược trị liệu nên được lành bệnh, tâm thái trở lại an tĩnh điều hòạ Khi lên mười lăm, Sinh được người cậu gởi đến Lã Công, một quan thủ hiệu bãi chức từ lâu ở nhà mở trường dạy võ. Sinh học rất chóng, nửa năm đã làu thông cả mười hai môn võ bí truyền của nhà họ Lã. Lã Công quý mến, một hôm lấy thanh bảo kiếm của mấy mươi đời họ Lã lập công trao cho Sinh luyện tập. Giữa buổi Sinh đang múa kiếm, bỗng dừng phắt lại, đưa kiếm lên ngửi rồi cau mày, kêu lên:  

- Máu người tanh quá!  

Đoạn đem thanh kiếm nộp trả, cáo từ mà về.  

Đến nhà, lạy cậu thưa lên:  
- Võ nghệ không phải là con đường cháu nên theọ Máu người chảy trong cơ thể quý vô cùng nhưng dính ra ngoài lại quá hôi tanh. Kẻ cầm lưỡi dao trọn đời sao cho khỏi đổ máu người! Điều tàn nhẫn ấy cháu không làm được. 

Người cậu giận lắm, bảo rằng:  
- Mày thực cạn nghĩ, phụ cả lòng ta trông đợi lâu naỵ Đành rằng máu người là quý, nhưng để máu ấy chảy trong đầu bọn ác nhân thì càng có hại cho người, lại càng có tội! 

Lương Sinh cúi thưa:  
- Ai cũng cho mình là phải, lấy đâu để nói tốt xấu rõ ràng? Làm thiện một cách hăm hở mà không ngờ rằng đấy là điều ác, lại càng có tội vì đã lừa mình, lừa ngườị 
Trộm nghĩ binh đao là điều dứt khoát, cháu chưa dứt khoát trong người, tự thấy không dám theo đuổị 

Cậu nói:  
- Hoài nghi như thế, e rồi không khéo mày tự mâu thuẫn với màỵ Không phân biệt được giả, chân, thiện, ác, làm sao có thể tự tin mà sống trên đời! Xã hội chưa đâu có thể gọi là chốn thiên đường, bên cạnh nhà trường còn có nhà ngục, bên cạnh ngòi bút còn có lưỡi dao, không thể chỉ lấy một chiều, chỉ yêu một cạnh. Vị tất nhà trường đã không tội lỗi, ngòi bút đã không oan khiên! Ta không có con, từ lâu kỳ vọng nơi mày, nhân thời tao loạn, những mong cho mày múa gươm trận địa hơn là múa bút rừng văn. Bây giờ, thế thôi là hết. Từ nay tùy mày định lấy đời mày, ta không nói nữạ 

Từ đấy, Lương Sinh sẵn có nếp nhà giàu đủ, chuyên nghề thơ văn, tiêu dao ngâm vịnh tháng ngàỵ Lời thơ càng gấm, ý thơ càng hoa, tiếng đồn lan xa, lan rộng như sóng trên biển chiều nổi gió. Quan lệnh trấn mới đổi đến địa phương vốn người hâm mộ văn chương, cho vời Sinh đến. Thấy Sinh tướng mạo khôi ngô, lòng cảm mến, tiếp đãi hết sức trọng hậụ Sau đó, quan lệnh mượn những thi tuyển của Sinh trong một tháng trường. Khi quan giao trả, Sinh thấy có những bài thơ hay họa lại những bài đắc ý nhất của mình dưới ký tên Tuyết Hồng, con gái của viên quan. Sinh vui mừng nghĩ rằng gặp được người hợp ý. Sau quan lệnh ngõ lời kén Sinh làm giai tế. Sinh sung sướng nhận lờị  

 Sau lễ hôn phối, Sinh mới ngỡ ngàng biết rằng Tuyết Hồng không đẹp, cũng không biết làm thợ Càng ngày Sinh càng chán nản khôn khuây, ảo tưởng vỡ tan, tưởng như tuyệt vọng tình đờị Thiếu thốn hình ảnh giai nhân, cuộc sống tự nhiên cằn cổị Nhân tết nguyên đán, Tuyết Hồng về thăm song thân, Sinh bèn thừa dịp, noi gương Tử Trường ngày xưa phiếm du xuân thủỵ  

Sinh chọn đường ven theo suối đẹp, đi mãi đã mười ngày, tiền lưng muốn cạn, ý thơ chừng đầy, chợt đến một miền tiêu điều, dân cư thưa thớt, Sinh chán nản định quay về, nhưng ruột đói lưỡi khô, bèn đi tìm một tửu quán nghỉ chân. Qua ba dặm đồng trơ trọi vẫn chưa thấy bóng một người để hỏi thăm nơị Bỗng nghe phảng phất tiếng trống, tiếng chuông lẫn tiếng reo cườị Dò theo âm thanh vọng lại, lần bước đến nơi, thấy đám hội trước chùa, bèn vào quán nhỏ gần đấy ăn uống. Chủ quán cho biết, đã mấy năm rồi ở đây mới có một ngày hội lớn, vì quan khâm sai triều đình sắp về địa phương nên quan tổng trấn họ Lý bày ra trò vui để cho dân chúng thỏa thuê ít bữạ Chợt có tiếng hò hét và mọi người sợ hãi dạt ra, từ xa là chiếc kiệu hoa của tiểu thư Lý Duyên Hương, con quan Tổng Đốc. Người đẹp vừa kiêu hãnh vừa sắc sảo khiến Sinh ngây ngất, nhìn đến quên ly rượu trong tay rơi xuống vỡ toang. Người đẹp quay nhìn thấy, nhoẽn miệng cườị Nụ cười lộng lẫy như hé sáng một trời tình. Sinh lảo đảo đứng lên trả tiền rồi theo chiếc kiệu chen vào chùạ Vào trong thấy Lý tiểu thư thành kính đàm đạo với mấy vị Tăng già rồi lên chánh điện lễ Phật. Sinh đến phòng kế lấy bút và giấy hoa tiên theo phỏng mấy câu:  

Tiên hoa gài mộng, vấn vương đền Phật bâng khuâng  
Đông biếc, thoáng cười tiên nữ  
Mặt nước hồ in, xao động bốn mùa sóng gió  
Bóng đêm hang thẳm, long lanh một vẻ giai nhân.
Rồi bẻ cành hoa kẹp vàọ Khi Lý tiểu thư lễ xong, khoan thai xuống thềm, mọi người sợ hãi bật ra hai bên thì Sinh vội vã đi theọ Đến lúc nàng vừa lên kiệu, Sinh ném cành hoa lên chỗ nàng ngồị Lính hầu thoáng thấy kêu lên:  
- Có người ám hại tiểu thự  
Lập tức mười lưỡi gươm dài vung lên, lính hầu vây lấy Lương Sinh. Những người xem hội thất sắc lùi lại, dồn dập đẩy vào nhau kêu la náo động. Tiểu thư ngồi trên, vén rèm nhìn xuống không nói một lờị Vẻ mặt hết sức kiêu kỳ. Lương Sinh đã toan mở lời khống chế, nhưng lính xông vào trói chàng.  

Đám đông có tiếng thì thàọ  
- Anh ta chỉ ném một cành hoa thôi đấỵ  
- Bấy nhiêu cũng đủ héo cuộc đời rồị  
- Qua dinh Tổng trấn không lấy nón xuống đã là bay đầu, nói chi xúc phạm đến tiểu thơ vàng ngọc!  

Về đến nha môn, lính dẫn Lương Sinh nhốt vào trại giam, rồi tâu trình lên Tổng trấn. Lương Sinh nằm rầu rĩ trong bốn bức vách đá, e phải mang nhục phen nàỵ 
Đang mơ màng về thế giới bên kia, chợt nghe tiếng người gọi dậy, lập tức được lính dẫn đến công đường. Tổng trấn ngồi giữa, vóc dạng phương phi, hàm én râu hàm, trên tay còn cầm tang vật là mảnh hoa tiên.  

 Sinh cúi đầu thi lễ, toan tìm lời kêu oan gỡ tội thì quan ra lệnh mở tróị Trước sự kinh ngạc của Sinh, quan bước xuống thềm, dắt Sinh vào trong, kéo ghế bảo ngồi, Sinh từ chối hai ba lần không được. Quan nói:  
 - Ta thường ước ao gặp được một người tài đức, nay biết người là danh sĩ nên thực hết lòng hâm mộ. Lính hầu sơ xuất phạm điều vô lễ vừa rồi, ta sẽ nghiêm trị. Gác đằng thuận nẽo gió đưa, người hãy cùng ta ở đây hưởng mấy ngày xuân vui câu xướng họa, cho thỏa tình ta khao khát lâu naỵ  

Đoạn truyền đem rượu ngon thịt béo ra thết đãi nồng hậụ Lương Sinh thích thú uống rượu ngâm thơ suốt ngày Tổng trấn có vẻ đặc biệt kính trọng tài năng của Sinh. Độ chỉ hôm sau, quan tổ chức cuộc du xuân, đưa Sinh đi xem cảnh trí trong miền. Nơi nào quan cũng cho thấy kỳ công đại lực của quan tạo lập cho dân: Kia là dòng suối quanh co quan đã khai thông để để dân lấy nước cày cấy, nọ là đồng ruộng bao la trước kia toàn là rừng rậm hoang vu quan đã tốn công khai phá cho dân trồng trọt.  

Ngồi trên kiệu cao, Sinh nhìn theo ngón tay quan trỏ phía xa xa, mơ hồ thấy suối thấy đồng nhiều vẽ khác màu miệng không ngừng tán tụng. Hơi men nồng nàn, lòng Sinh chứa chan nhiệt tình đối với những bậc "Dân chi phụ mẫu" mà xưa nay Sinh thường tỏ ý rẻ khinh.  

 Đến đâu quan cũng xin Sinh lưu bút để cho khắc vào bia đá, cột đồng. Sinh phóng bút thao thao bất tuyệt. Mực thơm bút quý, lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêụ Trước khi giã từ, Sinh còn lưu lại bài tán tổng kết công đức của quan để khắc vào chốn công đường và bài minh, ký để ghi tạc vào mấy cổ hồng chung tại các tháp đền quy mô trong hạt. Quan ân cần tiễn Sinh ra khỏi nha môn, đưa tặng một cỗ ngựa bạch, mấy nén vàng, nhưng Sinh một mực từ chối từ không nhận để giữ vẹn lòng thanh khiết.  

Giữa mùa xuân ấy Sinh lâm bệnh nặng, nằm liệt suốt một tháng liền, Tuyết Hồng hết sức săn sóc thuốc thang, nhiều đêm không ngủ. Bệnh cũ như muốn tái phát, thần kinh rạo rực không yên, giấc ngủ chập chờn ác mộng.  

Mấy lần chống tay ngồi dậy, nhưng lại bủn rủn nằm xuống, hơi thở nóng ran như lửạ Một sớm đang nằm, nghe tiếng chim hoàng anh hót ngoài vườn vụt tắt, thấy một tia nắng lọt qua khe cửa chợt tàn. Sinh hốt hoảng tưởng chừng mùa xuân bỏ mình mà đi, bèn gượng ngồi lên xô mạnh cửa sổ. Mấy nụ hoa thắm cười duyên trước thềm, lá xanh tươi màu nhựa mớị Sinh gọi đem nghiên bút và tập hoa tiên. Vừa cầm bút lên, Sinh bỗng kinh ngạc. Nghiên mực đỏ tươi sắc máụ Thử chấm bút vào, lăn tròn ngọn bút đưa lên, bỗng thấy nhỏ xuống từng giọt, từng giọt thắm hồng như rỉ chảy từ tim. Khiếp đảm, Sinh ngồi sửng sờ, tâm thần thác loạn. Cố viết đôi chữ lên giấy, nét chữ quánh lại, lợn cợn như vệt huyết khô trên cát. Sinh vội buông bút, tưởng chừng bàn tay cũng thấm máu đầỵ Đưa lên ngang mũi, mùi tanh khủng khiếp. Quệt tay vào áo, đau nhói trong ngườị Sinh nằm vật xuống mê man bất tỉnh. Sau mấy ngày, Sinh tỉnh dậy, lòng lại khao khát cầm bút. Nhưng nhớ hình ảnh vừa qua, tự nhiên đâm ra e ngại . Sinh cố tập trung thần lực, men đến án thư vừa cầm bút lại thấy lãng vãng sắc máu, không sao có đủ can đảm vạch được nét nàọ Sinh ném bút, hất giấy, vô cùng khiếp sợ, tưởng như xôn xao chung quanh vô số hồn oan đòi mạng. Từ đó Sinh gầy rạc hẳn, liệu không sống thoát.  

 Người cậu của Sinh từ lâu đã vào trong núi Hoa Dương ở với đạo sĩ họ Trình, một hôm tạt về thăm nhà thấy cháu suy nhược, rất là lo lắng. Sau khi nghe Sinh thuật hết những điều quái dị vừa qua, ông suy nghĩ hồi lâu rồi nói:  

- Ta từng bảo cháu ngòi bút không phải không có oan khiên. Lưỡi gươm tuy ác mà trách nhiệm rõ ràng, lỗi lầm tác hại cũng trong giới hạn. Mượn sự huyển hoặc của văn chương mà gây điều thiệt hại cho con người, tội ác của kẻ cầm bút xưa nay kể biết là bao, nhưng chẳng qua vì mờ mịt hư ảo nên không thấy rõ hay không muốn rõ mà thôị Làm cho thiếu nữ băn khoăn sầu muộn, làm cho thanh niên khinh bạc hoài nghi, gợi cho người ta nghĩ vật dục mà quên nhân ái, kêu cho người ta tiếc tài lợi mà xa đạo nghĩa, hoặc cười trên đạo nghĩa của tha nhân, hát trên bi cảnh của đồng loại, đem sự phù phiếm thay cho thực dụng, lấy việc thiển cận quên điều sâu xa, xuyên tạc chân lý, che lấp bần hàn, ca ngợi quyền lực, bỏ quên con người, văn chương há chẳng đã làm những điều vô đạỏ Tội ác văn chương xưa nay nếu đem phân tích biết đâu chẳng dồn thành ngàn dãy Thiên Sơn! Thần tạng của cháu kinh động thất thường, nhưng mà bản chất huyền diệu có thể cảm ứng với cõi vô hình, chắc cháu làm điều tổn đức khá nặng nên máu oan mới đuổi theo như vậỵ Hãy xem có lỡ hứng bút đi lệch đường chăng? Soát lại cho mau, soát lại cho mau, chớ để chậm thêm ngày nào!  

Lương Sinh nghe xong bồi hồi tấc dạ, trí tuệ xem như minh mẫn hơn nhiều, cơn bệnh do đó lui được khá xạ Sinh đem mấy tập thi tuyển của mình đọc lại từng câu, dò lại từng chữ, thấy toàn là ý bướm tình hoa, phát triển cảm xúc mà xao lãng trí tuệ, tán tụng thiên nhiên mà bỏ mất cảnh đời, trốn tránh thực tại, từ chối tương lai, nhưng nghĩ kỹ vẫn chưa dò được lối máu từ đâụ Bỗng sực nhớ đến những lời phóng bút viết cho quan Tổng trấn, không ghi lại trong thi tuyển, tâm não trở nên bàng hoàng. Đồng thời bao nhiêu gương mặt hốc hác trong ngày hội chùa lại hiện rõ,mấy cánh đồng trơ trọi, những tiếng thì thầm hai bên kiệu hoa, vẻ người nhớn nhác sợ hãi, những đòn dây trói, mấy dãy nhà giam, lần lượt như sống lại trước mắt. Những cảnh ấy thật trái ngược với những bài tán bài minh đã viết. Mồ hôi toát ra như tắm, Sinh đứng lên được, quyết định trở lại chốn cũ để tìm hiểu sự thật.  

Sinh đến chốn cũ vào một buổi chiều nắng vàng thê lương phủ trên cảnh vật tiêu điều xơ xác. Qua khỏi dòng suối cạn, Sinh bước vào một thôn trang vắng vẻ, thưa thớt những mái tranh nghèo, không một bóng người thấp thoáng. Đến một gò cỏ úa héo chợt thấy một người nông phu ủ rủ trước nấm mộ mới hiu hiu mấy nén hương tàn, Sinh dừng bước, lại gần ngồi một bên, khẽ hỏi:  
- Bác khóc thương thân quyến nào vậỷ  

Người kia ngước lên không nói, ngắm nhìn lại bụi đường trường bạc thếch trên quần áo của Sinh, dịu đôi mắt xuống:  
- Người nằm dưới mồ không phải là bà con quen thuộc của tôị Sinh nghĩ: "Chẳng lẽ người này cũng là một kẻ thi nhân khóc thương cho kiếp hồng nhan bạc mệnh nào chăng?"  

Chưa kịp dò ý, người kia chợt hỏi, ra vẻ hoài nghi:  
- Ông từ đâu mà đến đâỷ  
- Tôi ở chốn xa, nhân bước đường phiêu lưu ghé tạt qua thôị Buồn thấy miền này có vẻ tiêu điều hơn các nơi khác. 

Người nông phu bỗng long lanh đôi mắt như không dằn được tấm lòng dồn nén bật lên những tiếng căn hờn:  
- Nói cho muôn ngàn khách qua đường cũng chưa hả được dạ nàỵ Ví dù phải chết ngày nay thân này chẳng tiếc, miễn sao bộc bạch cho được sự thật uất hận từ lâụ Đã bao năm rồi, sống dưới nanh vuốt của tên Tổng trấn họ Lý độc dữ hơn hùm beo, đồng ruộng gầy khô, dân làng đói rách. Đầu xuân này có khâm sai đi về, cụ thôn trưởng của chúng tôi, mặc dù già yếu cũng quyết vì dân làm bản trần tình, cản đầu ngựa, níu bánh xe mà tỏ bày sự thật. Thế nhưng khâm sai đi khắp mọi nơi, chỗ nào cũng thấy bia đá cột đồng đầy lơi hoa mỹ tán dương công đức Tổng trấn của thằng danh sĩ đốn mạt nào đó nên ném bản trần tình, không xét, bảo rằng: "Muôn ngàn lời nói của lũ dân đen vô học đâu bằng mấy vần từ điệu cao xa của kẻ danh nhọ Danh sĩ bao giờ cũng biết tự trọng. Tổng trấn đã được hạng ấy tôn xưng, hẳn không phải bất tài". Thế đã thôi đâu, khâm sai đi rồị Tổng trấn phái sai nha về tróc nã những người đã đầu đơn tố cáo nó. Bao người phải chết vì nỗi cực hình thảm khốc, vợ góa con côi, một trời nước mắt, ruộng đồng từ đây dành để nuôi loài cỏ dại mà thôi!  

Sinh chết điếng cả người, giây lát mới gượng gạo hỏị  
- Chẳng hay bác có biết ... danh sĩ ấy tên gì không?  

Người nông phu trợn trừng cặp mắt, gào lên:  
- Làm gì mà biết! mà biết làm gì? Những hạng hiếu lợi hiếu danh, trốn trong từ chương để tiếp sức cho kẻ ác mà cứ tưởng mình thanh cao, hạng ấy thì đâu chẳng có! Dân làng đây ai cũng nguyền rủa hắn mà hắn nào có biết đâu! Nghĩ thương cho cụ trưởng tôi mấy lần đứng ra chịu nhận tội để cứu bao người mà bọn chúng chẳng chịu tha, cứ việc tàn sát thẳng tay, lôi đi lớp người này rồi đến lớp người khác, nên khi bị dẫn qua đây cụ tự móc họng cho trào máu ra mà chết để khỏi bị đày đọạ Trước khi nhắm mắt cụ còn gượng nói: "Được chết trên cánh đồng đã đẫm mồ hôi ta, thế là quý rồị Chôn ta ở đây cho ta gần gũi với các người". Hơi thở gần tàn cụ 
nói tiếp: "Tội ác là ở lũ vua quan. Tên danh sĩ kia chỉ là cái cớ để chúng vịn vào mà che lấp sự thật. Đừng oán hờn tên danh sĩ. Đáng thương cho nó!". 

Người nông phu dừng lại nghẹn ngào nói tiếp:  
-Nhưng bao nhiêu người khổ ở đây, bao kẻ chết nơi kia, nghĩ còn đáng thương xót gấp trăm ngàn lần!  

Đoạn gục đầu trước mồ khóc thảm thiết.Sinh cũng sụp xuống hòa tiếng khóa theọ  

Bóng đêm xóa nhòa, gió lạnh như từ cõi âm thổi về rung động bờ lau bụi cỏ. Sinh có cảm giác như theo cơn gió, oan hồn của người đã khuất hiện về chứng kiến cho những giọt lệ chảy ra từ một tấm lòng hối hận chân thành. 

Nhà văn Vũ Hạnh 
(Trích trong truyện ngắn Việt nam (1945 - 1985)  
 

Chào cháu Hoà,

Câu hỏi của cháu đặt ra rất hay và cho đến nay chưa có cô bác nào trên diễn đàn trả lời cháu, nên cô trả lời cháu vì duyên khởi cũng do cô đưa câu chuyện này ra.

Có lẽ trước khi trả lời câu hỏi cháu đặt ra, thiết tưởng cô cần tóm lược nội dung câu chuyện.

Nhân vật chính của câu chuyện là Lương Sinh, một nhà văn và nhà thơ nổi tiếng, bị viên quan Tổng Đốc một vùng khéo léo mua chuộc bằng giai nhân, tiệc rượu, thi ca, xướng hoạ và những lời khen ngợi; nên đã dùng ngòi bút của mình làm thơ ca ngợi công đức của ông ấy.  Nhờ những bài thơ của Sinh mà quan Tổng Đốc đã thoát khỏi được cuộc thanh tra của viên Khâm Sai triều đình vì họ tin vào văn thơ của Sinh hơn là những tờ thư tố cáo của người dân lành.  Sau khi viên thanh tra trở về kinh đô, quan Tổng Đốc ra lệnh bắt giết tất cả những người đã tố cáo ông tham nhũng, hà hiếp dân lành.

Trong lúc đó, ở tỉnh lân cận, Sinh bị lâm bệnh nặng, đêm ngày thường nằm mơ thấy vô số oan hồn về báo oán.  Sinh cầm đến bút mực để viết thì mực trở thành mầu máu đỏ tươi bốc lên mùi tanh khủng khiếp.  Sinh không biết nỗi oan trái này từ đâu đến?  Sau nhờ sự phân tách và giảng giải sự việc của người Cậu ruột, Sinh lên đường trở lại vùng viên quan Tổng Đốc cai trị để thăm hỏi sự tình, mới hiểu ra rằng những bài thơ của mình tán thán ca ngợi viên Tổng Đốc đã che chở cho ông ta thoát khỏi cuộc thanh tra và là nguyên nhân gây nên sự giết hại nhiều dân lành.  Sinh hối hận không cùng.

From:  "Nguyen Van Hoa" <nguyenvanhoa@a...> 
Date:  Thu Nov 28, 2002  12

Thưa cá bác,
Cháu đọc câu chuyện <<Bút Máu>> nhưng không được hiểu rõ lắm, có lẽ vì thể văn xưa, như cháu không hiểu chữ quan lệnh trấn hay quan Tổng Đốc là aỉ...có phải là chức Governor bây giờ không? và một điều khác nữa, cháu không hiểu tại sao ông Lương Sinh một nhà thơ làm thơ ca ngợi ông Governor mà lại tạo nghiệp liên quan đến giết hại nhiều ngườị  Cháu nghĩ ông Governor ra lệnh chém giết thì ông ấy đã gieo nghiệp ác thì chính ông ấy sẽ phải lãnh quả chứ, sao lại bắt ông Lương Sinh, một nhà văn thơ chuyên làm thơ  Không lẽ ca ngợi cũng tạo nghiệp hở các bác.  Các bác vui lòng chỉ gìum cháụ Cháu cảm ơn các bác nhiều lắm.
Kính,
Cháu Hòa
 

Cháu Hoà ơi!

Không biết câu chuyện này là thật hay hư cấu, nhưng dù hư hay thật, nó cũng có thể xảy trong bất cứ xã hội nào, thời đại nào.

Lương Sinh, trong câu chuyện, được mô tả là người thông minh, văn thơ, thi phú giỏi, đã từ bỏ nghiệp võ để chọn nghiệp văn vì anh không muốn dính vào nghiệp sát do gươm dao có thể đem đến.  Anh muốn dùng văn chương chữ nghĩa để ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, của tâm hồn con người; nhưng anh đâu biết rằng ngòi bút chứ không phải lưỡi kiếm của anh đã góp phần tạo nghiệp sát hại nhiều người, gây đau khổ tang tóc cho nhiều gia đình.  Quả thật anh không ngờ những bài thơ ca ngợi quan Tổng Đốc của mình đã tác hại nghiêm trọng, không những anh bị bạo bệnh  mà cón là gây chết cho bao người, gây đau thương cho nhiều gia đình.  Thật khó hiểu tại sao?

Lương Sinh, dù vô tình, nhưng có thể do sự thiếu hiểu biết, do tâm trí mê mờ bởi những tiếng khen của quan Tổng Đốc và do ảnh hưởng môi trường chung quanh thu hút bởi ngũ dục....

Tại sao thiếu hiểu biết lại gây nên nghiệp?  Do vì tâm trí của Sinh bị lấp khuất bởi những lời tán tụng của quan Tổng Đốc, nên anh không còn biết đâu là lẽ phải, không nhận biết sự lợi dụng khéo léo của ông ta, không biết tình tình của ông ta và không rõ hoàn cảnh nghèo khổ cơ cực của dân trong vùng; thế mà cứ làm thơ tán thán công đức của quan.

Thiếu trí tuệ, thiếu sự hiểu biết mà hành động dù chỉ bằng ý qua lời thơ cũng tạo thành nghiệp và mỗi nghiệp với duyên phụ trợ, đều có quả báo tương xứng.  Sinh bị mê mờ vì những lời khen của quan Tổng Đốc, cứ tưởng quan Tổng Đốc là tài giỏi anh minh, xứng đáng được chàng ca ngợi đáp lễ mà không biết rằng những lời khen tán dương của mình có thể tạo thành nghiệp.

Ngày xưa, vì được quan khen, quan chiêu đãi,  nên Lương Sinh khoái chí làm thơ khen lại.  Nhưng khen ngợi, tán thán không chân thật nên đã tự mang nghiệp vào mình.  Ngày nay cũng vậy, nhiều người cũng vì danh lợi, cũng vì muốn được người ta khen nên thường ca ngợi lẫn nhau, đâu có biết rằng nếu không có trí tuệ sáng suốt thì ngòi bút của mình sẽ gieo rắc sai lầm cho nhiều người và có thể cho cả những thế hệ mai sau, tuỳ theo sự ảnh hưởng của mình nhiều hay ít đối với cộng đồng xã hội.

Đối với tôn giáo, ảnh hưởng có thể còn nhiều hơn nữa.  Thí dụ một người tự cho mình là Thánh rồi được những người khác thiếu hiểu biết tâng bốc, xưng tán, khen ngợi, và cứ như thế lộng giả thành chân và người đó thấy mình là Thánh thiệt và do đó nói ra những lời sai với chân lý, dẫn dắt những người khác vào con đường tà....Thế là cả người khen và người được khen đều cùng nhau tác nghiệp và chắc chắn không nhân nào mà không sanh quả.  Chỉ còn chờ duyên với thời gian thôi.  Trường hợp của Sinh chỉ tác hại đến việc giết hại một số người, đem tang tóc đến cho một số gia đình, nhưng ở những trường hợp khác, ngòi bút, nếu không dùng những lời chân thật, có thể dẫn dắt con người đi ngược lại chân lý của từ bi trí tuệ, gieo rắc ác tâm cho bao nhiêu người qua nhiều thế hệ mới là những nguy hiểm gấp trăm ngàn lần.

Viết đến đây, cô hy vọng cháu hiểu được nội dung câu chuyện và lý do vì sao mà tiếng khen của Lương Sinh có thể tạo thành nghiệp dẫn đến cái chết của nhiều người và làm đau thương cho nhiều gia đình.  Đó mới chỉ là mối giây liên hệ nhân duyên quả báo của Lương Sinh với quan Tổng Đốc.  Biết đâu có thể còn có thêm những mối nhân duyên quả báo từ kiếp xa xôi nào của vị quan Tổng Đốc đối với những người liên hệ kia.  Thật ra, vấn đề Nhân Quả rất ư là phức tạp.  Nó rất trùng trùng điệp điệp,  chỉ có các bậc giác ngộ mới thấu triệt được mà thôi.  Cô chỉ tạm dùng lời thô thiển nói sơ để cháu tạm hiểu mà thôi. Còn chức Tổng Đốc trong chuyện, có thể bên Trung Hoa dùng để chỉ người đứng đầu một tỉnh hay nhiều tỉnh, tương đương với danh xưng Governor ở Hoa Kỳ cháu ạ.
Chúc cháu nhiều an lạc, học hành tiến bộ để giúp đời giúp đạo.

Thân mến,
Cô Hương Trà
 
 

Kinh Sách và Các Bài Viết Mới Post Lên Mạng Trong Tháng 02-2003
Down Load " Word Document" (WinZip File 233 KB) 
 
 

Các Số Đặc Biệt:
Số Đặc Biệt Mừng Phật Đản
Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Bồ Tát Quảng Đức
Số Đặc Biệt Vu Lan
Số Đặc Biệt Mừng Thích Ca Thành Đạo
Số Đặc Biệt Mừng Xuân
 

2004
401
402
403
404
405
406
407
408
409
410
411
412